Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012 – 2015
Đề Tài:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN LY HÔN
TẠI TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ- THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Giảng viên hướng dẫn:
Thân Thị Ngọc Bích
Bộ môn: Luật Hành Chính
MỤC LỤC
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
Sinh viên thực hiện:
Lâm Hồng Diễm
MSSV: S1200004
Lớp: Luật B2 Đồng Tháp
Khóa: 38
Cần Thơ, 10/ 2014
1
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
2.1.1. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố
tình vắng mặt...........................................................................................................19
2.1.2. Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính
đáng.........................................................................................................................19
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
2
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
2.1.3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng
lực hành vi dân sự..................................................................................................20
2.2. Những vụ án ly hôn không được tiến hành hòa giải........................................22
2.2.1. Yêu cầu đồi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước....................22
2.2.2. Những vụ án ly hôn phát sinh từ giao dịch trái pháp luật và trái
đạo đức xã hội.........................................................................................................23
2.3. Trình tự thủ tục hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa.................................................27
2.3.1. Thông báo về phiên hòa giải...................................................................27
2.3.2. Thành phần phiên hòa giải......................................................................28
2.3.3. Nội dung và phạm vi hòa giải..................................................................29
2.3.4. Trình tự hòa giải......................................................................................31
2.3.5. Biên bản hòa giải.....................................................................................32
2.4. Hậu quả pháp lý của hòa giải vụ án ly hôn......................................................33
2.4.1. Hòa giải thành.........................................................................................34
2.4.1.1. Lập biên bản hòa giải thành.............................................................34
2.4.1.2. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự..............34
2.4.1.3. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự................................................................................................................35
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay tình trạng ly hôn của các cặp vợ chồng trẻ xảy ra rất nhiều, vì những lý
do rất đơn giản như bất đồng ý kiến, có chút mâu thuẩn nhỏ trong gia đình. Con
người hiện nay sống với tư tưởng rất thoáng "hợp thì ở không hợp thì chia tay".
Ngày xưa tình trạng ly hôn xảy ra rất ít, tư tưởng của người xưa còn mang đậm
chất phong kiến, người phụ nữ khi lấy chồng rồi là phải suốt đời theo chồng,
không thoáng như bây giờ. Bên cạnh đó ngày xưa người ta sống với nhau vì tình
nghĩa dú có những cặp hôn nhân không quen biết nhau trước khi kết hôn mà do
người khác mai mối. Dù trong gia đình xó xảy ra mâu thuẩn thì không bao giờ họ
nghĩ đến việc phải bỏ nhau, giận rồi thôi, sau đó lại tiếp tục cuộc sống vui vẽ trong
gia đình. Nhưng hiện nay các cặp vợ chồng xảy ra chút mâu thuẩn là đưa đơn ra
Tòa ly hôn, để tìm kiếm một mối tình khác. Trên thực tế có nhiều người kết hôn
đến hai ban làn nhưng vẫn không tìm được hạnh phúc, không tìm được một người
hợp với mình để sống đến răng long đầu bạc. Hâu quả của những người kết hôn
nhiều lần như vậy chính là những đứa con, những đứa con cùng cha khác mẹ,
những đưa con cùng mẹ khác cha, có người có đến hai ba dòng con, anh em cùng
chung một gia đình nhưng lại không có chung người mẹ. Ngoài ra một hậu quả
khác của việc ly hôn đó chính là những ông bà đã đến tuổi về hưu không còn đủ
sức lao động nhưng cũng phải cồng lưng ra để làm kiếm tiền để nuôi những đứa
cháu vì cha mẹ chúng ly hôn, cha mẹ chúng đi làm an xa không thể nuôi các con
phải gửi cho ông bà nuôi giùm.
