TIỂU LUẬN:
Một số vấn đề về tổ chức thanh
toán không dùng tiền mặt tại
Ngân hàng Công thương Đống Đa
Lời nói đầu
Hiện nay phát triển kinh tế là một vấn đề mang tính chất toàn cầu mà mọi
quốc gia đều đặt lên mục tiêu hàng đầu, đi đôi với nó là xu hướng quốc tế hoá các
hoạt động kinh tế. Điều này khiến các quốc gia phải thực hiện chính sách hoà nhập
vào cộng đồng kinh tế nói chung. Trước tình hình đó và thực hiện mục tiêu dân giàu
nước mạnh xã hội công bằng văn minh Đảng ta chủ trương chuyển đổi nền kinh tế
triển hệ thống thanh toán ở các Ngân hàng Thương mại Việt Nam là rất cần thiết.
Từ luận điểm này em đã lựa chọn nghiên cứu khoá luận với đề tài: “Một số vấn đề
về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Công thương Đống
Đa”. Với phương pháp nghiên cứu lôgic, kết hợp với bài giảng cùng hiểu biết thực
tế khoá luận đề xuất một số vấn đề về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt ở
Ngân hàng Công thương Đống Đa. Kết cấu của khoá luận:
Chương I: Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh
tế.
Chương II: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Công
thương Đống Đa.
Chương III: Một số ý kiến nhằm mở rộng và hoàn thiện các hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Công thương Đống Đa. Chương I:
Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.
I. Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế thị trường:
1. Sự cần thiết khách quan:
Từ sau nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, với sự chuyển biến mạnh mẽ của
nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường,
động một cách hợp lý khối lượng tiền tệ, chịu ảnh hưởng của mọi chính sách phát
triển kinh tế quốc gia. Tập trung công tác thanh toán vào ngân hàng có một ý nghĩa
to lớn không chỉ đối với xã hội, chính phủ mà còn với cả các doanh nghiệp và các
tầng lớp dân cư.
Ngân hàng đứng trên phương diện rộng lớn, nó phản ánh kinh tế của một
nước. Nhìn vào những hoạt động và trình độ công nghệ của các nghiệp vụ trong
ngân hàng là ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế của nước đó. Hệ
thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ sẽ tạo ra động lực cho mọi ngành kinh tế khác
trong nước phát triển và ngược lại.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa thanh toán bằng tiền mặt ngày
càng bộc lộ nhiều nhược điểm. Các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng, phức tạp, thanh
toán không ngừng tăng lên về khối lượng và chất lượng. Như vậy, chính sự phát
triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá đã dẫn đến sự ra đời của một phương
thức thanh toán mới ưu việt hơn: “Thanh toán không dùng tiền mặt”
Thanh toán không dùng tiền mặt là một nấc thang phát triển tất yếu của
nghiệp vụ thanh toán trong nền kinh tế thị trường và chính nó đã từng bước đáp ứng
được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường:
Công tác thanh toán là một trong những chức năng trung tâm của ngân hàng.
Theo đà phát triển chung của xã hội và hệ thống ngân hàng, thanh toán không dùng
tiền mặt ngày trở nên quan trọng.
Ngày nay, thanh toán không dùng tiền mặt là một phần không thể tách rời
các doanh nghiệp, các cá nhân và các đoàn thể. Trong nền kinh tế thị trường, thanh
toán không dùng tiền mặt được thực hiện trôi chảy sẽ đem lại hiệu quả thiết thực
cho tất cả các đối tác tham gia.
- Thứ nhất: Tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu chuyển
hàng hoá tiền tệ góp phần làm giảm lượng tiền mặt trôi nổi trên thị trường, tiết kiệm
trường hợp).
- Thứ ba: Thanh toán không dùng tiền mặt giúp ngân hàng và các tổ chức tín
dụng tập trung được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vào nền kinh tế để mở rộng
việc cấp tín dụng ngân hàng.
