Luân văn tốt nghiệp: Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CAM ĐOAN iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
HƯU TRÍ 3
1.1. Chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội 3
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí 3
1.1.2. Vai trò của chế độ hưu trí 7
1.2. Nội dung cơ bản của chế độ hưu trí 9
1.2.1. Mục đích của chế độ hưu trí 9
1.2.2. Đối tượng tham gia và thụ hưởng của chế độ hưu trí 10
1.2.3. Điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí 10
1.2.4. Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí 12
1.3. Quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí 13
1.3.1. Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí 13
i
1.3.2. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí 14
1.4. Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước trên thế giới và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam 19
1.4.1. Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước 19
1.4.1.1. Thái Lan 19
1.4.1.2. Trung Quốc 21
1.4.1.3. Hoa Kỳ 23
1.4.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 27
1.4.2.1. Hoàn thiện hệ thống hưu trí cơ bản, hướng tới xây dựng hệ thống hưu
trí đa trụ cột 27

3.2. Một số ý kiến đề xuất để hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí 66
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc làm
cơ sở cho việc thực hiện tốt chế độ này 67
iii
3.2.2. Quản lý chặt chẽ đối tượng đang nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí
bắt buộc 68
3.2.3. Hoàn thiện cơ chế thu - chi bảo hiểm xã hội 70
3.3.4. Tăng cường kiểm tra giám sát đối với người sử dụng lao động 71
3.3.5. Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội đến các tầng lớp
nhân dân 71
3.3.6. Giải quyết triệt để tình trạng nợ đọng 72
3.2.7. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
73
PHẦN KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên tác giả : Nguyễn Hữu Thọ
Sinh ngày : 08/04/1987
Mã học viên : CH190216
Đề tài Luận văn : Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội
hưu trí bắt buộc ở Việt Nam
Luận văn trên là kết quả nghiên cứu độc lập của riêng tôi, trên cơ sở phân
tích đánh giá tình hình từ cơ sở số liệu được sự cho phép của Bảo hiểm xã hội Việt
iv
Nam và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Các nội dung được trích dẫn trong
luận văn có nguồn gốc rõ ràng và có chú thích cụ thể.
Nếu vi phạm lời cam đoan này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy
định của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội./.

Bảng 2.3. Số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam
(2006 - 2011)
40
Bảng 2.4. Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo thành
phần kinh tế (2006 - 2011)
42
Bảng 2.5. Tình hình thu quỹ bảo hiểm xã hội và Quỹ hưu trí và tử tuất ở
Việt Nam (2006 - 2011)
44
Bảng 2.6. Tình hình nợ đọng của các đơn vị sử dụng lao động (2006 -
2011)
46
Bảng 2.7. Số người hưởng lương hưu (2006 - 2011) 47
Bảng 2.8. Số người hưởng trợ cấp chế độ hưu trí từ NSNN và từ quỹ
BHXH ở Việt Nam (2006 - 2011)
48
Bảng 2.9. Quy mô chi trả chế độ hưu trí (2006 - 2011) 50
Bảng 2.10. Tình hình chi trả lương hưu cho các đối tượng hưởng lương
hưu hàng tháng, một lần và BHXH một lần ở Việt Nam (2006 - 2010)
50
Bảng 2.11: Lương hưu bình quân của NLĐ được chi trả từ quỹ BHXH. 51
Bảng 2.12: Cân đối thu chi quỹ hưu trí và tử tuất 2007 - 2011 53
vii
Danh mục hình
Hình Trang
Hình 1.1. Tỷ lệ tham gia các quỹ hưu trí công ty 26
Hình 2.1: Tỷ lệ số người đóng bảo hiểm xã hội trên một người hưởng
lương hưu giai đoạn 1996 - 2011
52
Hình 2.2. Cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 54

