Tài liệu Báo cáo " Vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự" - Pdf 10



Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 43

vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ
vụ án trong Tố tụng hình sự

Vũ Gia Lâm *
ình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án là
những quyết định tố tụng mà các cơ
quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thể
ra trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự. Theo chúng tôi, để phân biệt giữa đình
chỉ điều tra và đình chỉ vụ án theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành có thể dựa trên ba phơng diện cơ
bản, đó là: Thời điểm ra quyết định; thẩm
quyền ra quyết định và căn cứ ra quyết
định. Nếu xét trên ba phơng diện này thì
vấn đề đặt ra là các quy định có liên quan
trong luật tố tụng hình sự của Nhà nớc ta
đ thật sự rõ ràng, đầy đủ, chặt chẽ và
đảm bảo tính thống nhất giữa các chế
định luật tố tụng hình sự, giữa luật tố tụng
hình sự với luật hình sự và đ đáp ứng
đợc với yêu cầu thực tiễn hay cha?
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật hình sự
(BLHS) cũng nh tham khảo những tình
huống thực tế xuất hiện trong quá trình

2
3. Trong trờng hợp đợc quy định tại
đoạn 1 khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự
thì cơ quan điều tra ra quyết định đình
chỉ điều tra vụ án và có thể chuyển giao
hồ sơ cho cơ quan Nhà nớc hoặc tổ
chức x hội xử lí.
Theo quy định trên thì cơ quan điều
tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra
khi có một trong ba căn cứ đ nêu. Tùy
từng trờng hợp cụ thể mà có thể ra quyết
định đình chỉ điều tra ở các thời điểm
khác nhau. Chẳng hạn, nếu đ hết thời
hạn điều tra mà không chứng minh đợc
bị can đ thực hiện tội phạm thì cơ quan
điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra;
nếu xác định đợc các căn cứ còn lại thì
có thể ra quyết định đình chỉ điều tra vào
chính thời điểm đ phát hiện các căn cứ
đó mà không cần xem xét đến vấn đề thời
* Giảng viên Khoa t pháp

Trờng đại học luật Hà Nội
Đ
ĐĐ
Đ


cách đơn thuần mà chủ yếu phụ thuộc vào
việc cơ quan điều tra có làm rõ đợc
những điều kiện mà pháp luật quy định
làm căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự
hay không? Và muốn làm rõ đợc những
điều kiện đó thì rõ ràng phải bằng cách
tiến hành các hoạt động điều tra. Vậy khi
tiến hành điều tra đ xác định đợc các
điều kiện cần thiết để miễn trách nhiệm
hình sự và có cơ sở chắc chắn để khẳng
định họ là đối tợng cần đợc miễn trách
nhiệm hình sự, cơ quan điều tra có quyền
ra quyết định đình chỉ điều tra hay
không?
Trên thực tế còn tồn tại một số quan
điểm khác nhau về vấn đề này. Có ngời
cho rằng truy cứu trách nhiệm hình sự
hay không là quyền của viện kiểm sát chứ
không thuộc quyền của cơ quan điều tra.
Vì viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực
hiện quyền công tố nhà nớc và truy cứu
trách nhiệm hình sự là hình thức thực
hiện quyền công tố nói trên. Do vậy, chỉ
viện kiểm sát mới có quyền quyết định
miễn hay không miễn trách nhiệm hình
sự đối với ngời phạm tội. Quan điểm
khác cho rằng hình thức thực hiện quyền
công tố nhà nớc chính là quyết định truy
tố ngời phạm tội (bằng bản cáo trạng)
khi đ kết thúc điều tra. Nếu không khởi

trong trờng hợp đó cơ quan điều tra Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 45