Như đã đề cập trong vai trò thứ hai, ngân hàng có thể sử dụng một phần
nguồn vốn từ tài khoản tiền gửi thanh toán để cho vay, mở rộng việc cấp tín dụng
cho nền kinh tế.
Chỉ tiêu kế hoạch tín dụng tổng hợp là một trong những chỉ tiêu kế hoạch
quan trọng của nền kinh tế, mà kế hoạch tín dụng muốn thực hiện được tốt thì phải
đẩy mạnh công tác thanh toán qua ngân hàng. Việc thanh toán này diễn ra càng
nhanh chóng thì sẽ giải phóng nhanh vốn trong khâu thanh toán, kết quả là tạo ra
nguồn vốn nhàn rỗi lớn thì đẩy mạnh hoạt động cho vay của ngân hàng và cuối
cùng là tạo điều kiện để kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Xu hướng trong thời gian tới khối lượng thanh toán sẽ tiếp tục tăng nhanh,
do vậy nguồn vốn tiền gửi thanh toán sẽ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong toàn bộ
cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng.
Thứ tư: Thanh toán qua ngân hàng đã và đang trở thành công cụ cạnh tranh
có hiệu quả của các ngân hàng nhằm thu hút khách hàng. Điều này thể hiện trên hai
khía cạnh sau:
+ Về dịch vụ ngân hàng:
Mục đích của khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không chỉ đề hưởng lãi mà
còn để mua các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ dần sẽ trở thành mục đích chính của
khách hàng. Vì vậy sức mạnh và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng được đo
bằng số lượng và chất lượng các dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ thanh toán.
+ Về chi phí ngân hàng:
Lãi suất ngân hàng phải trả cho số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán là rất
thấp, thậm chí một số nước trên thế giới người gửi tiền không được hưởng lãi trên
nhiều. Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ kế hoạch hoá được thực hiện
theo Nghị định 75/NĐ-CP. Với nguyên tắc cứng nhắc, kém hiệu quả. Cụ thể
phương thức thanh toán lòng vòng, chậm chạp (một khoản chuyển tiền thanh toán
chi trả tiền hàng khi thực hiện phải mất rất nhiều thời gian từ 5-10 ngày). Vì công
cụ thanh toán kém linh hoạt, thủ tục phức tạp, các phương tiện làm việc lạc hậu, và
thực hiện thanh toán bằng thủ công. Do điều kiện kỹ thuạt lạc hậu, công cụ thanh
toán nói trên dẫn đến tốc độ luân chuyển vốn chậm chạp, thiếu chính xác, cung cấp
thông tin không kịp thời và không đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia thanh
toán làm ảnh hưởng đến tốc độ và kéo dài chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Ngoài công cụ thanh toán nghèo nàn ngân hàng còn có quy định cho các
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế chỉ được mở tài khoản tiền gửi tại địa phương
mình hoạt động (cùng địa phương).Khách hàng không được tự do lựa chọn ngân
hàng dẫn đến không có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp việc thanh toán không
dùng tiền mặt ở nước ta tuy đã được áp dụng khá rộng rãi trong nền kinh tế nhằm
giảm bớt lượng tiền mặt đi vào lưu thông bằng cách ngân hàng đã quy định cho các
doanh nghiệp định mức tồn quỹ tiền mặt, định mức tạo chi nhưng vẫn kém hiệu
quả, cụ thể những năm đó lượng tiền mặt trong lưu thông rất lớn, ngân hàng ở trong
tình trạng khan hiếm tiền mặt, như vậy ngân hàng chưa làm tốt chức năng thanh
toán của mình để giúp cho nền kinh tế phát triển. Ngân hàng được xây dựng theo
mô hình một cấp gồm Ngân hàng Nhà nước và các chi nhánh vừa thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tiền tệ tín dụng ngân hàng vừa thực hiện chức năng kinh
doanh hoạt động theo phương thức kế hoạch hoá tập trên từ dưới lên trên.
2. Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần.