Đó là những trường hợp gặp rất nhiều trong cuộc sống hiện nay, để làm giảm bớt
Tìm hiểu những quy định của pháp luật về công tác hòa giải tại Tòa tìm ra những
giải pháp để giúp cho các cặp vợ chồng muốn ly hôn có thể hàn gắn lại được với
nhau. Bên cạnh đó, qua bài viết này người viết mong muốn các cặp nam nữ hiện
nay hãy suy nghĩ thật kĩ trước khi kết hôn, để sau khi kết hôn không phải hối tiết,
vì kết hôn là một chuyện rất đơn giản đủ điều kiện trong luật quy định là hai người
có thể nắm tay nhau đến nơi có thẩm quyền đăng kí kết hôn, nhưng khi ly hôn thì
không đơn giản như khi kết hôn, phải trãi qua những thủ tục rườm rà của quá trình
tố tụng, thì họ mới có thể chấm dứt được mối quan hệ hôn nhân không mong
muốn của họ. Ngoài ra qua bài viết này người viết mong tìm ra những giải pháp có
thể giúp cho công tác hòa giải ngày càng hoàn thiện hơn, hạn chế tình trạng ly hôn
xảy ra ngày càng nhiều làm cho nhiều gia đình bị tan vỡ, để cho những đứa con
của họ không phải sống trong tình trạng tự ti vì cha mẹ của chúng ly hôn.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tất cả các văn bản quy định của pháp luật mà Nhà nước đã ban hành
có liên quan đến công tác hòa giải những vụ án ly hôn, những vấn đề liên quan đến
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
6
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
hòa giải trong ly hôn. Bên cạnh đó cũng nghiên cứu thực tế công tác hòa giải tại
các Tòa, góp phần ngày càng hoàn thiện hơn công tác hòa giải tại Tòa.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp phân tích, đánh
giá, nhận định, so sánh và tổng hợp một cách khách quan về các công tác hòa giải
tại Tòa. Bên cạnh đó cũng tiến hành những chuyến đi thực tế đến các Tòa án để
nay báo chí nói đến rất nhiều…Chính vì tình trạng ly hôn hiện nay rất nhiều cho
nên hòa giải tại tòa trước khi đưa ra tòa xét xử là một vấn đề rất quan trọng, đây là
giai đoạn giúp cho các cặp vợ chồng có thể hàn gắn lại mối quan hệ hôn nhân giúp
cho gia đình tránh được sự đỗ vỡ, con cái có đủ tình thương yêu của cha mẹ mới
có thể phát triển khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần.
1.1. Khái niệm, ý nghĩa hòa giải vụ án ly hôn
1.1.1. Khái niệm hòa giải vụ án ly hôn
Pháp luật luôn ghi nhận và bảo vệ những cuộc hôn nhân hợp pháp, đồng
thời cũng trao quyền được ly hôn cho vợ và (hoặc) chồng khi họ không thế tiếp tục
duy trì quan hệ hôn nhân. Ly hôn không đơn giản chỉ là một thủ tục pháp lý tại
Tòa án mà là một “sự kiện” chứa đựng trong đó không ít những vấn đề nhức nhối
về nguyên nhân và hậu quả...Do đó, hoạt động hòa giải trong ly hôn luôn đóng
một vai trò quan trọng, có ý nghĩa xã hội to lớn.
Ly hôn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, và nhiều khi đó lại là
những nguyên nhân không đáng để người trong cuộc đi đến ly hôn. Có thể quyết
định ly hôn được đưa ra trong cơn nóng giận, bực tức, ức chế của vợ hoặc chồng,
cũng có thể ly hôn xuất phát từ những nguyên nhân...trẻ con của những cặp vợ
chồng chưa tới tuổi trưởng thành...Mặc khác, phía sau mỗi cuộc ly hôn luôn là
những hậu quả, nhiều khi rất nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của
những người trong cuộc và con cái họ. Đó là áp lực của việc một mình kiếm sống,
một mình nuôi con, là “chấn thương tinh thần” hậu ly hôn....Với cuộc ly hôn từ
những nguyên nhân chưa đủ “độ” và hơn hết, tình cảm vợ chồng giành cho nhau
chưa hẳn đã nguội lạnh thì những hậu quả ấy là không đáng có.
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
8
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
gắn quan hệ. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là với những cuộc hôn nhân thực
sự không còn có khả năng cứu vãn thì hoạt động hòa giải tỏ ra..vô tác dụng! Trong
những trường hợp này, hòa giải lại đóng vai trò góp phần giảm thiểu xung đột và
Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp và Hồ Thị Nệ, Những điều cần biết về Luật tố tụng
dân sự, NXB Công an nhân dân, 2001, trang 92
1
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
9
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
mâu thuẩn gay gắt giữa các bên, để cuộc chia tay được diễn ra “êm đẹp”, dù hết
tình nhưng vẫn còn nghĩa; cần giữ lại được uy tín, danh dự cho nhau, con cái vì
thế mà cũng có cái nhìn “thiện cảm” hơn về bố mẹ từ cuộc chia tay của hai người.