Chương 2: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở
Việt Nam.
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất về tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã
hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam.
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí
Chương này tóm lược sự ra đời và phát triển của BHXH trên thế giới cũng
như chế độ BHXH hưu trí bắt buộc ở Việt Nam, nội dung cơ bản của chế độ hưu trí
và một số kinh nghiệm quốc tế, bài học đối với Việt Nam.
BHXH xuất hiện đầu tiên ở Đức. BHXH hiện đại được thực hiện trên cơ sở
mô hình BHXH của Đức và đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin,
rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, BHXH đã được phổ biến sang các nước vừa giành được độc lập ở
Châu á, Châu Phi và vùng Caribê, tuỳ theo điều kiện KTXH của mỗi nước. Đến
nay, BHXH đã phát triển không ngừng và rất đa dạng mang những đặc trưng của
từng nước hoặc từng khu vực.
Ở Việt Nam, BHXH xuất hiện vào những năm 1930, bảo vệ cho các đối
tượng làm việc trong chính quyền thực dân Pháp, do chính phủ thực dân chu cấp.
Tới những năm 1995, căn cứ vào việc thể chế hoá các chủ trương, quan điểm
của Đảng và Nhà nước được ghi nhận trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng,
các quy định của Bộ luật Lao động liên quan tới BHXH, Chính phủ, Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội và liên Bộ ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tư
hướng dẫn thực hiện chính sách chế độ BHXH. Trong đó, có 2 văn bản pháp luật
chủ đạo là Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành
x
Ngày 29/6/2006, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bảo
hiểm xã hội, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong thể chế hóa các quy định,
hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nâng cao
tính hiệu quả trong thực thi chế độ, chính sách về BHXH. Với việc ban hành và
thực thi chính sách BHXH theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì hệ thống chế
độ, chính sách về BHXH đối với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và những

quy định tuổi nghỉ hưu muộn.
BHXH hưu trí định kỳ được áp dụng đối với NLĐ, đã có thâm niên tham gia
BHXH (hoặc thâm niên công tác) là 30 năm và ít nhất là 15 năm. Mức hưởng bảo
hiểm hưu trí, được quy định theo một tỷ lệ nhất định so với thu nhập trước đó, của
NLĐ và tối thiểu là 40%. Các trường hợp có thời gian tham gia BHXH hoặc thời
gian lao động thực tế ngắn sẽ bị giảm mức trợ cấp. Mức giảm cũng phụ thuộc vào
thâm niên đó.
Quan nghiên cứu kinh nghiệm hệ thống hưu trí các nước Thái Lan, Trung
Quốc, Hoa Kỳ, Luận văn cũng đã rút ra được một số bài học đối với Việt Nam:
- Hoàn thiện hệ thống hưu trí cơ bản, hướng tới xây dựng hệ thống hưu trí đa
trụ cột
Kinh nghiệm các nước cho thấy việc thiết kế hệ thống hưu trí đa trụ cột là
cần thiết. Ngân hàng thế giới vào năm 1998 đã khuyến nghị hệ thống hưu trí ba trụ
cột và mới đây đã kiến nghị hệ thống hưu trí 5 trụ cột. Việc nghiên cứu kinh nghiệm
quốc tế và cơ sở lý luận của việc thiết kế hệ thống hưu trí của Ngân hàng thế giới là
hết sức hữu ích cho Việt Nam.
- Thực hiện bảo hiểm hưu trí đối với người lao động ở nông thôn
Chính sách BHXH ở Việt Nam có những điểm tương đồng có thể học tập
kinh nghiệm của Trung Quốc bằng cách thiết kế một cơ chế linh hoạt giữa BHXH
xii
hưu trí bắt buộc và BHXH hưu trí tự nguyện. Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích người
nông dân tham gia vào hệ thống, từng bước mở rộng đối tượng của chế độ hưu trí.
Trước kia, từ năm 1999 đến năm 2009, Việt Nam đã thí điểm mô hình
BHXH nông dân ở Nghệ An đạt được thành tựu đáng kể về khía cạnh đối tượng
tham gia. Tuy mô hình đã khép lại nhưng những kinh nghiệm thực tế đó là một bài
học sâu sắc để có thể tìm ra những bước đi phù hợp hơn trong thời gian tới.
- Đa dạng hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội hưu trí
Bảo hiểm xã hội nói chung, chế độ hưu trí nói riêng ở Việt Nam đang được
coi là một dịch vụ công phi lợi nhuận do nhà nước thực hiện (thông quan Bảo hiểm
xa hội Việt Nam). Tuy nhiên, có một số hạn chế đã được thừa nhận trong thực tế