Khi nền kinh tế của nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi ngành ngân hàng phải tiến hành sửa đổi, bổ sung
công cụ thanh toán mới đó là :
- Ngân phiếu thanh toán
- Thẻ thanh toán
Riêng thanh toán bằng séc đã được bổ sung thêm séc cá nhân nhằm thu hút
và tạo điều kiện cho người dân quen dần với công việc thanh toán qua ngân hàng.
Sau đó ngày 09/05/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 30/CP về việc sử dụng séc
mới trong cả nước áp dụng kể từ ngày 01/04/1997 thay thế cho các loại séc cũ. Việc áp
dụng công cụ thanh toán mới đã đáp ứng được những yêu cầu thanh toán đa thành phần
trong nền kinh tế, mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đều có thể tham gia trực tiếp
thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá, dịch
vụ phát triển, góp phần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài.
Từ khi đổi mới chế độ thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta đã có
nhiều chuyển biến tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điều này đã được chứng
minh trên các mặt sau:
- Qua các công cụ thanh toán liên hàng giữa các ngân hàng trong toàn quốc
và thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước đã có bước tiến bộ rõ
rệt. Từ khi áp dụng kỹ thuật máy vi tính để thanh toán liên hàng (trong cùng hệ
thống ngân hàng công thương) tiến tới thanh toán điện tử thực hiện từ ngày
01/07/1996 trong toàn hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam. Khi thanh toán
điện tử các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong thanh toán điện tử được hoàn tất trong
một ngày làm việc. Trường hợp khách hàng yêu cầu chuyển nhanh và hoàn tất trong
thời gian từ 1-3 giờ (khách hàng phải chịu phí dịch vụ khẩn theo quy định).
- Qua thanh toán bù trừ: Các Ngân hàng Thương mại, tổ chức tín dụng, kho
bạc khi tham gia thanh toán bừ trừ được giao nhận chứng từ hai phiên trong ngày
qua đĩa mềm (tại ngân hàng chủ trì là ngân hàng nhà nước).
Việc áp dụng thanh toán điện tử, thanh toán bừ trừ đã làm tăng nhanh tốc
quyết định 22/QĐ-NH1 ngày 21/2/1994 và Thông tư hướng dẫn số 08/TT-NH2 ban
hành ngày 02/6/1994 và mới đây là nghị định 30/CP ngày 09/5/1996 của Chính phủ
và Thông tư 07/TT - NH1 ngày 27/12/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam hướng dẫn thực hiện quy chế phát hành và sử dụng séc. Trong đó có các
quy định:
1. Quy định chung:
“Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể công dân Việt nam và
người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt nam (gọi chung là đơn vị hay cá
nhân) đều có quyền lựa chọn ngân hàng để mở tại khoản giao dịch và thực hiện
thanh toán”.
Với quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình
kinh doanh, họ sẽ tìm thị trường thuận lợi nhất để hoạt động, lựa chọn những ngân
hàng có uy tín, chất lượng và phục vụ tốt nhất cho nhu cầu thanh toán của họ. Từ đó
tạo cho khách hàng có điều kiện mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình trên toàn
quốc mà vânx tiến hành giao dịch thanh toán chi trả một cách thuận lợi, nhanh
chóng và an toàn.
Đối với ngân hàng quy định này đòi hỏi mỗi một ngân hàng phải thường
xuyên đổi mới, hoàn thiện dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt bằng cách phải
đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ và sử dụng máy vi tính thành thạo để nắm bắt
được những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, bên cạnh đó thái độ phục vụ khách hàng
của cán bộ nhân viên phải nhiệt tình, hướng dẫn đơn vị và cá nhân làm tốt công tác
thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng chế độ ban hành. Nhằm nâng cao uy tín
của ngân hàng trên thị trường và thu hút được nhiều khách hàng.
