Một số vấn đề về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt tại Vietinbank Đống Đa - Pdf 10

Lời nói đầu
Hiện nay phát triển kinh tế là một vấn đề mang tính chất toàn cầu mà
mọi quốc gia đều đặt lên mục tiêu hàng đầu, đi đôi với nó là xu hớng quốc tế
hoá các hoạt động kinh tế. Điều này khiến các quốc gia phải thực hiện chính
sách hoà nhập vào cộng đồng kinh tế nói chung. Trớc tình hình đó và thực
hiện mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn minh Đảng ta chủ tr-
ơng chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang cơ chế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc. Đó là tiền đề khách quan kích thích các
tiềm năng trong nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển từng bớc
tham gia vào phân công lao động quốc tế cũng nh tạo dựng tiền đề cho hoạt
động tài chính tiền tệ, đặc biệt là hoạt động ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng Thơng mại
cũng đợc hoàn thiện và phát triển để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, các
Ngân hàng Thơng mại phải không ngừng đổi mới. Nh vậy đổi mới ngân hàng
là xuất phát từ đòi hỏi thực tế khách quan và tầm quan trọng của nó.
Hoạt động của Ngân hàng Thơng mại gồm nhiều loại hình khác nhau
nh huy động vốn, cho vay, làm các dịch vụ cho khách hàng. Với t cách là
trung gian thanh toán nên hoạt động thanh toán là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ
trọng lớn và đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng.
Hơn nữa thói quen dùng tiền mặt trong thanh toán chi trả hàng hoá,
dịch vụ của dân c đã tồn tại từ thời bao cấp. Mỗi năm phải tốn nhiều tỷ đồng
cho chi phí, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm... cha kể thời gian thanh toán
rất chậm. Đây là một lãng phí lớn trong khi hiện nay ta đang cần vốn để đầu
t và phát triển. Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã
khắc phục đợc tình trạng đó. Nó không chỉ tiết kiệm cho nền kinh tế xã hội
mà còn là công cụ thiết thực để điều tiết và thúc đẩy sản xuất, lu thông hàng
hoá và tăng vòng quay của vốn. Bên cạnh đó thanh toán không dùng tiền mặt
giúp cho Ngân hàng Thơng mại có thêm nguồn vốn trong thanh toán. Đối với
ngân hàng nhà nớc thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm lợng tiền trong
lu thông là điều kiện quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia chống lạm

kinh tế.
2
I. Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trờng:
1. Sự cần thiết khách quan:
Từ sau nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, với sự chuyển biến mạnh
mẽ của nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trờng, hoạt động của nền kinh tế đã trở nên sôi động hơn với nhiều loại
hình kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Các quan hệ
hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trờng ngày càng mở rộng.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII cũng đã khẳng định: Hệ thống
ngân hàng cần phải vơn lên làm tốt chức năng trung tâm tiền tệ - tín dụng -
thanh toán của các thành phần kinh tế, huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần từng bớc ổn định giá trị
đồng tiền Việt Nam.
Là một ngành có vai trò trọng tâm của toàn bộ nền kinh tế, ngân hàng
phải đi trớc các ngành kinh tế khác trong công cuộc đổi mới và phát triển của
đất nớc. Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 của
Đảng đã khẳng định rõ: Phải cải tổ hệ thống ngân hàng để hoạt động có
hiệu quả, thực sự trở thành trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán, đóng vai
trò nòng cốt trên thị trờng vốn và tiền tệ.
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời là do chính đòi hỏi ngày càng
cao của nền kinh tế. Sản xuất hàng hoá phát triển qua nhiều giai đoạn từ thấp
đến cao. Nhng ở giai đoạn nào tiền tệ vẫn đóng vai trò là một công cụ có tầm
quan trọng lợi hại đặc biệt và có độ nhạy rất cao. Việc sử dụng công cụ tiền
tệ nh thế nào sẽ gây tác động dây chuyền nh là một tác nhân kinh tế đối với
từng mắt xích hoặc có khi đối với các quá trình kinh tế. Trong các học thuyết
kinh tế, ngời ta đã xác định ngân hàng có vai trò là trung tâm thanh toán của
hệ thống ngân hàng ngày càng rõ nét và to lớn. Tái sản xuất xã hội là một
quá trình liên hoàn, trong đó tồn tại các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá

rời các doanh nghiệp, các cá nhân và các đoàn thể. Trong nền kinh tế thị tr-
4
ờng, thanh toán không dùng tiền mặt đợc thực hiện trôi chảy sẽ đem lại hiệu
quả thiết thực cho tất cả các đối tác tham gia.
- Thứ nhất: Tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong lu
chuyển hàng hoá tiền tệ góp phần làm giảm lợng tiền mặt trôi nổi trên thị tr-
ờng, tiết kiệm đợc chi phí xã hội gắn liền với việc in tiền, huỷ tiền, h hỏng,
bảo quản, kiểm đếm...
Khối lợng tiền cần thiết để thanh toán trong lu thông có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Nếu thanh toán không dùng tiền mặt tăng sẽ làm giảm
khối lợng tiền mặt cần thiết. Vì vậy khối lợng tiền mặt trong lu thông giảm
xuống, sẽ giảm đợc chi phí lu thông mà chủ yếu là chi phí phát hành, bảo
quản, kiểm đếm, cất giữ v.v... Giảm đợc chi phí này sẽ tạo điều kiện tốt để
điều hoà lu thông tiền tệ vì quá trình thanh toán này chịu giám sát trực tiếp
hoặc gián tiếp của ngân hàng nhà nớc. Vì vậy mà chúng ta kế hoạch hoá và
điều hoà lu thông tiền tệ.
- Thứ hai: Thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ sản xuất và lu
thông hàng hoá. Bất kỳ một chu kỳ sản xuất và lu thông hàng hoá nào đều
bắt đầu bằng khâu thanh toán. Do vậy, phải tổ chức thanh toán nhanh gọn,
chính xác vừa đảm bảo an toàn về vốn vừa rút ngắn đợc chu kỳ sản xuất, tăng
tốc độ luân chuyển vốn. Đứng ở tầm vĩ mô, khâu thanh toán ảnh hởng trực
tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, đến kết quả sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp. Nếu nh thanh toán đợc tiến hành trôi chảy sẽ giúp cho lu
thông hàng hoá thông suốt, các hoạt động của nền kinh tế sẽ tiến hành thuận
lợi.
Để tiến hành thanh toán qua ngân hàng, các tổ chức, cá nhân phải mở
tài khoản tiền gửi thanh toán thông qua việc gửi một khoản tiền nhất định vào
ngân hàng. Tính chất của tài khoản này là luôn d có, đó là nguồn vốn huy
động tạm thời tồn đọng trên các tài khoản tiền gửi thanh toán nhng cha sử
dụng đến. Hơn nữa, xuất phát từ tính chất không liên tục của việc nộp tiền

