Tiểu luận Một số vấn đề về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015” - Pdf 47

MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của đất nước, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên
phức tạp, các vụ tranh chấp thường xuyên xảy ra, đòi hỏi những cách giải quyết
khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, đa số các vụ việc dân sự nói chung và vụ án dân
sự nói riêng được giải quyết bằng con đường Tòa án, đặc biệt là trong lĩnh vực dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Tuy nhiên, vấn đề
đặt ra là Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết khi phát sinh tranh chấp để có thể giả
quyết một cách nhanh chóng và chính xác vụ án dân sự. Chính vì vậy, việc xác định
thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án là rất quan trọng. Để tìm hiểu sâu
hơn về vấn đề này, tôi xin chọn và nghiên cứu về đề tài: “Một số vấn đề về thẩm
quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án trong tố tụng dân sự theo quy định
của BLTTDS năm 2015”. Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ
có những hiểu biết sâu hơn về những quy định của BLTTDS năm 2015 về thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự, qua đó có thể chỉ ra những bất
cập trong quy định của pháp luật để đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện
hơn hệ thống pháp luật nước ta.
NỘI DUNG

I.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN.
1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo vụ việc.
Xác định thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án là xác định những loại tranh
chấp, yêu cầu nào thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND. Xác định thẩm quyền
của Tòa án theo vụ việc là nhằm phân định thẩm quyền của Tòa án với thẩm quyền
của các cơ quan, tổ chức khác trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh từ quan hệ
pháp luật nội dung1. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì TAND có
nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp dân sự theo quy định tại Điều 26,
28, 30 và 32 BLTTDS năm 2015. Cụ thể như sau:

- Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự (khoản 3 Điều 26),
Tranh chấp về giao dịch dân sự được hiểu là những tranh chấp về hợp đồng
hoặc hành vi pháp lý đơn phương, bở bản chất của giao dịch dân sự là hợp đồng
hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa
vụ dân sự.

2


Bên cạnh đó, Tòa án còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp
đồng dân sự, cụ thể là các tranh chấp về việc giao kết, sửa đổi, thực hiện và chấm
dứt hợp đồng. Ngoài ra những tranh chấp phát sinh từ các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự như đặt cọc, thế chấp, bảo lãnh,…cũng thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 30 BLTTDS năm 2015 (khoản 4 điều 26).
Những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thuộc tranh
chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà chỉ một bên có mục đích lợi
nhuận hoặc cả hai bên đều không có mục đích lợi nhuận. Còn trường hợp loại trừ
tại khoản 2 Điều 30 là những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận,
và những tranh chấp này được coi là những tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Như vậy, yếu tố lợi nhuận là căn cứ để phân biệt hai loại tranh chấp này. Việc phân
biệt được hai loại tranh chấp này có nhiều ý nghĩa quan trọng, trong đó ý nghĩa
quan trọng nhất là sẽ lựa chọn được quy phạm pháp luật nội dung đúng để giải
quyết.

- Tranh chấp về thừa kế tài sản (khoản 5 Điều 26)

Luật bảo vệ môi trường năm 2014 hiện hành quy định việc giải quyết các
tranh chấp môi trường được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
BLTTDS năm 2015 đã quy định cách thức giải quyết những tranh chấp trên. Đây là
một bước tiến của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung
năm 2011 vì BLTTDS 2004 chưa đề cập đến các tranh chấp về môi trường một
cách cụ thể mà chỉ quy định trong các luật chuyên ngành.

- Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở
hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của luật bảo vệ và phát triển rừng (khoản 9
Điều 26 BLTTDS 2015).
Tranh chấp về đất đai là những tranh chấp về quyền sử dụng đất (có hoặc
không gắn với tài sản trên đất) và tranh chấp về tài sản (có thể gắn liền hoặc không

2 Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Hà Nội, 2015, Tr 37, 38.