2. Quy định đối với khách hàng:
2.1. Quy định đối với bên mua (bên phải trả)
''Để thực hiện thanh toán đầy đủ, kịp thời, các chủ tài khoản (bên trả tiền)
phải có đủ số dư trên tài khoản. Mọi trường hợp thanh toán vượt quá số dư trên tài
nhà nước không chịu trách nhiệm về nội dung liên đới của hai bên khách hàng. Nếu
do thiếu sót trong quá trình thanh toán gây thiệt hại cho khách hàng thì ngân hàng
và kho bạc nhà nước phải bồi thường thiệt hại tuỳ theo mức độ.
- Ngân hàng Thương mại và kho bạc nhà nước chỉ cung cấp số liệu trên tài
khoản khách hàng cho các cơ quan bên ngoài khi có văn bản của cơ quan có thẩm
quyền theo qui định của pháp luật.
- Khi thực hiện các dịnh vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng được thu
phí theo qui định của Thống đốc ngân hàng nhà nước.
Qui định này đã hoàn toàn xoá bỏ mặc cảm trước đây của khách hàng về
thanh toán ngân hàng, tạo sự tin tưởng tuyệt đối của khách hàng khi mà họ có số
lượng vốn không nhỏ giữ tại ngân hàng và uỷ quyền cho ngân hàng thanh toán.
Qui định cũng phân biệt trách nhiệm vật chất, pháp lý rõ ràng giữa ngân
hàng và khách hàng khi một trong hai bên vi phạm chế độ thanh toán, nhằm đảm
bảo quyền lợi cho khách hàng và quy định những khoản phí mà họ phải trả cho
ngân hàng khi thực hiện thanh toán. Việc thu phí dịch vụ thanh toán làm tăng khoản
thu nhập của ngân hàng.
IV. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng ở nước ta
hiện nay:
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các mối quan hệ kinh tế xã hội, trong quá
trình hoạt động kinh tế, ngày nay hầu hết các ngân hàng đã và đang từng bước đưa
công nghệ tiên tiến, tin học hoá vào khâu thanh toán song song với việc thực hiện
áp dụng khoa học kỹ thuật, ngành ngân hàng cũng ra sức hoàn thiện các hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt sao cho mang lại hiệu quả cao nhất.
Thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán có nhiều ưu
điểm. Nó được áp dụng rộng rãi khắp trên thế giới. ở Việt Nam thanh toán không
dùng tiền mặt được áp dụng trong ngân hàng kể từ khi ngân hàng mới được thành
lập. Để phù hợp với yêu cầu đổi mới nền kinh tế và đổi mới hoạt động ngân hàng
phải nộp vào ngân hàng tờ séc đó trong thời hạn của nó.
- Ngân hàng: Séc của ngân hàng hay khách hàng phát hành trước hết được
thanh toán trong ngân hàng đó, tuỳ từng loại có thể được thanh toán ở ngân hàng
khác cùng hệ thống hoặc khác hệ thống trên địa bàn. Ngân hàng phải kiểm tra tính
hợp lệ và hựp pháp của tờ séc trước khi chấp nhận thanh toán và ngân hàng có
quyền từ chối thanh toán nếu phát hiện séc xin thanh toán là giả, không hợp lệ, séc
quá thời hạn và séc đã được thông báo mất
Về nguyên tắc séc được nộp vào ngân hàng ghi nợ trước có sau, tuỳ từng hệ
thống ngân hàng, tuỳ từng thể thức thanh toán mà trên thực tế séc có thể được ghi
có trước nợ sau.
Thời hạn hiệu lực thanh toán của séc là 15 từ ngày phát hành séc, kể cả
ngày lễ và chủ nhật. Nếu ngày đến hạn là ngày lễ hoặc chủ nhật thì thời hạn của tờ
séc được lùi vào ngày làm việc tiếp theo.
ở nước ta hiện nay có các loại séc sau đây được sử dụng rộng rãi: séc chuyển
khoản, séc bảo chi.
1.1. Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với ngân hàng
phục vụ mình về việc trích trả tiền từ tài khoản của mình trả cho người có tên trên
tờ séc.
