Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
MỤC LỤC
Trang
Mục lục …………………………………………………………………. .1
I – Nguyên tắc chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham
gia - một số lý luân cơ bản…………………………………………… 2
1. Cơ sở pháp lý……………………………………………………….2
2. Cơ sở lý luận……………………………………………………… 3
3. Cơ sở thực tiễn …………………………………………………… 3
4. Ý nghĩa của nguyên tắc………………………………………….…4
5. Nội dung của nguyên tắc……………………………………….….6
II – Nguyên tắc chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân
tham gia – thực trạng và giải pháp…………………………… ….6
1. Thực trạng thực hiện nguyên tắc chế độ xét xử có Hội
thẩm nhân dân tham gia……………………………………………7
1.1 Về sự phối hợp giữa Thẩm phán và Hội thẩm……………… 7
1.2 Về vấn đề tổ chức – quản lý Hội thẩm ………………… … 7
1.3 Về vấn đề nghiên cứu hố sơ vụ án………………………… … 8
1.4 Về thành phần của hội thẩm trong xét xử. ………………….…8
1.5 Về trách nhiệm của hội thẩm nhân dân………………….….….9
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc
chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia…………….… … 9
Tài liệu tham khảo……………………………………………………13
LỚP NO3 – TL2 – NHÓM 01
1
Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
BÀI LÀM
Nguyên tắc là “ Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt
việc làm” ( Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, năm 2003 ). Nguyên tắc của Luật
tố tụng dân sự Việt nam là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng
và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật
định trong các ngành luật tố tụng: tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, đây là
nguyên tắc bắt buộc chung buộc tuân thủ trong mọi phiên tòa. Trong tố tụng dân sự
nguyên tắc này được cụ thể hóa tại các điều 42, 52, 222, 236 và các điều luật khác
có liên quan trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các luật khác có liên quan.
2 . Cơ sở lí luận
Xuất phát từ chế độ xã hội của nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên
công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Thực hiện chế độ xét xử
có hội thẩm tham gia không những tạo điều kiện cho mọi người tham gia công việc
của nhà nước, bảo đảm thực hiện dân chủ trong tố tụng dân sự mà còn tạo điều kiện
cho tòa án giải quyết đúng đắn vụ án dân sự. Việc đưa hội thẩm nhân dân vào Hội
đồng xét xử chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử.
Pháp luật là những khuôn mẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng
thuận theo tỷ lệ mà xã hội chấp thuận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt
đối, cho nên pháp luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp
dụng chung cho mọi trường hợp. Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm
xã hội có giá trị áp dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội
và có thể thay thế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày. Do đó, cần
có những tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính
quyết định đối với một quan hệ xã hội nào đó.
3. Cơ sở thực tiễn
Quá trình hình thành và hoàn thiện nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội
thẩm nhân dân tham gia trải qua một thời gian khá dài trong lịch sử. Nguyên tắc
này bước đầu được pháp luật việt nam ghi nhận và quy định lần đầu tiên tại điều 65
hiến pháp năm 1946: “Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để
LỚP NO3 – TL2 – NHÓM 01
3
Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu
là việc đại hình” với quy định như vậy thì nguyên tắc này chưa được quy định rõ
ràng vai trò và thẩm quyền của hội thẩm, đến hiến pháp năn 1980 thì nguyên tắc
thể tham gia một cách đúng đắn và hợp lý, thì Tòa án phải thực sự công tâm, không
chỉ đơn thuần chỉ là hiểu biết về pháp luật mà còn phải có một kiến thức xã hội sâu
rộng nhằm hiểu được bản chất của vấn để và giải quyết vụ án một cách đúng đắn và
thấu tình đạt lý. Bản chất của dân sự là thỏa thuận, vì vậy, trong phiên tòa, với kiến
thức thực tiễn về xã hội của mình, hội thẩm nhân dân có thể đưa ra những ý kiến
mang tính nhân dân, hài hòa quyền và lợi ích chính đáng của đương sự.
Thứ hai, đảm bảo tính khách quan khi giải quyết vụ việc. Quy định này đảm bảo
được tính công bằng trong xét xử, dung hòa trách nhiệm giữa thẩm phán và hội
thẩm, đảm bảo tính công bằng, công tâm trong xét xử vụ án. Việc tham gia của hội
thẩm nhân dân vào quá trình xét xử làm cho quá trình xử án được nhanh chóng và
thuận lợi hơn và nâng cao tính chính xác trong quá trình xét xử. Môt vụ việc khi chỉ
có một chủ thể giải quyết sẽ khó đảm bảo được tính khách quan hơn khi có nhiều
chủ thể tham gia và đóng góp ý kiến. Vì vậy, pháp luật nước ta đã quy định Hội
thẩm nhân dân tham gia vào quá trình xét xử, nhằm đảm bảo tính khách quan cho
quá trình xét xử.
