CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA
ÁN
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
CỘNG HÒA XÃ
NGHĨA VIỆT NAM
TÒA DÂN SỰ
Độc
– Tự do – Hạnh phúc
Quyết định giám đốc thẩm
Số: 20/2007/DS-GĐT
Ngày: 9/7/2007
Vụ án: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
CHỦ
lập
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Với Hội đồng giám đốc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940;
- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938;
- Ông Mẫn và Phấn cùng cư trú tại nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành
phố Hồ Chí Minh.
NHẬN THẤY
Tại đơn khởi kiện ngày 6/4/1998 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,
Công ty Du lịch Phú Yên trình bày:
Ngày 10/8/1995, Công ty Du lịch Phú Yên (sau đây gọi tắt là Công ty Phú Yên)
ký hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá số 29/HĐUT của Công ty Trách nhiệm
hữu hạn thương mại Thịnh Phúc (sau đây gọi là Công ty Thịnh Phúc) nhập khẩu 11 xe
ô tô tải chuyên dùng (đã qua sử dụng) với giá 90.000 USD. Công ty Phú Yên đã nhập
về 06 xe ô tô do Hàn Quốc sản xuất, trị giá 50.000 USD và giao cho Công ty Thịnh
Phúc, Công ty Thịnh Phúc đã ký quỹ trước 5.000 USD. Số tiền còn lại là 45.000 USD
sẽ phải thanh toán trong thời hạn 180 ngày.
Ngày 27/11/1995, tại Phòng công chứng số 2 thành phố Hồ Chí Minh, ông Mạc
Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn ký cam kết thế chấp căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2,
quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (thuộc quyền sở hữu của ông Mẫn, bà Phấn) để bảo
lãnh cho Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út đại diện, thực hiện hợp đồng uỷ thác
nhập khẩu số 29/HĐUT nêu trên. Ông Út (bên được bảo lãnh) với ông Mẫn và bà Phấn
(người thế chấp) cam kết: “Trường hợp đáo hạn mà Công ty Thịnh Phúc không trả đủ
nợ, lãi cho Công ty Phú Yên để thanh lý hợ đồng trên, chúng tôi đồng ý cho Công ty
Phú Yên phát mãi nhà nói trên để trừ nợ, lãi và chi phí liên quan đến lô hàng mà không
tranh chấp, khiếu nại gì.”
Tại “Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ” ngày 31/1/1998 giữa Công ty Phú
Yên với Công ty Thịnh Phúc, Công ty Thịnh Phúc xác nhận đến ngày 31/1/1998 còn
nhập 6 chiếc xe ô tô chứ không bảo lãnh các việc khác; vợ chồng bà không nợ Công ty
Phú Yên nên koong có trách nhiệm gì với số nợ của ông Út đối với Công ty Phú Yên.
Tại quyết định chuyển vụ án số 14/CH-KT ngày 26/8/1999, Toà án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh xác định thoả thuận ngày 31/1/1998 giữa hai bên ký kết với
nhau nhằm xác định công nợ, mang tính dân sự, không phải là tranh chấp hợp đồng
kinh tế mà là tranh chấp dân sự và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 Toà án nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc. Do ông Vưu Út làm
Giám đốc, trả cho Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên số nợ còn thiếu của hợp đồng uỷ thác
số 29/HĐUT ngày 10/8/1995 là 989.086.247 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu, tám
mươi sáu ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Kê biên căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh
thuộc sở hữu của ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là tài sản thế chấp, để đảm
bảo thi hành số tiền ở Điều 1 ở trên. Số tiền còn lại trong quá trình phát mãi nhà thì
ông Mẫn và bà Phấn được nhận.
Nếu ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn trả nợ cho Công ty Du lịch Phú Yên ,
thay Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, số tiền 989.086.247 đồng
theo Điều 1 ở trên thì Công ty Du lịch Phú Yên phải trả giấy tờ nhà 62 Dạ Nam,
phường 2, quận 8 cho ông Mẫn – bà Phấn, các giấy tờ bản chính gồm:
- Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 172/GP-UB ngày 1/3/1989.