Ý nghĩa hòa giải trong vụ án ly hôn cũng giống như ý nghĩa hòa giải trong
các vụ án dân sự gồm có các ý nghĩa sau:
- Tòa án hòa giải thành một vụ án ly hôn thì không cần phải mở phiên tòa
xét xử vụ án, giảm bớt một giai đoạn tố tụng kéo dài và cực kì phước tạp, tiết kiệm
được thời gian và tiền của cho Nhà nước cũng như cho nhân dân.
Như đã nói ở phần trên khi một vụ án được thụ lý để giải quyết, ai cũng muốn
nhanh chống được giải quyết kết thúc sớm. Trong thực tế có những vụ án được
giải quyết nhanh chống ở giai đoạn hòa giải hòa giải nhưng cũng có những vụ án
vì nhiều lý do như nẩy sinh nhiều tranh chấp phước tạp nên phải mở phiên tòa xét
xử mới có thể được giải quyết. Việc hòa giải thành sẽ giúp cho thời gian giải quyết
ly hôn được nhanh chóng, thuận lợi; các bên sẽ không mất nhiều thời gian tới lui
để “hầu” tòa, nếu có tranh chấp về tài sản mà hòa giải thành, các bên chỉ phải mất
thức và hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ dân trí, giáo dục nếp sống và làm
việc theo pháp luật trong nhân dân. Trong trường hợp hòa giải vụ án dân sự không
thành thì việc hòa giải cũng giúp tòa án có điều kiện nắm vững hơn nội dung vụ
án, hiểu biết rõ hơn tâm tư, tình cảm của đương sự cũng như những vướng mắc
trong suy nghĩ của họ, từ đó có thể xác định được đường lối giải quyết vụ án khi
đưa vụ án ra xét xử.
- Ngoài ra hòa giải thành sẽ giúp cho việc thi hành án được dễ dàng thuận
tiện hơn vì: thông thường trong các trường hợp hòa giải thành, các đương sự điều
thi hành với ý thưc tự nguyện cao không cần sự tác động của Nhà nước (cơ quan
thi hành án) việc thi hành án đơn giản, dễ dàng.
Thông qua việc xét xử, kết quả xét xử là do tòa án quyết định, vì vậy với quyết
định của Tòa án thì sẽ có những trường hợp trái ý muốn của một số đương sự, họ
sẽ không đồng ý với kết quả mà Tòa án đã quyết định. Cho nên khi tiến hành thi
hành án sẽ có một số trường hợp không đúng với ý muốn của một số đương sự thì
việc thi hành án sẽ rất là khó khăn, đối với những trường hợp này thì cần phải có
sự tác động của Nhà nước, làm cho việc thi hành án sẽ trở nên khó khăn hơn.
Nhưng khi các đương sự tự thỏa thuận với nhau qua việc hòa giải, đó là những kết
quả mà họ mong muốn, đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của các đương sự nên
họ sẽ tự nguyện chấp hành, không cần đến sự tác động của Nhà nước, sẽ giúp cho
việc thi hành án dễ dang, mau lẹ hơn.
1.2. Các loại hòa giải trong tranh chấp khi ly hôn
1.2.1. Hòa giải tại cơ sở
Trước đây trong vụ án ly hôn pháp luật có quy định bắt buộc phải tiến hành
hòa giải ở cơ sở rồi mới được kiện ở tòa án nhưng theo Điều 5 Luật hòa giải ở cơ
sở năm 2013 thì không quy định hòa giải ở cơ sở là bắt buộc mà chỉ khuyến khích
và trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định không bắt buộc phải
tiến hành hòa giải tại cơ sở rồi mới được đưa đơn kiện lên tòa án.
Điều 86 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “Nhà nước và xã hội
khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải
ở cơ sở được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”. Theo
1.2.2. Hòa giải tại Tòa án
Hòa giải là một hoạt động tố tụng của Tòa án khi tiến hành giải quyết các
vụ án dân sự.