6
ngân hàng đợc đo bằng số lợng và chất lợng các dịch vụ ngân hàng trong đó
có dịch vụ thanh toán.
+ Về chi phí ngân hàng:
Lãi suất ngân hàng phải trả cho số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán
là rất thấp, thậm chí một số nớc trên thế giới ngời gửi tiền không đợc hởng lãi
trên số d tài khoản tiền gửi thanh toán. Vì vậy ngân hàng có thể lợi dụng việc
mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt nh một giải pháp hữu hiệu để thay
đổi cơ cấu nguồn vốn theo xu hớng tăng tỷ trọng nguồn vốn có chi phí thấp,
giảm tỷ trọng nguồn vốn có chi phí cao.
Bên cạnh đó, thông qua việc quản lý biến động về số d trên tài khoản
tiền gửi ngân hàng thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát hoạt độn, khả
năng tài chính của các doanh nghiệp. Đây là cơ sở rất quan trọng để ngân
hàng thực hiện nghiệp vụ t vấn, đầu t có hiệu quả.
- Thứ năm: Vai trò đối với quản lý vĩ mô của Nhà nớc, ngân hàng là
tổ chức kinh tế thông qua đó các chính sách của Nhà nớc về tiền tệ, tín dụng
và thanh toán đợc thực hiện. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nớc qua các ngân
hàng chỉ thực sự phát huy đầy đủ tác dụng khi phần lớn khối lợng thanh toán
tập trung qua các ngân hàng. Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tạo
điều kiện cho ngân hàng Nhà nớc quản lý một cách tổng thể quá trình sản
xuất và lu thông hàng hoá.
II. Quá trình phát triển của nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
ở Việt nam.
1. Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập
trung.
ở nớc ta từ khi có hệ thống ngân hàng ra đời, phơng thức thanh toán
không dùng tiền mặt đã đợc áp dụng.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp nền kinh tế đợc
thực hiện theo cơ chế hành chính, mệnh lệnh, sản xuất hàng hoá và tiêu thụ
7

ngân hàng vừa thực hiện chức năng kinh doanh hoạt động theo phơng thức kế
hoạch hoá tập trên từ dới lên trên.
2. Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần.
Khi nền kinh tế của nớc ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng đòi hỏi ngành ngân hàng phải tiến hành sửa
đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chế độ, thể lệ thanh toán và áp dụng tiến bộ
khoa học vào kỹ thuật thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp và đáp
ứng đợc yêu cầu đa dạng hoá của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Ngày 26/03/1988 Hội đồng Bộ trởng ban hành Nghị định 53 về tổ
chức bộ máy ngân hàng theo Nghị định này hệ thống ngân hàng bắt đầu đợc
chia thành hai cấp.
- Cấp quản lý: Là Ngân hàng Nhà nớc có chức năng độc quyền phát
triển tiền, quản lý nhà nớc trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng trên tầm
quản lý vĩ mô.
- Cấp kinh doanh: Là các ngân hàng chuyên doanh thuộc sở hữu nhà
nớc và vẫn trực thuộc ngân hàng trung ơng. Các ngân hàng này có chức năng
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Sau khi hai pháp lệnh ngân hàng ra đời ngày 23/05/1990 đã đáp ứng
nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trờng là lần lợt các Ngân hàng Thơng
mại, ngân hàng cổ phần đợc thành lập, chi nhánh ngân hàng nớc ngoài...
Năm 1990 hệ thống kho bạc ra đời mà chức năng quản lý quỹ ngân sách nhà
nớc. Bắt đầu của thời kỳ thanh toán không dùng tiền mặt đợc thực hiện bằng
quyết định 101/NH-QĐ ngày 30/07/1991. Quyết định này ban hành các thể
lệ chế độ thanh toán không dùng tiền mặt bằng bốn công cụ sau:
- Séc,
- Uỷ nhiệm chi,
9
- Uỷ nhiệm thu,
- Thẻ tín dụng,