Thứ ba: Ngăn chặn hành vi gian lận trong tố tụng. Khi thực hiện hành vi tố tụng
dân sự, để đảm bảo cho quá trình xét xử được đảm bảo tính khách quan, không có
gian lận trong quá trình xét xử, pháp luật phải quy định một thành phần tham gia
vào quá trình xét xử bên cạnh Thẩm phán và có quyền ngang bằng với Thẩm phán
để quá trình xét xử được công bằng và khách quan hơn, nếu một mình thẩm phán
thực hiện xét xử thì khó tránh trường hợp xử sai do một số lý do chủ quan. Thẩm
phán có thể lợi dụng quyền của mình để làm khó đương sự và xử sai so với thực tế
khách quan, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia tố tụng.
Vì vậy việc quy định Hội thẩm nhân dân tham gia vào quá trình xét xử nhằm ngăn
chặn các hành vi gian lận trong tố tụng không chỉ là của các cơ quan xét xử mà còn
của đương sự và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
LỚP NO3 – TL2 – NHÓM 01
5
Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Ngoài việc tham gia vào quá trình xét xử các vụ án dân sự, việc tham gia vào
cập và cần hoàn thiện hơn nữa về mặt luật pháp cũng như nhữngđảm bảo về thực
tiễn thực hiện.
1. Thực trạng thực hiện nguyên tắc chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân
tham gia
1.1 Về sự phối hợp giữa Thẩm phán và Hội thẩm.
Hầu hết các cán bộ hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật đều đề cập tới
một vấn đề bức xúc hiện nay đó là vấn đề trình độ, kiến thức pháp luật của Hội
thẩm, mối quan hệ lỏng lẻo giữa Tòa án và Hội thẩm, thái độ thụ động của Hội
thẩm trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án. Thực tế cho thấy trong quá trình chuẩn bị
phiên tòa sơ thẩm, Tòa án thường mất khá nhiều công sức để mời được Hội thẩm vì
phần lớn họ là những người kiêm nhiệm, từ chối tham gia phiên tòa do bận công
tác, bận họp…, thực tế này chỉ ra thiếu đi mối quan hệ chặt chẽ giữa Tòa án và Hội
thẩm, Hội thẩm không rõ lịch xét xử của Tòa án, và ngược lại Tòa án không nắm
được lịch công tác của Hội thẩm dẫn đến một tình trạng đó là Hội thẩm thường
xuyên tham gia xét xử là những vụ cán bộ hưu trí, những vị cán bộ công chức
không giữ chức vụ lãnh đạo, quanh quẩn chỉ có mấy vị Hội thẩm tham gia thường
xuyên và thậm chí có vị suốt cả nhiệm kỳ không th am gia xét xử một lần nào.
1.2 Về vấn đề tổ chức – quản lý Hội thẩm.
Hiện nay việc tổ chức và quản lý Hội thẩm chỉ nằm trên giấy tờ ( qua lý lịch
trích ngang), dù có quy chế Tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhưng chưa thực
sự quan tâm tới hoạt động xét xử của Hội thẩm. Có trường hợp phải hoãn phiên
Tòa vì không có Hội thẩm, mà không có Hội thẩm thì không thể tiến hành xét xử
được; có trường hợp Tòa án phải “bốc” Hội thẩm vào phiên xét xử một cách vội vã,
cho có, cho đủ thành phần – Hội thẩm như vậy, không trao đổi được với Thẩm
phán những vấn đề khúc mắc về pháp luật áp dụng, khi xét xử làm sao đảm bảo
được sẽ ngang quyền với Thẩm phán, làm sao độc lâp với Thẩm phán? Kiến thức
chuyên môn về pháp luật của họ vẫn còn rất hạn chế, nội dung vụ án còn chưa nắm
LỚP NO3 – TL2 – NHÓM 01
7
Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
hội thẩm nhân dân là ba và thẩm phán là hai. Như vậy số lượng hội thẩm nhân dân
luôn đông hơn số lượng thẩm phán hơn nữa trình độ pháp lý của hội thẩm nhân dân
không cao, do đó vấn đề hội đồng xét xử theo đa số sẽ không khách quan
1.5 Về trách nhiệm của hội thẩm nhân dân.
Theo Quy chế về tổ chức và hoạt động hội thẩm toà án nhân dân, mặc dù có quy
định trách nhiệm của hội thẩm nhân dân tại điều 11: 1.Hội thẩm chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp
luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật bãi nhiệm hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”, nhưng những quy định
như vậy thực chất là hình thức và thiếu thực tiễn.