+ Đặt điểm của hòa giải tại Tòa:
Hòa giải trong vụ án ly hôn cũng giống như hòa giải trong các vụ án dân sự nói
chung, có các đặt điểm sau:2
- Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Về nguyên tắc, thủ tục hòa giải phải thực hiện sau khi Tòa án tiến hành điều tra và
trước khi xét xử sơ thẩm, và chỉ sau khi điều tra Tòa án mới có thể nắm được nội
dung vụ án, nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, từ đó mới có điều kiện
Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp và Hồ Thị Nệ, Những điều cần biết về Luật tố tụng
dân sự, NXB Công an nhân dân, 2001, trang 93
2
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
12
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án. Bên cạnh đó cũng
có những trường hợp luật quy định không được tiến hành hòa giải như: hủy hôn
trái pháp luật, đồi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, những việc phát
sinh từ giao dịch trái pháp luật,...
- Khi tiến hành thủ tục hòa giải, Tòa án là người tổ chức, bố trí cho các
đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau; giải thích pháp luật, động viên,
khuyến khích họ hòa giải với nhau và cuối cùng là ghi nhận các ý kiến thống nhất
hoặc không nhất trí về giải quyết vụ án của đương sự thành một văn bản có tính
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
cứ pháp luật để áp dụng, do đó mọi sự thỏa thuận, thương lượng trái với pháp luật
đều không có giá trị.
-Việc hòa giải phải được tiến hành vừa tích cực, vừa kiên trì;
Những người có trách nhiệm không thể coi hòa giải chỉ là một thủ tục hình thức,
lám qua loa đại khái cho xong, nếu như vậy sẽ dẫn đến nhiều vụ án lẽ ra phải được
giải quyết nhanh chống bằng con đường hòa giải, song lại mang ra xét xử , vừa
làm mất thời gian vừa tốn kém vô ích. Tuy nhiên cũng trách tình trạng kéo dài thời
gian một cách tùy tiện, nếu thấy không thể hòa giải được, Tòa án nên chủ động
đưa vụ án ra xét xử để tránh việc lãng phí thời gian.
+ Phương pháp hòa giải tại Tòa:4
Phương pháp hòa giải là những biện pháp cách thức mà Tòa án áp dụng khi tiến
hành hòa giải.
Trước khi hòa giải Tòa án phải tiến hành điều tra nắm vững nội dung vụ án,
nguyên nhân, điều kiện phát sinh vụ án. Phải thích cho các đương sự hiểu pháp
luật áp dụng giải quyết vụ án kết hợp giải quyye61t những vướng mắc trong tư
tưởng tình cảm của họ.
Tòa án cũng có thể kết hợp với chính quyền địa phương, tổ chức xã hội trong việc
hòa giải, Tòa án phải chủ động trong việc hòa giải, nếu thấy có khả năng điều kiện
hòa giải thì Tòa án tổ chức hòa giải không đợi đương sự yêu cầu và có thể tổ chức
hòa giải nhiều lần nếu thấy cần thiết.
Thẩm phán tiến hành hòa giải phải có thái độ khách quan, chí công vô tư, không
áp đặt, cưỡng ép các đương sự. Thẩm phán phải tạo ra điều kiện làm việc thân
mật, thoải mái. Điều này đồi hỏi người Thẩm phán phải là người có kiến thức
pháp luật, có trách nhiệm và tinh thần trách nhiệm cao.
Những quy định trên là thủ tục bắt buộc đối với tất cả những vụ án dân sự
Hòa giải trong vụ án ly hôn nói riêng cũng giống như hòa giải trong các vụ án dân
sự nói chung thì theo Khoảng 1 Điều 180 BLTTDS cũng quy định: "trong thời
hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự
thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trừ những vụ án không được tiến
hành hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 181 và Điều
182 của BLTTDS".
Khác với hoạt động hòa giải ở cơ sở, hòa giải tại Tòa án là một thủ tục bắt
buộc, kể cả khi hai bên thuận tình ly hôn. Trong trường hợp hòa giải đoàn tụ
không thành, các bên đồng ý ly hôn, tòa sẽ hòa giải để các bên thỏa thuận vấn đề
nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản, nợ chung… Nếu các bên thỏa thuận
được, Tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn. Sau bảy ngày kể từ
ngày lập biên bản, nếu các bên vẫn không thay đổi ý kiến, Tòa án sẽ ra quyết định
công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự.