- Bản vẽ hiện trạng nhà.
- Tờ khai chuyển dịch tài sản nộp thuế trước bạ ngày 18/3/1993.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
4
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Trú tại: 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8.
2. Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ kiện và tính án phí khi lý do tạm đình chỉ
không còn.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
5
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
Ngày 5/9/2005, bà Phấn kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh không xét xử mà ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án à không
thoả đáng, là thiệt thòi cho vợ chồng bà.
Tại Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 31/12/2005, Toà phúc thẩm
Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Huỷ quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án số 32/2005/QĐ-TĐCDS
ngày 20/4/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữa:
Nguyên đơn: Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940
- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938
2. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theo
trình tự sơ thẩm và theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Tại Công văn số 363/CV-TDS ngày 27/2/2006, Toà án nhân dân thành phố Hồ
quyết vụ án theo quy định của pháp luật (tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm có
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu).
Như vậy, Thẩm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm để
xét xử vụ án vào ngày 31/3/2003; sau đó Thẩm phán Hồ Trung Hiếu lại tham gia Hội
đồng xét xử lại vụ vào ngày 30/12/2005, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, theo
quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà Giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị
Hội đồng Thẩm phán Toá án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà
án nhân dân tối cao.
XÉT THẤY
Theo quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Thẩm phán, Hội
thẩ nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ đã tham gia xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó.
Thảm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia xét xử phúc thẩm vụ án vào ngày
31/3/2003 và ngày 30/12/2005 lại tham gia xét xử phúc thẩm về cùng một vụ án tranh
chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là
Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng.
Vì lẽ trên, căn cứ vào khoản 3, Điều 297; khoản 3 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
QUYẾT ĐỊNH
1. Huỷ Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 30/12/2005 của Toà án
phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp
đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là Công ty
Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại; theo đúng quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI
_________
Bản án số: 45/2014/DSPT
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày 17/3/2014
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán TAND tối cao - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Việt;
Các Thẩm phán TAND tối cao: Ông Lê Thanh Bình;
Ông Đặng Bảo Vĩnh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú, cán bộ Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị
Thanh Tâm, Kiểm sát viên.
Trong c¸c ngày 14 và 17 tháng 3 năm 2014 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số
48/2013/DS-TLPT ngày 12 tháng 11 năm 2013 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tiền.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2013 của Tòa án
nhân dân thành phố Hải Phòng bị cáo kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 455/2014/QĐ-PT ngày 6 tháng 3 năm 2014 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Phạm Tuấn Anh, Trưởng phòng xử lý nợ hội sở; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Lê Huy, Nhân viên phòng xử lý nợ hội sở; có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt.
- Ông Mai Xuân Trọng, Chuyên viên phòng xử lý nợ hội sở; có mặt.
- Bà Tăng Thị Liên, Trưởng nhóm cao cấp khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ
chi nhánh Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN THẤY
Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn là ông Lê Văn Hòa
cùng vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã cho Công ty TNHH Tân Thành Yến (sau
đây gọi tắt là Công ty Tân Thành Yến) vay từ năm 2009 đến nay tổng cộng số tiền đã
vay là 18.000.000.000 đ (mười tám tỷ đồng chẵn) để mua xe ô tô kinh doanh taxi.
Theo hợp đồng thì Công ty Tân Thành Yến phải trả hết cả gốc và lãi trong thời hạn
36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày 15/11/2009. Nhưng đến nay đã quá thời hạn trả
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
10
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
nợ theo cam kết, Công ty Tân Thành Yến không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và còn
trốn tránh trách nhiệm trả nợ.
Số tiền Công ty Tân Thành Yến vay được cam kết trả nợ bằng toàn bộ số xe ô
tô mà Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại chi nhánh Ngân hàng MHB Hải
Phòng. Ngày 02/5/2012 Công ty Tân Thành Yến ký hợp đồng ủy quyền cho ông Lê
Văn Hòa hoàn thành việc thanh toán tiền vay ngân hàng và nhận lại bản chính các
11
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải
chịu tiền phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền lãi chậm trả.