- Phạm vi áp dụng: Dùng để thanh toán giữa hai khách hàng có tài khoản
trong cùng một ngân hàng hay hai ngân hàng cùng hoặc khác hệ thống nhưng có
tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp trên địa bàn địa phương, tỉnh, thành phố.
- Nguyên tắc hạch toán: Ghi “Nợ” tài khoản bên trả tiền trước, ghi “Có” tài
khoản người thụ hưởng sau. Séc chuyển khoản khi về đến ngân hàng, Kho bạc Nhà
nước phục vụ bên trả tiền nếu quá số dư tài khoản tiền gửi hoặc tiền lưu ký thì xử lý
như sau:
+ Người phát hành séc chuyển khoản phải chịu phạt tiền bằng 30% số tiền
- Séc bảo chi được thanh toán trong phạm vi giữa hai đơn vị mua và bán mở
tài khoản cùng một Ngân hàng, giữa hai đơn vị mua và bán mở tài khoản ở hai ngân
hàng khác hệ thống nhưng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực
tiếp và được áp dụng giữa 2 đơn vị mua và bán ở khác ngân hàng nhưng cùng hệ
thống.
- Thời hạn của séc bảo chi là 15 ngày làm việc.
* Thủ tục phát hành séc bảo chi.
- Đơn vị mua hàng muốn thanh toán bằng séc bảo chi sẽ lập ba liên uỷ nhiệm
chi và tờ séc chuyển khoản đã ghi đầy đủ các yếu tố gửi vào ngân hàng phục vụ
mình. Tại ngân hàng phục vụ đơn vị mua sẽ kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của tờ
séc và uỷ nhiệm chi. Nếu tất cả đều hợp lệ thì kế toán sẽ căn cứ vào các liên uỷ
nhiệm chi ghi:
Nợ: Tài khoản tiền gửi thanh toán của đơn vị phát hành séc.
Có: Tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi.
Sau đó làm thủ tục đóng dấu bảo chi lên tở séc và trao cho khách hàng.
Trường hợp khách hàng xin bảo chi từ tài khoản chuyển tiền phải trả thì chỉ cấn lập
uỷ nhiệm chi hay giấy xin bảo chi séc. Khi đó ngân hàng sẽ viết vào séc và làm thủ
tục chi cho khách hàng.
* Thủ tục thanh toán séc bảo chi:
- Nếu séc bảo chi thanh toán giữa hai đơn vị mở tài khoản cùng ở một ngân
hàng thì bên thụ hưởng phải lập bảng kê nộp séc kèm tờ séc bảo chi gửi vào ngân
hàng, ngân hàng sẽ tiến hành kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ và thời hạn hiệu lực,
sau đó hạch toán.
Nợ: TK tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi.
Có: TK tiền gửi của người thụ hưởng.
- Nếu hai đơn vị mở tài khoản ở khác ngân hàng khác hệ thống có tham gia
thanh toán bù trừ thì tại ngân hàng phục vụ đơn vị thụ hưởng sau khi kiểm soát đủ
hàng). Thời hạn hiệu lực tờ séc chuyển tiền là 30 ngày kể từ ngày phát hành ghi trên
tờ séc.
Uỷ nhiệm chi là một hình thức thanh toán đơn giản thuận tiện và được áp
dụng nhiều năm nay. Uỷ nhiệm chi được sử dụng khá phổ biến trong thanh toán phi
hàng hoá như cấp kinh phí, trả nợ, thực hiện nghĩa vụ ngân sách.
Hướng đổi mới công nghệ thanh toán là phát huy ưu thế của công cụ uỷ
nhiệm chi trong việc hình thành và phát triển các quan hệ thương mại, tín nhiệm
giữa các doanh nghiệp trong cả nước.
3. Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu.
ủy nhiệm thu do người thụ hưởng lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng và gửi
vào ngân hàng phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao, hoặc dịch vụ đã cung ứng
ủy nhiệm thu được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản
cùng một chi nhánh ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống hoặc
khác hệ thống có tham gia thanh toán bừ trừ.