Hòa giải tại Tòa là một thủ tục bắt buộc như đã phân tích ở phần trên. Bên cạnh đó
thì hòa giải tại Tòa ngoài giai đoạn phải hòa giải trước khi tiến hành xét xử Tòa án
phải tiến hành hòa giải co các đương sự, thì đây là giai đoạn bắt buộc, nhưng trong
khi tiến hành xét xử mà các đương sự muốn tự thỏa thuận thương lượng với nhau
thì Tòa án cũng sẽ chấp nhận và sẽ công nhận những thỏa thuận của các đương sự,
và hòa giải giai đoạn này cũng là hòa giải tại Tòa, nhưng hòa giải giai đoạn này thì
luật không bắt buộc, vì đây là sự phát sinh ngoài ý muốn của các đương sự cũng
như của Tòa án, còn tùy thuộc vào sự tiến triễn của vụ án mà Thẩm phán quyết
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
15
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
trong phiên hòa giải này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những đương sự
vắng mặt.
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
16
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
- Quyền thỏa thuận các nội dung trong quá trình hòa giải chính là để cho
các đương sự tự do trình bày ý kiến của mình và các bên đương sự tự thảo luận,tự
giải quyết và thống nhất với nhau chọn ý phù hợp với nguyện vọng của mõi bên,
không bên nào được dùng vũ lực đe dọa uy hiếp đến tính mạng, sức khỏe, dạnh
dự, uy tính, nhân phẩm của bên còn lại để bên kia chấp nhận những phương pháp
giải quyết của mình trong quá trình hòa giải tại Tòa, như vậy là trái quy định của
pháp luật và không được xem là sự tự nguyện, tự do thỏa thuận, không đúng với ý
nghĩa của việc hòa giải mà pháp luật đã quy định. Riêng đối với Thẩm phán,
nhiệm vụ của Thẩm phán trong quá tình hòa giải là phải phân tích những điều luật
liên quan đến vụ án cho các đương sự hiểu các quy định của pháp luật mà có
hướng giải quyết cho đúng với pháp luật, Thẩm phán không được tiết lộ phương
pháp giải quyết của Tòa án. Cho nên, vai trò của Thẩm phán trong giai đoạn hòa
giải khác với vai trò trong giai đoạn xét xử, hòa giải là do chính các đương sự tự
quyết định mọi việc, còn xét xử Thẩm phán dựa vào những chứng cứ để phán xét
các đương sự không có quyền quyết định. Vì vậy mà, hòa giải là giai đoạn mà
pháp luật Việt Nam để cho các đương sự tụ suy xét lại những hành động của mình
và để cho các bên tự ngồi lại với nhau giải quyết những mâu thuẫn của mình, để
cứu vãn những cuộc hôn nhân có thể chưa đi đến kết cục tan vỡ.
1.3.2. Nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái với pháp luật
- Tích cực hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh
chấp.
- Trong quá trình giải quyết vụ án nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì phải
cung cấp tài liệu cho Viện Kiểm sát, khởi tố về hình sự.
- Phải chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không được từ chối
việc giải quyết vụ án được phân công, nếu không có căn cứ từ chối theo quy định
của pháp luật.
Thẩm phán có các quyền hạn sau:
-Triệu tập lấy lời khai của các đương sự;
-Triệu tập lấy lời khai của người làm chứng;
-Ra các quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tạm đình chỉ việc
giải quyết vụ án;
- Quyết định việc ủy thác điều tra, trưng cầu giám định, định giá tài sản;
- Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các bên đương sự, nếu thỏa thuận đó
không trái với quy định của pháp luật và đạo đực xã hội;
- Tham gia Hội đồng xét xử khi được phân công xét xử;
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
+ Thư kí: Thư kí là người giúp việc cho Thẩm phán, phải thực hiện mọi mệnh lệnh
của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án. Có nhiệm vụ quản lý, sắp xếp hồ
sơ vụ án, tống đạt các giấy tờ cho các đương sự và phải làm công tác chuẩn bị mở
phiên Tòa xét xử vụ án theo yêu cầu của Thẩm phán.
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
18
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
quan trọng.
Còn đối với Thư kí là người trực tiếp ghi biên bản các thỏa thuận của các đương
sự, sau đó đưa cho Thẩm phán xem xét lại và cho các đương sự kí tên vì vậy vai
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
19
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
trò của Thư kí trong quá trình hòa giải cũng rất quan trọng là người giúp đỡ và hỗ
trợ cho Thẩm phán trong quá trình hòa giải cho các đương sự.