Bắt đầu tính từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán nợ lãi quá hạn.
Các kỳ trả nợ gốc: bên vay phải trả gốc cho bên ngân hàng theo định kỳ 01
tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/8/2010, tổng cộng 36 kỳ, mỗi
kỳ trả 80.000.000 đồng, kỳ cuối cùng trả 100.000.000 đồng.
Các kỳ trả nợ lãi: bên vay phải trả lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần
vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/8/2010.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 22 xe ô tô hình thành từ món vay của
VPBank có hợp đồng thế chấp tài sản riêng.
Hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 23/8/2011, số tiền vay
2.800.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay thanh toán tiền mua 20 xe
ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT.
Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 23%/năm. Lãi suất
cho vay điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12
tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ
10%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Khoản nợ lãi quá hạn sẽ
phải chịu phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền chậm trả và số
ngày chậm trả. Bắt đầu từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán hết nợ
lãi quá hạn.
Bên vay phải trả lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào các ngày 15,
kỳ hạn trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/9/2011, tổng cộng 36 kỳ, số tiền gốc bên vay
Tân Thành Yến: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có vay và còn nợ tiền vợ chồng ông
Lê Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt. Cụ thể 04 lần vay như sau: lần thứ nhất
vay 200.000 USD tương đương 4.000.000.000 VNĐ vào tháng 3/2010. Lần thứ hai vay
500.000.000 đồng khoảng tháng 3/2011. Lần thứ ba vay 100.000 AUD tương đương
2.100.000.000 VNĐ. Lần thứ 4 vay 4.400.000.000 đồng là tiền ông Hòa bà Nguyệt bán
đất cho vay vào tháng 4/2012. Cộng tất cả Công ty Tân Thành Yến vay của vợ chồng
ông Hòa bà Nguyệt là 11.000.000.000 đồng. Kể từ khi vay tiền của ông Hòa bà Nguyệt,
Công ty Tân Thành Yến đã nhiều lần trả nợ, hàng tháng kế toán công ty đều trả vào
tài khoản 10922224602068 của ông Hòa tại ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải
Phòng mỗi tháng 40-50 triệu đồng, ngoài ra mỗi lần bà Nguyệt về nước Công ty còn trả
trực tiếp cho bà Nguyệt để mua quà cáp tặng người thân. Tổng cộng Công ty đã trả 4 - 5
tỷ đồng, đến nay Công ty chỉ còn nợ vợ chồng ông Hòa khoảng 5 - 6 tỷ đồng. Do chứng
từ bị mất nên phía bị đơn không thể cung cấp cho Tòa án được.
Hợp đồng vay tiền do ông Hòa, bà Nguyệt lập sau ngày hai bên đã cho nhau
vay tiền. Lúc đó Công ty đang trong tình trạng khó khăn, nhiều chủ nợ truy đòi, tinh
thần tôi bị hoảng loạn, ông Hòa bà Nguyệt ép buộc tôi phải ký trên xe ô tô ở khu vực
Bến Bính, tôi không đọc nội dung hợp đồng, không biết số tiền ghi trên hợp đồng là
bao nhiêu, nay được biết số tiền trên hợp đồng là 18.000.000.000 đồng tôi không
chấp nhận khoản nợ này.
Đối với khoản nợ của VPBank: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có ký hai hợp
đồng vay tiền của VPBank chi nhánh Hải Phòng. Tuy nhiên, theo hợp đồng tín dụng
ký giữa Công ty với VPBank thì các khoản vay đến thời điểm VPBank khởi kiện đều
chưa đến hạn. Thời hạn vay của hai hợp đồng đều là 36 tháng, thời hạn của hợp đồng
tín dụng LD 1019700080 ngày 16/7/2010 đến ngày 16/7/2013 mới đến hạn, còn hợp
đồng tín dụng LD 1123500034 ngày 23/8/2011 đến ngày 23/8/2014 mới đến hạn.