Chương 2: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt
Nam.
Chương II Luận văn tập trung đánh giá chính sách BHXH hưu trí bắt buộc ở
Việt Nam, kết quả thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011 và một số đánh giá cơ bản,
chỉ ra một số hạn chế và nguyên nhân của nó.
* Về chế độ BHXH hưu trí bắt buộc ở Việt Nam:
Người lao động tham gia chế độ hưu trí chính là người lao động tham gia
BHXH bắt buộc, là công dân Việt Nam, bao gồm: (i) Người làm việc theo hợp đồng
lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở
lên; (ii) Cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang và
(iii) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc.
Tính đến thời điểm năm 2011, mỗi NLĐ tham gia đóng 7% mức tiền lương,
tiền công hàng tháng vào Quỹ hưu trí và tử tuất, NSDLĐ đóng cho người lao động
13%. Khi hết tuổi lao động, có trên 20 năm đóng góp, người lao động được hưởng
xiv
lương hưu hàng tháng. Mức lương hưu tối đa nhận được bằng 75% mức bình quân
tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.
* Về tình hình triển khai thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011:
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tăng dần qua từng năm, từ 6,88 triệu
người năm 2006 lên 10,1 triệu người năm 2011, tương ứng 46,52% và số đơn vị sử
dụng lao động cũng tăng dần, từ 127.991 đơn vị lên 218.408 đơn vị, tương ứng
70,64%. Mốc thời điểm khi Luật BHXH có hiệu lực năm 2007 thì số đối tượng
tham gia tăng lên đáng kể, từ 6.88 triệu người năm 2006 lên 8,34 triệu người năm
2007, tăng 21,25%. Khối HCSN, Đảng, Đoàn, LLVT và khối DN NQD là hai thành
phần có số lao động tham gia BHXH chiếm đa số, cụ thể khối HCSN chiếm tỷ trọng
trung bình khoảng 37%, khối DN NQD chiếm tỷ trọng trọng trung bình 23%.
Cùng với sự tăng lên của số lượng đối tượng tham gia BHXH thì số đối
tượng hưởng chế độ hưu trí cũng tăng lên, đặc biệt là trong xu thế già hóa dân số
như hiện nay. Từ khi thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, đối tượng hưởng lương hưu
tăng đều trong giai đoạn 2007 - 2011, từ 84.860 người năm 2006 tăng lên 112.256

hoặc biện pháp tăng thu hoặc giảm chi thì số thu BHXH trong năm và số tồn tích
bắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả, các năm sau đó số chi lớn hơn rất nhiều so
với số thu trong năm.
* Một số hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế về chính sách bảo hiểm hưu trí
Theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật bảo hiểm xã hội hiện hành thì
tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi còn đối với một số trường hợp
khác thì mức quy định là thấp hơn từ 5 đến 10 tuổi trong khi đó tuổi thọ trung bình
của nước ta hiện nay là trên 73 tuổi, so với độ tuổi này thì tuổi nghỉ hưu là thấp.
Điều này khiến lương hưu được hưởng sẽ không cao do thời gian đóng chưa dài,
hơn nữa việc này sẽ tạo sức ép lên vấn đề chi trả của quỹ BHXH.
- Hạn chế về quy định thời gian đóng
xvi
Luật Bảo hiểm xã hội sau này đã quy định lao động nữ chỉ cần 25 năm đóng
BHXH cũng có thể được hưởng tỷ lệ tối đa là 75% vì cứ thêm 1 năm kể từ năm thứ
16 trở đi được tính thêm 3%. Quy định này đã tạo điều kiện cho nhiều lao động nữ
có thể hưởng tỷ lệ hưởng tối đa khi nghỉ hưu nhưng nó lại tạo ra sự bất bình đẳng
mới giữa hai nhóm lao động nam và nữ có cùng số năm đóng BHXH, tuy nhiên về
mặt thời gian đóng vẫn còn bất cập giữa khu vực trong nước và khu vực dân doanh,
FDI. Khi nhiều hiệp hội doanh nghiệp vẫn chỉ ra rằng nhà nước có xu hướng thiên
vị hơn đối với đối tượng người lao động làm việc trong khối doanh nghiệp nhà nước
trước đây, như vậy là chưa phù hợp với nguyên tắc quan trọng của chế độ bảo hiểm
xã hội là nguyên tắc đóng, hưởng.
- Hạn chế về chính sách bảo hiểm xã hội một lần
Theo quy định tại Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội, tại điều các điều kiện
hưởng BHXH một lần gồm:
+ Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ hai mươi năm đóng
bảo hiểm xã hội;
+ Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm
đóng bảo hiểm xã hội;