cũng có quyền quyết định miễn trách
nhiệm hình sự cho ngời phạm tội và ra
quyết định đình chỉ điều tra. Vì thế, theo
chúng tôi nên sửa đổi khoản 3 Điều 139
BLTTHS bằng cách bỏ hai từ đoạn 1 và
nh vậy, điều luật này sẽ đợc quy định
nh sau:
3. Trong trờng hợp đợc quy định
tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự thì cơ
quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều
tra vụ án và có thể chuyển giao hồ sơ cho
cơ quan nhà nớc hoặc tổ chức x hội xử
lí.
Việc vụ án đợc khởi tố theo yêu cầu
của ngời bị hại (Điều 88 BLTTHS)
nhng khi tiến hành điều tra, ngời này
lại rút đơn yêu cầu khởi tố đ gây lúng
túng cho cơ quan điều tra vì luật không
quy định đây là căn cứ để ra quyết định
đình chỉ điều tra. Trờng hợp lí do rút
đơn yêu cầu khởi tố của ngời bị hại là
chính đáng, hoàn toàn tự nguyện và vụ án
cũng không ở vào trờng hợp "cần thiết"
tiến hành tố tụng nh quy định tại khoản

2. Trong trờng hợp ngời bị hại rút
yêu cầu khởi tố trớc ngày mở phiên tòa
thì vụ án phải đợc đình chỉ.
Trong trờng hợp cần thiết, tuy ngời
bị hại rút yêu cầu khởi tố nhng cơ quan
điều tra, viện kiểm sát, tòa án vẫn có thể
tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Và để phù hợp với Điều 88 đ đợc
bổ sung thì cần thêm vào Điều 139
BLTTHS một trờng hợp nữa làm căn cứ
để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ
điều tra. Theo chúng tôi, nên quy định
thêm vào khoản 1 Điều 139 BLTTHS
trờng hợp ngời bị hại rút yêu cầu khởi
tố khi đang tiến hành điều tra vụ án.
Khoản 1 Điều 139 BLTTHS sẽ có nội
dung nh sau:
1. Cơ quan điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra trong những trờng hợp
sau đây:
a) Có một trong các căn cứ quy định
tại điều 89 Bộ luật này.
b) Đ hết thời hạn điều tra mà không
chứng minh đợc bị can đ thực hiện tội
phạm.
c) Ngời bị hại rút yêu cầu khởi tố
trong giai đoạn điều tra.
2. Quyết định đình chỉ vụ án của
viện kiểm sát
Theo quy định tại Điều 142 BLTTHS,

ra quyết định đình chỉ. Nếu ngời này rút
yêu cầu khởi tố trong giai đoạn truy tố
của viện kiểm sát và không ở vào "trờng
hợp cần thiết" thì đơng nhiên viện kiểm
sát có quyền ra quyết định đình chỉ. Do
đó, theo chúng tôi, khoản 1 Điều 143b
cần đợc bổ sung thêm căn cứ đình chỉ vụ
án nh sau:
1. Viện kiểm sát ra quyết định đình
chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy
định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc
Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3
Điều 59 BLHS hay trờng hợp ngời bị
hại rút yêu cầu khởi tố trớc khi viện
kiểm sát truy tố.
3. Quyết định đình chỉ vụ án của
tòa án
Trong phần này, chúng tôi đề cập
quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Giai đoạn
xét xử sơ thẩm bắt đầu từ thời điểm tòa
án nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng
từ viện kiểm sát chuyển sang. Trong thời
hạn luật định, tòa án thực hiện hai công
việc quan trọng là chuẩn bị xét xử và tiến
hành mở phiên tòa để xét xử vụ án. Theo
quy định tại Điều 151 và Điều 173
BLTTHS về thời hạn chuẩn bị xét xử và
về việc ra bản án, quyết định của tòa án
thì quyết định đình chỉ vụ án có thể đợc

có thể là quyết định đình chỉ vụ án. Mặc
dù quy định về thẩm quyền nghiên cứu
hồ sơ nh trên là cha chặt chẽ, dễ dẫn
đến sự hiểu lầm là trong mọi trờng hợp
chỉ có thẩm phán đợc phân công chủ tọa
phiên tòa mới có quyền và nghĩa vụ
nghiên cứu hồ sơ vụ án trớc khi xét xử Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 47