Trước đó, có lúc có khoản vay đã bị chuyển nợ quá hạn nhưng Công ty đã lần lượt
thanh toán hết nợ quá hạn. Đến nay Công ty không còn nợ quá hạn nên không chấp
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
13
một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là
6.185.499 đồng là khoản nợ còn lại của hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày
23/8/2011, Công ty TNHH Tân Thành Yến phải chịu các khoản lãi suất được quy
định trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
3. Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợ
còn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh
Vượng - chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung. Sau khi hoàn thành
nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thạnh Vượng - Chi nhánh Hải Phòng Phòng giao dịch Quang Trung có trách nhiệm bàn giao cho ông Lê Văn Hòa toàn bộ
giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô con là tài sản thế chấp
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
14
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
tại ngân hàng (có danh sách kèm theo). Ông Lê Văn Hòa trở thành chủ sở hữu đối
với 42 chiếc xe ô tô nói trên, Công ty TNHH Tân Thành Yến có nghĩa vụ bàn giao 42
chiếc xe ô tô nói trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa để đối trừ nợ.
4. Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
653/2013/QĐ-BPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
để đảm bảo cho việc thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng còn quyết định về án phí và
tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/9/2013 bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến có đơn kháng cáo với nội
dung hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 09/9/2013 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP
Việt Nam Thịnh Vượng có đơn kháng cáo với nội dung sửa bản án sơ thẩm.
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
Yến hoặc ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt không trả nợ thay cho Ngân
hàng toàn bộ số tiền gốc, lãi phát sinh thì Ngân hàng VP Bank có quyền đề nghị Cơ
quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 42 xe ô tô theo các hợp đồng
thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Tòa án cấp sơ
thẩm và phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm,
nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý
do sau: Việc ban hành quyết định áp dụng biện pháp tạm thời số
653/2013/QĐBPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
chưa tuân thủ các quy định của pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm đưa Ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng tham gia vụ kiện với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công
khai tại phiên tòa; lời trình bày, tranh luận của các đương sự và quan điểm giải quyết
vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
XÉT THẤY
Xét kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yên và kháng cáo của Ngân
hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng với nội dung trờn, Hội đồng xét xử thấy: Đối
với nội dung kháng cáo của bị đơn cho rằng giấy ủy quyền của vợ chồng ông Lê
Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh không có công chứng, chứng thực là không hợp
pháp. Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật dân sự thì: Đại diện theo ủy quyền là đại
diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện,
hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật có quy định ủy
quyền phải lập thành văn bản. Việc ủy quyền của vợ chồng ông Lê Văn Hòa cho bà
Nguyễn Thị Ninh đã được thực hiện bằng văn bản và tại phiên tòa sơ thẩm ông Lê
Nguyễn Thị Minh Nguyệt với Công ty TNHH Tân Thành Yến được hai bên thỏa
thuận, ký kết tại phòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng vào ngày 27/4/2012
do Công chứng viên Nguyễn Nhật Quang chứng nhận. Chủ thể tham gia ký kết hợp
đồng vay tiền này là những người có đủ năng lực trách nhiệm dân sự và nội dung
của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong quá trình giải quyết vụ
án, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của công chứng viên Nguyễn Nhật Quang,
ông Quang cũng khẳng định việc công chứng hợp đồng trên được thực hiện tại
Phòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng là hợp pháp đúng quy định của pháp
luật.
Mặt khác, ngoài hợp đồng vay tiền thể hiện khoản vay 18.000.000.000 đồng của
Công ty TNHH Tân Thành Yến, thì còn nhiều các tài liệu khác như: Biên bản họp
hội đồng thành viên ngày 25/4/2012 của Công ty TNHH Tân Thành Yến thống nhất
vay của ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt số tiền 18.000.000.000 đồng;
và tại Biên bản giữa Công ty TNHH Tân Thành Yến và ông Lê Văn Hòa ngày
24/4/2012 trong đó có nội dung: “Công ty TNHH Tân Thành Yến có vay của ông Lê
Văn Hòa số tiền 18.000.000.000 đồng. Nay do điều kiện khó khăn không có điều
kiện trả nợ đúng hạn cho anh Hòa, vì vậy bằng biên bản này Công ty nhất trí gán nợ
cho anh Hòa 72 xe ô tô đang thế chấp tại Ngân hàng VP Bank”.
Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở xác định Công ty
TNHH Tân Thành Yến đã vay của vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh
Nguyệt số tiền 18.000.000.000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ
pháp luật.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
17
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
sở đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của vợ chồng ông Hòa, Tòa án
cấp sơ thẩm đã ra Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời trong đó có nội dung: cấm
chuyển dịch 42 xe ô tô là tài sản thế chấp của Công ty TNHH Tân Thành Yến tại
Ngân hàng VP Bank. Do đó Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng thấy việc giải
quyết vụ án có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình và đề nghị Tòa án
đưa Ngân hàng VP Bank vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập và Ngân hàng VP Bank đã nộp tiền tạm
ứng án phí là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
18
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
“Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi
kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và
được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan
đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào
tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án
phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan”. Do đó việc Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng tham gia tố tụng trong
vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan là hoàn toàn đúng
pháp luật.
- Đối với nội dung yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
đã lập biên bản xác nhận: “Công ty Tân Thành Yến vay của ông Lê Văn Hòa
18.000.000.000đồng, do khó khăn về kinh tế không có điều kiện trả nợ, bằng biên
bản này Công ty nhất trí gán nợ cho ông Hòa toàn bộ số xe thuộc quyền sở hữu của
Công ty hiện đang thế chấp tại VPBank chi nhánh Hải Phòng. Để thực hiện việc
gán nợ ngày 02 tháng 5 năm 2012 bà Nguyễn Thị Yến giám đốc Công ty TNHH
Tân Thành Yên và ông Lê Văn Hòa đã ký hợp đồng ủy quyền (có chứng thực của
phòng công chứng số 3 thành phố Hải Phòng, do công chứng viên Nguyễn Nhật
Quang chứng nhận), theo hợp đồng ủy quyền này thì Công ty TNHH Tân Thành
Yến đã ủy quyền cho ông Lê Văn Hòa được quyền thay mặt Công ty TNHH Tân
Thành Yến hoàn thành việc thanh toán các nghĩa vụ được bảo đảm tại Ngân hàng
TMCP Việt Nam Thịnh Vượng Chi nhánh Hải Phòng- Phòng giao dịch Quang
Trung. Nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cùng với
thông báo giải tỏa các tài sản tại Ngân hàng. Làm thủ tục xóa đăng ký thế chấp tại
các cơ quan có thẩm quyền. Quản lý, sử dụng, khai thác công dụng của tài sản, giải
quyết các tranh chấp dân sự liên quan nếu có. Lập và ký kết hợp đồng bán tài sản
cho người mua, với giá mua bán và các điều khoản khác do ông Lê Văn Hòa toàn
quyền quyết định”.
Hội đồng xét xử thấy: Đối với biên bản gán nợ và hợp đồng ủy quyền trên là
hợp pháp, thể hiện rõ ý chí của hai bên, trước khi bà Yến đại diện ký các hợp đồng
trên thì Công ty TNHH Tân Thành Yến cũng đã họp và ra nghị quyết nhất trí các nội
dung ủy quyền và giao cho bà Nguyễn Thị Yến đại diện Công ty ký hợp đồng ủy
quyền với ông Lê Văn Hòa. Việc ủy quyền trên đã được đại diện Ngân hàng TMCP
Việt Nam Thịnh Vượng là ông Vũ Văn Tùng - Giám đốc chi nhánh VPBank tại Hải
Phòng đồng ý tại công văn số 26/CV ngày 26/4/2012 của Công ty TNHH Tân Thành
Yến gửi Ngân hàng.