Để được thanh toán bằng uỷ nhiệm thu, khách hàng mua và bán phải thống
nhất ký hợp đồng thoả thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu với điều kiện
thanh toán đã ghi rõ trong hợp đồng kinh tế và phải thông báo bằng văn bản cho
ngân hàng phục vụ người mua biết để làm căn cứ thanh toán các uỷ nhiệm thu.
Sau khi đã hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng lập uỷ nhiệm thu kèm
theo hoá đơn, vận đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình hoặc gửi trực tiếp tới ngân
hàng phục vụ bên trả tiền để yêu cầu thu hộ. Khi nhận được giấy uỷ nhiệm thu trong
vòng một ngày làm việc, ngân hàng bên trả tiền trích tài khoản của bên trả tiền trả
ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán. Nếu tài khoản bên trả tiền
không đủ tiền thì bên trả phải bị phạt chậm trả cho bên thụ hưởng. Thời gian phạt
tính từ ngày nhận uỷ nhiệm thu mà tài khoản tiền gửi không đủ tiền thanh toán đến
ngày có đủ tiền. Mức phạt được tính như sau:
Số tiền x Số ngày chậm trả x 150% mức lãi suất vay hiện hành
tiền, kèm theo giấy uỷ nhiệm của người đã trả tiền do người thụ hưởng xuất trình,
phù hợp với các điều khoản quy định thống nhất giữa hai bên mua, bán được ghi
trên thư tín dụng. Sau khi trả tiền ngân hàng phục vụ người thụ hưởng phải báo nợ
ngay cho ngân hàng phục vụ người trả tiền để tất toán thư tín dụng.
Mọi trường hợp tranh chấp về hàng hoá đã giao và tiền hàng đã trả do hai
bên mua bán giải quyết.
Phần lớn thư tín dụng được áp dụng trong thanh toán ngoại thương. Mua bán
ở phạm vi quốc gia ít được sử dụng vì thủ tục phiền hà, hơn nữa phải lưu ký một số
tiền lớn trên tài khoản mà không được hưởng lãi nên gây ra đọng vốn.
5. Thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán.
Đáp ứng nhu cầu ngày thanh toán ngày càng phát triển tạo điều kiện thuận
lợi cho việc chu chuyển vốn của các doanh nghiệp, góp phần giảm bớt nhu cầu tiền
mặt, ngày 21/11/1992, Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành
quyết định 239/QĐ - NH1, đưa ngân phiếu thanh toán vào sử dụng.
Ngân phiếu thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
do Nhà nước độc quyền phát hành. Ngân phiếu thanh toán được lưu hành trong cả
nước, có mệnh giá trên mỗi tờ, không ghi tên và địa chỉ chuyển nhượng.
Mệnh giá cụ thể do Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định
trong từng thời kỳ. Hiện nay, ngân phiếu thanh toán có các mệnh giá là 500.000
đồng, 1.000.000 đồng và 5.000.000 đồng.
Ngân phiếu thanh toán được áp dụng cho khách hàng để thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ, trả nợ ngân hàng, nộp ngân sách, gửi vào tài khoản tiền gửi ngân
hàng và gửi tiết kiệm.
Thủ tục nộp, lĩnh ngân phiếu thanh toán được áp dụng như thủ tục nộp và
lĩnh tiền mặt.
Khi khách hàng không sử dụng ngân phiếu thanh toán hoặc hết thời hạn lưu
hành, người sử dụng ngân phiếu thanh toán nộp vào ngân hàng hay kho bạc nhà
xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng, do giám đốc ngân hàng phát hành thẻ xem xét
và quyết định.
6.2. Thẻ ký quỹ thanh toán (thẻ loại B)
Muốn sử dụng thẻ này khách hàng phải lưu ký tiền vào một tài khoản riêng
tại ngân hàng và được sử dụng thẻ có giá trị thanh toán bằng số tiền ký quỹ ghi
trong thẻ đã lưu ký. Loại thẻ này được áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng.
6.3. Thẻ tín dụng (thẻ loại C)