4


gắn liền với đất). Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, Tòa án có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng chứng
nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987, luật đất đai năm 1993, Luật
đất đai năm 2003 hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai
năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2014 quy định: “Khi có tranh chấp về
quyền sử dụng rừng đối với các loại rừng, quyền sở hữu rừng trồng do TAND giải
quyết”. do đó, căn cứ theo quy định này, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung và ghi
nhận thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu,
quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

- Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật


- Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng kí mua tài sản
bán đấu giá theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự (khoản 13).
Theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2014, Tài sản kê biên được xử
lý bằng một trong ba phương thức: Giao tài sản kê biên cho người được thi hành
án; bán đấu giá và bán không qua thủ tục đấu giá. Trong trường hợp tài sản kê biên
được bán đấu giá thì người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản kê biên có
quyền nhận lại tài sản trước phiên đấu giá một ngày làm việc nếu nếu nộp đủ tiền
thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế
thi hành án, tổ chức bán đấu giá. Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả
phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa
thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết 4. Trong trường hợp
không đồng ý với kết quả bán đấu giá thì đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản.

b. Những tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn
(khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015).
Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án giải quyết cho ly
hôn khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải không thành và nếu có căn cứ về
việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền,
4 Xem khoản 5 Điều 105 Luật thi hành án dân sự 2014.

6


nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được.
Về vấn đề chia tài sản khi ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ áp
dụng Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014 về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ


định Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ trường
hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ sông chung với nhau như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.
- Tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
c. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án. (Điều 30 BLTTDS năm 2015).
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (khoản 1 Điều
30 BLTTDS năm 2015).
Dựa vào quy định này ta có thể ta có thể rút ra hai điều kiện để xác định thẩm
quyền của Tòa án đối với loại tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 30. Thứ
nhất, chủ thể của tranh chấp phải là các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với
nhau. Thứ hai, mục đích của các chủ thể khi đăng ký với nhau đều phải vì mục đích
lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận ở đây không phụ thuộc vào lợi nhuận đạt được ít hay
nhiều mà là mục đích ban đầu mà các chủ thể mong muốn đạt được.

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân với
nhau và đều vì mục đích lợi nhuận. (khoản 2 Điều 30).
Đây là một loại tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.Để xác định tranh chấp nào là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ,
chuyển giao công nghệ thuộc những tranh chấp về kinh doanh thương mại thì tiêu
chí mục đích lợi nhuận là tiêu chí quyết định, đây là cơ sở để phân biệt với loại
tranh chấp dân sự, cụ thể là phân biệt với khoản 4 Điều 26 BLTTDS năm 2015.

- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về
chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty (khoản 3).
Trên thực tế, những tranh chấp này thường phát sinh từ việc hợp đồng chuyển

lao động không bắt buộc phải hòa giải như: Xử lý kỷ luật lao động theo hình thức
sa thải; bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; bồi thường thiệt hại, trợ cấp
khi chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với
người sử dụng lao động; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn và bồi
thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. đối với tranh chấp tập
5 Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Hà Nội, 2015, Tr 52.

9


thể về quyền giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động đã được Ủy
ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể người lao động hoặc người sử dụng
lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp huyện không giải quyết. Các tranh chấp lao động này liên quan đế
học nghề, tập nghề, cho thuê lao động, quyền công đoàn, kinh phí công đoàn an
toàn vệ sinh lao động, bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp; tuyên bố
hợp đồng lao động, thỏa ước lao động vô hiệu; xét tính hợp pháp của cuộc đình
công.

2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp trong việc giải quyết vụ án dân sự.
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp trong việc giải quyết vụ án dân sự
là quyền của từng cấp Tòa án trong hệ thống Tòa án, theo đó cấp tòa án có thẩm
quyền sẽ thực hiện các thủ tục giải quyết một vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm. Cụ
thể như sau:

a. Thẩm quyền của TAND cấp huyện trong việc giải quyết vụ án dân sự.
Căn cứ vào quy định của BLTTDS năm 2015 thì việc phân định thẩm quyền
chủ yếu dựa vào hai tiêu chí:
Thứ nhất, về nội dung của vụ án dân sự. Điều 35 BLTTDS năm 2015 đã quy

cần thiết hoặc theo đề nghị của TAND cấp huyện6.