1.4.2. Chủ thể tham gia hòa giải trong vụ án ly hôn tại Tòa
Chủ thể chính trong quá trình hòa giải trong vụ án ly hôn tại Tòa là các
đương sự. "Đương sự" trong tố tụng dân sự nói chung là cá nhân, pháp nhân, cơ
quan, tổ chức khởi kiện, bị kiện hoặc có quyền, lợi ích liên quan đến các quan hệ
đang tranh chấp.5
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì các đương sự tham gia tố tụng dân
sự phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là
khả năng mà cá nhân, pháp nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các
quyền và nghĩa vụ tố tụng theo pháp luật về tố tụng dân sự quy định.
Trong vụ án ly hôn thì đương sự bao gồm các nguyên đơn và bị đơn và những
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hoặc người đại diện hợp pháp của đương
sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định,
người phiên dịch.
Nguyên đơn là người chồng hoặc người vợ khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
mối quan hệ hôn nhân của họ.
Bị đơn trong vụ án ly hôn là người còn lại bị nguyên đơn khởi kiện.
nhân của họ còn những vấn đề khác thì họ tự giải quyết với nhau không cần sự can
thiệp của Tòa an, trường hợp này thì Tòa án chỉ mở phiên hòa giải để hàn gắn
cuộc hôn nhân của họ, nếu thỏa thuận không thành thì Thẩm phán sẽ ra quyết định
đoàn tụ không thành cho họ ly hôn mà không cần phải đưa ra tòa xét xử. Bên cạnh
đó thì cũng không ít có những trường hợp ly hôn, ngoài việc yêu cầu tòa án chấm
dứt mối quan hệ hôn nhân của họ mà còn giải quyết nhiều vấn đề khác như về tài
sản, nợ chung, trên thực tế thì những trường hợp này gặp rất nhiều, nếu hòa giải
không thành những vấn đề này phải đưa ra tòa xét xử. Do đó ly hôn không chỉ
đơn giản chỉ là giữa hai người mà còn liên quan đến nhiều người khác, vì vậy mà
hòa giải là giai đoạn để cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau, tự giải quyết
những mâu thuẩn tranh chấp, như vậy có thể giải quyết được một cách nhanh
chống như vậy không chỉ tiết kiệm được thời gian cho các đương sự mà còn tiết
kiệm tiền bạc cho họ.
Trong một vụ án ly hôn hòa giải tại Tòa là một thủ tục bắt buộc, đây cũng là một
giai đoạn quan trọng, nếu hòa giải thành sẽ giúp cho tòa án và đương sự giảm đi
một giai đoạn tố tụng phước tạp đó là giai đoạn đưa ra tòa xét xử, bên cạnh đó
cũng giảm được tiền bạc và thời gian của các bên. Hòa giải tại tòa là để cho các
đương sự tự thỏa thuận với nhau, họ tự thương lượng với nhau những vấn đề mà
họ muốn tòa án giải quyết. Cho nên cho dù họ có thể hàn gắn hoặc không thể hàn
gắn mối quan hệ của họ thì những gì mà họ đã thỏa thuận sẽ đáp ứng được nguyện
vọng của họ và làm giảm đi những mâu thuẩn dù thực tế họ không còn là vợ
chồng.
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
21
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
22
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM
Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự
Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ gửi thông báo triệu tập các đương sự đến
Tòa án để tiến hành hòa giải nếu bị đơn trong vụ án ly hôn vắng mặt thì phiên hòa giải
sẽ bị hủy bỏ và phải tiến hành một cuộc hòa giải khác.
Sau khi được triệu tâp lần thứ 1 bị đơn không đến, Tòa án sẽ tiến hành mở phiên
hòa giải thứ 2, lần thứ 2 nếu bị đơn tiếp tục không đến thì Thẩm phán sẽ ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử. Sau hai lần triêu tập để cho các bên tự thỏa thuận với nhau nhưng
bị đơn cố tình không đến, chứng tỏ bị đơn không muốn hòa giải, vì vậy tòa án có
quyền đưa vụ án ra Tòa xét xử, nhưng nếu trong quá trình xét xử mà các bên muốn hòa
giải, tự thỏa thuận được với nhau thì Tòa án vẫn chấp nhận sự thỏa thuận của các
đương sự, nếu các thỏa thuận đó đúng theo pháp luật và không trái với đạo đức xã hội.
2.1.2. Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng.