Như vậy nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng từ Công ty
TNHH Tân Thành Yến đã được chuyển giao cho ông Lê Văn Hòa. Ông Lê Văn Hòa
có trách nhiệm thanh toán trả nợ ngân hàng và được quyền nhận lại các giấy tờ gốc
pháp khẩn cấp tạm thời, Hội đồng xét xử thấy: trên cơ sở đơn yêu cầu của vợ chồng ông
Hòa, bà Nguyệt cùng các tài liệu chứng cứ khác, xác định Công ty TNHH Tân Thành
Yến có vay và nợ tiền vợ chồng ông Hòa với số tiền 18.000.000.000 đồng. Theo như
đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của vợ chồng ông Hòa, bà Nguyệt thì
Công ty TNHH Tân Thành Yến đã vi phạm cam kết, trả tiền cho ngân hàng, nhận lại
giấy tờ và tự bán 32 chiếc xe ô tô đã gán nợ cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa, không trả
nợ cho ông Lê Văn Hòa. Việc làm trên của Công ty TNHH Tân Thành Yến trực tiếp
ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của vợ chồng ông Lê Văn Hòa. Vì vậy Tòa án cấp
sơ thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 99, khoản 1 Điều 100, Điều 109, Điều 110 và Điều
117 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là có căn
cứ và đúng pháp luật. Để bảo đảm cho việc thi hành bản án đúng pháp luật, bảo vệ
quyền lợi hợp pháp cho các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tiếp tục duy trì
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên là phù hợp. Do đó không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Tân Thành Yến và kháng cáo của Ngân
hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng về vấn đề trên.
Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn cho rằng bà Nguyễn Thị Ninh là người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn trước đây có nhiều năm công tác ở Tòa án nhân
dân thành phố Hải Phòng nên có mối quan hệ thân thiết với ông Trần Văn Nhiên chủ
tọa phiên tòa, vì vậy việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm không được vô tư, khách
quan. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy: trong quá trình giải quyết vụ án Hội đồng
xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật nên
yêu cầu của bị đơn nêu ra không có căn cứ chấp nhận.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
21
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
TNHH Tân Thành Yến không trả xong khoản nợ trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa
thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất của số tiền chậm trả theo lãi suất cơ
bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Công ty TNHH Tân Thành Yến phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh
Vượng - tại chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung 1.006.692.166 đồng
(một tỷ, không trăm không sáu triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn một trăm sáu mươi
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
22
Bộ môn LTTDS&HNGĐ
Học kỳ I_Năm học 2017-2018
sáu đồng). Trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng là
khoản nợ còn lại của hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 23/8/2011, Công ty
TNHH Tân Thành Yến phải chịu các khoản lãi suất được quy định trong các hợp
đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
3. Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợ
còn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh
Vượng - chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung. Sau khi hoàn thành
nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi nhánh Hải Phòng Phòng giao dịch Quang Trung có trách nhiệm bàn giao cho vợ chồng ông Lê Văn
Hòa toàn bộ giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô con là tài
sản thế chấp tại ngân hàng (có danh sách kèm theo). Ông Lê Văn Hòa và bà Nguyễn
Thị Minh Nguyệt trở thành chủ sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô nói trên, Công ty
TNHH Tân Thành Yến có nghĩa vụ bàn giao 42 chiếc xe ô tô nói trên cho vợ chồng
ông Lê Văn Hòa để đối trừ nợ.
4. Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
653/2013/QĐ-BPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Các thẩm phán
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa
Đã ký
Đã ký
Đặng Bảo Vĩnh
Lê Thanh Bình
Trần Ngọc Việt
--------------------------------------------------------------------------------------------------Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VPT I - VKSNDTC;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP Hải Phòng;
(Đã ký)
- TAND TP Hải Phòng;
- Cục THA DS TP Hải Phòng;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu HS.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
Trần Ngọc Việt
24
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2014/KDTM-ST ngày
09/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 325/2015/QĐ-PT ngày 20
tháng 8 năm 2015 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Bà Đoàn Thị Nguyệt, sinh năm 1961;
Bà Bùi Thị Ghim, sinh năm 1963;
Bà Mai Thị Đến, sinh năm 1963.
- Cùng địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng; các bà Nguyệt, bà Ghim, bà Đến đều có mặt.
Đề cương thảo luận môn Luật tố tụng dân sự
25