3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ.
Theo khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thẩm quyền của Tòa án theo lãnh
thổ trong việc giải quyết vụ án dân sự được xác định theo ba phương thức.
Thứ nhất, Tòa án có thẩm quyền giải quyết được xác định là tòa án nơi bị đơn
cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ
quan, tổ chức đối với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động. Việc quy định như vậy là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bị
đơn đến phiên tòa để tham gia tố tụng bởi trên thực tế, bị đơn là người bị buộc tham
gia tố tụng nên họ thường có tâm lý không muốn tham gia tố tụng. Ngoài ra quy

6 Xem khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

11


định này còn tạo điều kiện cho việc thu thập, xác minh chứng cứ của Tòa án và việc
thi hành án của cơ quan thi hành án.
Thứ hai, các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu tòa
án nơi cư trú, làm việc, trụ sở làm việc của nguyên đơn. Quy định này nhằm đảm
bảo sự tự do định đoạt của các bên thể hiện nguyên tắc tự do, tự nguyện, thỏa thuận
trong lĩnh vực dân sự. Hiện nay, chúng ta có thể thấy nhiều hợp đồng mà các bên
tham gia ký kết thường có điều khoản xác định tòa án nào sẽ có thẩm quyền giải
quyết khi xảy ra tranh chấp, đây chính là sự cụ thể hóa của quy định này.
Thứ ba, đối với các vụ án có đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ có
Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Trong thực tế quản lý đất đai
ở nước ta hiện nay, bất động sản thường chịu sự quản lý của chính quyền địa
phương, như vậy những giấy tờ, thủ tục liên quan đến bất động sản thường là do
chính quyền địa phương thực hiện, lưu trữ. Vì vậy việc quy định chỉ Tòa án nơi có

án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư
trú, có trụ sở để giải quyết. (điểm c khoản 1 Điều 40).
Thứ tư, nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt
hại giải quyết (điềm d khoản 1 Điều 40). Quy định này nhằm tạo điều kiện cho Tòa
án tiếp cận nơi xảy ra thiệt hại để thu thập, xác minh chứng cứ được nhanh chóng
và chính xác.
Ngoài ra nguyên đơn còn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp
trong một số trường hợp như: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm
dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao
động khác đối với người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc
giải quyết (điểm đ khoản 1 Điều 40); tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động
của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có quyền yêu
cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc
người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc, giải quyết (điểm e
khoản 1 Điều 40); tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g khoản 1 Điều 40);
13


nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở những nơi khác nhau thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
tranh chấp bất động sản mà bất động sản có nhiều ở nhiều địa phương khác nhau
thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
(điểm i khoản 1 điều 40).

II.

MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ.


2. Một số kiến nghị.
Từ việc chỉ ra một số bất cập như trên, tôi xin đưa ra một số kiến nghị như
sau:
Thứ nhất, cần bổ sung thêm quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối
với những tranh chấp phát sinh từ việc mang thai về mục đích thương mại bởi trong
tương lai rất có thể sẽ có nhiều tranh chấp như vậy xảy ra. Việc bổ sung thêm quy
định này sẽ giúp cho những tranh chấp đó được Tòa án thụ lý và giải quyết nhanh
chóng hơn.
Thứ hai, cần sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 30 BLTTDS năm 2015 về vấn
đề sử dụng thuật ngữ “phần vốn góp”. Theo tôi cần được sửa đổi như sau: “tranh
chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch chuyển
nhượng phần vốn góp, cổ phần với công ty, thành viên công ty”. Việc quy định như
vậy sẽ bao quát được hết mọi hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp/ cổ phần của
các công ty, đồng thời sẽ tạo ra tính thống nhất cao đối với các luật chuyên ngành.
KẾT LUẬN
Từ việc nghiên cứu và phân tích những quy định của BLTTDS năm 2015 về
thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án chúng ta đã hiểu rõ hơn quy định
của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề này. Cũng qua việc phân tích các quy định
của BLTTDS năm 2015 về vấn đề trên tôi đã chỉ ra một số những quy định còn
chưa đầy đủ. Hy vọng đây là những ý kiến đóng góp hữu ích trong việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta.

15


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Hà
Nội, 2017.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status