Trường hợp Tòa án triệu tập các đương sự đến tòa để tiến hành hòa giải nhưng
một trong các đương sự có lý do chính đáng không thể đến tòa án để tham gia hòa giải
được thì Tòa án phải hủy phiên hòa giải,và Tòa án phải thông báo tiến hành mở một
cuộc hòa giải khác, cũng giống như trường hợp trên nếu đương sự vắng mặt lần thứ hai
không thể tham gia hòa giải thì Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra Tòa xét xử. Nhưng
đối với trường hợp này cũng có một số trường hợp ngoại lệ, theo quy định tại khoản 3
Điều 184 thì trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các
đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải, và việc hòa giải đó không ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa
các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả
các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải. Thẩm phán thông
nộp đơn xin ly hôn giùm cho người bị mất năng lực hàn vi dân sự được. Cho nên,
trường hợp "đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người bị mất năng
lực hành vi dân sự" thì Tòa án không tiến hành hòa giải mà phải đưa vụ án ra Tòa
xét xử, với quy định này thì người khởi kiện là người vợ hoặc chồng là người
không bị mất năng lực hành vi dân sự, và người bị khởi kiện là người bị mất năng
lực hành vi dân sự. Vì luật hiện nay chưa quy định là người bị mất năng lực hành
vi dân sự được quyền nhờ người khác hoặc có thể tự khởi kiện ra Tòa xin ly hôn.
Ví dụ:
Anh Nguyễn Văn A và chị Trần Thị C kết hôn được 5 năm, và có cháu trai 4 tuổi.
2 năm trước anh A trên đường đi làm về, anh bị tai nạn giao thông dẫn đến chấn
thương sọ não. Hiện sức khỏe anh không được tốt và mất khả năng nhận thức nên
không thể tiếp tục công việc trước đây. Tron khi đó chị C vẫn còn trẻ nên muốn ly
hôn để chuẩn bị cho cuộc sống mới, và chị C đã quyết định ly hôn.6
Theo như ví dụ trên thì chị C vẫn có quyền ly hôn. Để được Tòa án nhân
dân cấp có Thẩm quyền chấp nhận đơn ly hôn của chị C thì cị phải làm thủ tục
tuyên bố anh A là người bị mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 1 Điều 22 của
6
Người
bị
mất
năng
lực
hành
sự, lúc này chị C sẽ là người giám hộ đượng nhiên của anh A, theo khoản 1 Điều
62 Bộ luật dân sự. Đồng thời khi thaam gia vào các quan hệ pháp luật, cị C cũng là
người đại diện theo pháp luật của anh A theo khoản 2 Điều 141 của Bộ luật dân sự
Khi chị C nộp đơn ra Tòa làm thủ tục xin ly hôn với anh A, chị C sẽ không còn
làm người đại diện tham gia tố tụng cho anh A khi chính chị C có yêu cầu ly hôn.
Do đó, khi Tòa án thụ lý vụ án ly hôn theo yêu cầu của chị C thì căn cứ vào Điều
76 Bộ luật TTDS Tòa án sẽ chỉ định người đại diện: "Trong khi tiến hành tố tụng
dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lựa hành vi dân sự mà không có
người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 1Điều 75 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định
người đại diện để tham gia tố tụng tại Tòa án". Do đó, người thay mặt anh A tham
gia giải quyết việc ly hôn tại Tòa tron trường hợp này, do Tòa án quyết định, trên
cơ sờ đảm bảo được tốt nhất quyền lợi và lợi ích cho anh A. Nhưn điểm khác biệ
của vụ án ly hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự là sau khi thụ lý, tòa án
sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử mà không qua thủ tục hòa giải như các vụ án ly
hôn thông thường theo khoản 3 Điều 182 của Bộ luật TTDS.
Vì vậy trong vụ án ly hôn đương sự là vợ hoặc chồng mà bị mất năng lực
hành vi dân sự thì Tòa án không thể tiến hành hòa giải vì người mất năng lực hành
vi dân sự họ không thể kiểm soát được hành vi của mình, không thể làm chủ được
bản thân, tinh thần của họ không được minh mẩn, họ không thể quyết định được
vấn đề của họ, không thể tự thỏa thuận để giải quyết những mâu thuẫn. Do đó vụ
án ly hôn rơi vào trường hợp này Tòa án phải tiến hành đưa vụ án ra Tòa xét xử,
và quyền lợi của người bị mất nâng lực hành vi dân sự phải được bảo vệ.
2.2. Những vụ án ly hôn không được tiến hành hòa giải
GVHD: THÂN THỊ NGỌC BÍCH
25
SVTH:LÂM HÒNG DIỄM