nghiệp chưa có tổ chức công đoàn.
- Nguyên nhân hạn chế từ mặt chính chưa thật sự hấp dẫn khuyến khích
NLĐ tham gia BHXH (một số quy định trong việc giải quyết chế độ, chính sách còn
có sự bất cập, thủ tục giấy tờ còn phiền hà ).
- Nguyên nhân tình trạng nợ đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội: do cơ quan
BHXH tỉnh không quản lý được toàn bộ số lao động phải tham gia BHXH bắt buộc
trên địa bàn nên không thể dự báo được nguồn thu dẫn đến tình trạng thất thu, nợ
đọng còn phổ biến.
xviii
- Bên cạnh đó, công tác thanh tra, phối hợp để kiểm tra liên ngành tại các đơn vị
sử dụng lao động còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp (có cả doanh nghiệp Nhà nước) vi
phạm pháp luật về lao động, khai giảm quỹ lương để trốn nộp BHXH nhưng không bị xử
lý.
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất về tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội
hưu trí bắt buộc ở Việt Nam.
Trong Chương 3, tác giả phân tích xu hướng phát triển BHXH nói chung và
BHXH hưu trí bắt buộc nói riêng đến năm 2020 và đưa ra một số đề xuất nhằm thực
hiện tốt hơn chế độ BHXH hưu trí bắt buộc.
* Xu hướng phát triển BHXH giai đoạn đến 2020 đã được đặt ra trong Đề án
Cải cách BHXH giai đoạn 2012- 2020 và Đề án một số vấn đề về ASXH giai đoạn
2012- 2020. Theo đó các mục tiêu chung được đặt ra đối với hệ thống BHXH ở Việt
Nam là: Xây dựng hệ thống BHXH bền vững phù hợp với nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên tham gia BHXH
thuộc mọi thành phần kinh tế; bảo đảm cân đối thu chi quỹ BHXH; đáp ứng yêu cầu
đổi mới và xu thế hội nhập kinh tế của đất nước. Mở rộng đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Hoàn thiện và tổ chức
thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH. Từng bước nâng dần mức lương hưu
phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; tiến tới một bộ phận người
về hưu ngoài mức lương hưu cơ bản còn có lương hưu bổ sung.
* Một số đề xuất:

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số đợt thanh tra,
kiểm tra hàng năm về lĩnh vực BHXH là rất hạn chế. Đội ngũ thanh tra chuyên
xx
ngành về BHXH ở trung ương mỏng. Không có đội ngũ thanh tra chuyên ngành về
BHXH ở địa phương. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được quan tâm đúng mức
dẫn đến quyền lợi hưu trí của NLĐ không được bảo đảm đầy đủ.
- Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội đến các tầng lớp
nhân dân
Là đơn vị tổ chức thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội, các cơ quan BHXH
sẽ thay mặt Đảng và Nhà nước phổ biến các chính sách liên quan đến BHXH đến
người dân. Công tác truyền thông trong BHXH là một công tác rất quan trọng trong
thực hiện BHXH. Tuyên truyền để giúp người dân nói chung và người lao động nói
riêng hiểu biết về mục đích mà BHXH hướng tới, qua đó thấy được quyền lợi, lợi
ích của mình. Nhận thức được điều này sẽ làm cho đối tượng tham gia BHXH tự ý
thức trong việc tuân thủ về đóng góp BHXH, giúp mở rộng đối tượng tham gia. Mở
rộng đối tượng tham gia có ý nghĩa quan trọng trong việc cân đối quỹ BHXH trong
thời gian tới. Hiện nay ngành BHXH nói chung còn chưa dành sự quan tâm tới hoạt
động này.
- Giải quyết triệt để tình trạng nợ đọng
Tình trạng trốn đóng, nợ đóng BHXH diễn ra thường xuyên do nhiều nguyên
nhân khác nhau như nhận thức của NSDLĐ, NLĐ còn hạn chế hoặc NSDLĐ cố
tình chiếm dụng vốn từ quỹ BHXH; cơ chế, chế tài xử phạt còn chưa nghiêm.
Trong thời gian tới, cần thiết phải thực hiện nghiêm minh các chế tài xử phạt,
đồng thời kiến nghị bổ sung quy định trong Bộ Luật Hình sự về hành vi của cá nhân
NSDLĐ khi vi phạm pháp luật BHXH (trốn đóng hoặc nợ đóng BHXH dẫn tới
không có khả năng đóng BHXH với số tiền lớn; trích tiền đóng BHXH của NLĐ
nhưng không nộp cho cơ quan BHXH, ).
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
Ở Việt Nam hiện nay, những người được đào tạo, chuyên sâu về BHXH
chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số cán bộ của ngành. Nhu cầu,nguồn nhân lực để thực