còn những thẩm phán khác (trong trờng
hợp hội đồng xét xử sơ thẩm gồm nhiều
thẩm phán) không có trách nhiệm nghiên
cứu hồ sơ. Thực tế, nếu không nghiên cứu
hồ sơ trớc khi xét xử thì không thể xét
xử có hiệu quả đợc. Việc quy định cho
thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền
quyết định đình chỉ vụ án là khẳng định
vị trí của ngời thẩm phán đó trong thành
phần hội đồng xét xử. Vấn đề là thẩm
phán ra quyết định đình chỉ vụ án dựa vào
những căn cứ nào? Theo chúng tôi, quy
định về căn cứ để thẩm phán ra quyết
định đình chỉ vụ án tại Điều 155 BLTTHS
hiện hành chỉ bao gồm các trờng hợp
quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều
89 BLTTHS là cha đầy đủ vì các lẽ sau:
Thứ nhất: Trong thời hạn nghiên cứu

xử mà ngời bị hại rút yêu cầu thì đó là
căn cứ để thẩm phán ra quyết định đình
chỉ vụ án. Nhng thực tiễn lại đặt ra vấn
đề phức tạp là ngời bị hại có quyền rút
yêu cầu khởi tố bao nhiêu lần? Giả sử họ
đ rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn truy tố
(không đợc viện kiểm sát chấp nhận),
đến giai đoạn xét xử họ lại rút yêu cầu
cầu khởi tố và việc rút yêu cầu đó là
chính đáng và hoàn toàn tự nguyện thì tòa
án có chấp nhận để đình chỉ vụ án không?
Theo chúng tôi, quy định về khởi tố vụ án
theo yêu cầu của ngời bị hại chủ yếu
nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho
ngời này, do vậy họ có thể rút yêu cầu
khởi tố bất cứ lúc nào (trong tất cả các
giai đoạn tố tụng nh khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử sơ thẩm). Họ rút yêu cầu ở
bất kì giai đoạn tố tụng nào thì cơ quan
tiến hành tố tụng cũng đều phải xem xét
để quyết định chấp nhận hay bác bỏ việc
rút yêu cầu, nếu việc rút yêu cầu của họ
không đợc chấp nhận trong giai đoạn
này họ có thể thực hiện quyền đó ở giai
đoạn tiếp sau miễn là việc rút yêu cầu đó
thực hiện trớc khi mở phiên tòa sơ thẩm.
Thứ ba: Điều 156 BLTTHS quy định
viện kiểm sát rút quyết định truy tố trớc
khi mở phiên tòa và đề nghị tòa án đình
chỉ vụ án khi thấy có căn cứ quy định tại

thẩm phán nghiên cứu hồ sơ với kiểm sát
viên sẽ giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Thiết nghĩ, nếu cần đình chỉ vụ án theo
quyết định rút truy tố của viện kiểm sát
thì chỉ cần có sự nhất trí giữa thẩm phán
và kiểm sát viên là đủ, do vậy nên quy
định thẩm phán có quyền ra quyết định
đình chỉ vụ án trong trờng hợp này.
Ngoài ra, có sự bất hợp lí trong quy
định tại Điều 155 BLTTHS. Sự bất hợp lí
này không rơi vào quy định về đình chỉ
vụ án mà ở trong quy định về căn cứ ra
quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử. Chúng tôi muốn đề
cập vấn đề này vì nội dung của Điều 155
lại quy định về hai quyết định đình chỉ và
tạm đình chỉ vụ án mà thẩm phán có thể
đa ra.
Về quyết định tạm đình chỉ vụ án,
Điều 155 BLTTHS quy định: "Thẩm phán
ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có
căn cứ quy định tại Điều 135 ". Điều
135 BLTTHS quy định 3 căn cứ để cơ
quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ
điều tra, đó là:
a) Bị can mắc bệnh tâm thần hoặc
bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của
hội đồng giám định pháp y;
b) Cha xác định đợc bị can;
c) Không biết rõ bị can đang ở đâu.

b. Quyết định đình chỉ vụ án tại phiên tòa
Theo quy định tại Điều 173 BLTTHS về
việc ra bản án và quyết định của tòa án
thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết
định đình chỉ vụ án thành văn bản sau khi
thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
(Xem tiếp trang 54)


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status