Như đã trình bày trên, hình thức cao nhất trong việc truy cứu trách nhiệm của hội
thẩm nhân dân mặc dù là truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng quy định này hoàn
toàn thiếu các căn cứ pháp lý. Cụ thể là: Mục đích và yêu cầu đối với hội thẩm
nhân dân như quy định pháp luật hiện nay, việc đòi hỏi trình độ của họ giống như
thẩm phán và áp dụng đúng pháp luật là thiếu cơ sở. Vì yêu cầu đối với hội thẩm
nhân dân là chỉ hiểu pháp luật chứ không phải chuyên gia về pháp luật trong vụ án
mà họ tham gia xét xử.
Ở khía cạnh thực tiễn, các nhà làm luật đã nhầm lẫn vai trò xét xử của thẩm
phán và vai trò nhận định xã hội của các hội thẩm nhân dân đối với vụ án, do đó
việc yêu cầu hội thẩm nhân dân xét xử vụ án là hoàn toàn thiếu cơ sở thực tiễn, vì,
họ không được đào tạo qua lớp các chức danh tư pháp và đại học luật để có thể biết
được các kỹ năng áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử.
2, Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc chế độ xét xử có Hội
thẩm nhân dân tham gia
Trước thực trạng trên, các nhà làm luật nên xây dựng cụ thể các quy định về Hội
thẩm để nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của hội thẩm trong qua trình tố tụng
đúng như bản chất của nguyên tắc xét xử có Hội thẩm tham gia. Sau đây là một số
ý kiến của nhóm tác giả về vấn đề này:
LỚP NO3 – TL2 – NHÓM 01
LỚP NO3 – TL2 – NHÓM 01
10
Bài tập nhóm tháng số 1 Môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
nhiệm lại đùn đẩy giữa Thẩm phán và Hội thẩm. Hiện nay trách nhiệm của Thẩm
phán thì quy định đã rõ, nhưng trách nhiệm của Hội thẩm thì chưa quy định rõ
ràng, còn mập mờ và thiếu thực tiễn áp dụng.
Cần có chế độ đãi ngộ về vật chất cũng như tinh thần hợp lý hơn nữa đối với
Hội thẩm khi tham gia phiên tòa để tạo động lực cho Hội thẩm khi tham gia xét xử
và thực hiện tốt nhiệm vụ quyền hạn của mình
Cần nghiên cứu, xem xét các quy định về Hội thẩm để sớm sửa đổi các quy định
của pháp luật về chế định Hội thẩm theo hướng đưa trách nhiệm của Hội thẩm như
với Thẩm phán trong phiên tòa để từ đó có sự phối hợp cũng như nâng cao trách
nhiệm của Hội thẩm trong công tác xét xử, phải có bộ phận theo dõi, kiểm tra, đôn
đốc công tác xét xử của Hội thẩm để hoạt động của Hội thẩm ngày càng hiệu quả
hơn nữa.
Việc xác định ai là Hội thẩm tham gia xét xử phải được thưc hiện ngay khi tòa
án nhận hồ sơ thụ lý vụ án, và sau đó hội thẩm phải được tham gia các quá trình tố
tụng như thẩm phán: nghiên cứu hồ sơ, thu thập chưng cứ, xem xét tài liệu cùng với
thẩm phán, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, có như vậy, hội thẩm mứi
có thời gian nghiên cứu hồ sơ, biết rõ hơn về vụ án để co những quyết định đung
đắn và thực hiện tôt viêc ngang quyền với thẩm phàn trong quá trình xét xử.
Hiện nay cũng có nhiều ý kiến cho rằng nên việc bỏ chế định Hội thẩm mà thay
vào đó là một chế định khác mà vẫn đảm bảo tính nhân dân trong hoạt động xét xử,
tuy nhiên với đặc điểm của nước ta hiện nay, cần tiếp tục duy trì chế định Hội
thẩm, và đặc biệt đổi mới chế định này để nâng cao hơn nữa năng lực chuyên môn
và kỹ năng xét xử cho Hội thẩm.
KẾT LUẬN
Nguyên tắc xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân là một nguyên tắc
có lịch sử lâu dài, trải qua một thời kỳ dài của lịch sử lập hiến của nước ta, được
ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản trong xét xử của Tòa án, thể hiện sự tham gia