phần bảo đảm nguồn thu nhập hỗ trợ cho cuộc sống của NLĐ khi không còn khả
năng lao động, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
Tuy nhiên, thực tế sau hơn 5 năm triển khai thực hiện chế độ hưu trí theo
quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, thực tiễn đã phản ánh một số vấn đề cả về nội
dung chính sách và việc tổ chức triển khai thực hiện cần được nghiên cứu, như: mô
hình quản lý, phương thức đóng bảo hiểm xã hội, tính hưởng chế độ hưu trí, độ tuổi
nghỉ hưu ngoài ra mức độ bao phủ của bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu
trí nói riêng còn thấp. Theo mục tiêu được Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề ra là phấn
đấu đến năm 2020 sẽ có 50% người dân Việt Nam có BHXH hưu trí, tuy nhiên để
thực hiện được mục tiêu này là không dễ…Từ những lý do nêu trên, đặt ra vấn đề
cần thiết phải có những Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí
bắt buộc ở Việt Nam, chỉ rõ những vấn đề đã làm tốt, những hạn chế, nguyên nhân
của nó, để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện góp
phần thực hiện an sinh xã hội và phù hợp với khát khao, nguyện vọng của đông đảo
người dân. Do đó, học viên đã mạnh dạn chọn đề tài “Phân tích tình hình thực hiện
chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ hưu trí.
Thứ hai, Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt
buộc ở Việt Nam, phản ánh những kết quả đạt được, đồng thời chỉ rõ những vấn đề
còn hạn chế và nguyên nhân của nó.
1
Thứ ba, đề xuất những giải pháp, kiến nghị để nhằm hoàn hiện công tác thực
hiện chế độ hưu trí bắt buộc ở nước ta.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt
buộc trên phạm vi cả nước.
- Đối tượng nghiên cứu: chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc (không
nghiên cứu chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tự nguyện).
* Trong phạm vi Luận văn, thuật ngữ “chế độ hưu trí” được hiểu là “chế độ

làm và đặc biệt khi về già không còn khả năng lao động đã trở thành mối đe doạ
đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác
ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày
đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động
tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn ); đồng thời, đòi hỏi giới
chủ phải trợ giúp để bảo đảm cuộc sống cho họ. Ban đầu người chủ chỉ cam kết trả
tiền công cho NLĐ, nhưng do ốm đau, TNLĐ xảy ra với tần suất gia tăng, cho nên
NLĐ đấu tranh, buộc người chủ ngoài tiền công, phải cam kết trả cho NLĐ một
khoản chi phí nhất định để trang trải những rủi ro trên. Tuy nhiên, trong thực tế
không phải bao giờ các cam kết của giới chủ cũng được thực hiện đầy đủ, đảm bảo
các quyền lợi cho NLĐ khi rủi ro xảy ra. Vì thế, giới thợ đã liên kết vớí nhau đấu
tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này đã tác động đến
nhiều mặt của đời sống xã hội, dẫn đến một giải pháp khắc phục có hiệu quả hơn,
đó là việc hình thành một quỹ dự trữ. Quỹ này được hình thành do sự đóng góp của
cả giới chủ và giới thợ và khi NLĐ gặp phải rủi ro thì các chi phí được trích ra từ
quỹ một cách chủ động, không phụ thuộc vào ý muốn của giới chủ.
3

Trích đoạn Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Tăng tuổi nghỉ hưu trung bình Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc làm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status