kho bạc khi tham gia thanh toán bừ trừ đợc giao nhận chứng từ hai phiên
trong ngày qua đĩa mềm (tại ngân hàng chủ trì là ngân hàng nhà nớc).
Việc áp dụng thanh toán điện tử, thanh toán bừ trừ đã làm tăng
nhanh tốc độ thanh toán, giảm bớt thời gian chiếm dụng vốn, mức độ an toàn
cao, tiện lợi cho các khách hàng, rút ngắn thời gian chu chuyển vốn của
doanh nghiệp và cá nhân.
- Bổ sung hai công cụ thanh toán mới: ngân phiếu thanh toán và thẻ
thanh toán, sửa đổi một số quy định trong các công cụ thanh toán truyền
thống lạc hậu đã thấy rõ ngân hàng đã làm tốt chức năng thanh toán, đáp ứng
yêu cầu đổi mới của nền kinh tế nhiều thành phần.
- Việc ngân hàng từng bớc áp dụng công nghệ tin học tiên tiến vào
thanh toán nhằm hạn chế sai sót nhỏ của thao tác thủ công, tăng nhanh tốc độ
luân chuyển nhằm thu hút khách hàng, tạo lòng tin của ngân hàng đối với
doanh nghiệp và cá nhân. Đồng thời cũng nâng cao trình độ của ngành ngân
hàng trong nớc tiến kịp các ngân hàng trong khu vực và thế giới.
- Việc khách hàng đợc tự do lựa chọn ngân hàng để hoạt động đã tạo
điều kiện mở rộng mạng lới thanh toán không dùng tiền mặt. Để thu hút đợc
nhiều khách hàng ngân hàng phải nâng cao uy tín của mình bằng chất lợng
hoạt động kinh doanh của ngân hàng trên thơng trờng.
Xuất phát từ sự đổi mới này, thanh toán không dùng tiền mặt ở nớc
ta, đặc biệt từ sau quyết định 22/QĐ-NH đã tăng nhanh về số lợng, chất lợng
và các thành phần tham gia. Nh vậy lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt
đã không ngừng đợc mở rộng ở mọi thành phần kinh tế. Việc nâng cao và cải
tiến áp dụng khoa học tiên tiến vào kỹ thuật thanh toán luôn là khâu mấu
chốt quan trọng để ngân hàng đảm bảo thanh toán nhanh, an toàn rút ngắn
thời gian thanh toán, chính xác tiện lợi, góp một phần không nhỏ vào công
11
cuộc đổi mới kinh tế thị trờng của đất nớc. Qua đó nó cũng tỏ rõ u thế hơn
hẳn của thanh toán không dùng tiền mặt so với thanh toán bằng tiền mặt.
III. Những quy định mang tính nguyên tắc về thanh toán không dùng

tiền) phải có đủ số d trên tài khoản. Mọi trờng hợp thanh toán vợt quá số d
trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc nhà nớc là vi phạm chế độ
thanh toán và phải bị xử lý theo pháp luật ''.
Quy định này nhằm tránh tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa
các bên tham gia thanh toán, giúp cho ngời chi trả cũng nh ngời thụ hởng chủ
động vốn của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần tăng nhanh
vòng quay vốn của các đơn vị kinh tế cũng nh tăng nhanh tốc độ luân chuyển
vốn trong toàn bộ nền kinh tế.
2.2. Quy định đối với bên bán (bên thụ hởng)
''Ngời thụ hởng khi nhận đợc các chứng từ thanh toán phải kiểm tra
tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ này (ghi đầy đủ mọi yếu tố quy định,
không sửa chữa tẩy xoá các chữ ký và dấu phải đúng với mẫu chữ ký đã đăng
ký ở ngân hàng). Nộp các chứng từ thanh toán vào ngân hàng đúng với thời
gian quy định cho từng loại chứng từ. Nếu thiếu một trong các điều kiện trên,
giấy tờ thanh toán sẽ không hợp lệ, không có giá trị thanh toán ''.
Quy định này nhằm bảo vệ an toàn tài sản cho các khách hàng kể cả
ngời chi trả, ngời thụ hởng và ngân hàng tránh tình trạng sơ hở để kẻ gian lợi
dụng tham ô.
3. Quy định đối với ngân hàng (ngời thực hiện thanh toán).
Ngân hàng Thơng mại và kho bạc nhà nớc có trách nhiệm thực hiện
các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản, đảm bảo chính xác, kịp thời, an
toàn, thuận tiện. Các Ngân hàng Thơng mại và kho bạc nhà nớc có trách
13
nhiệm chi trả bằng tiền mặt hay chuyển khoản trong phạm vi số d tài khoản
tiền gửi theo yêu cầu của chủ tài khoản.
Ngân hàng Thơng mại và kho bạc Nhà nớc có trách nhiệm kiểm tra
khả năng thanh toán của chủ tài khoản (bên trả tiền) trớc khi thực hiện việc
thanh toán, đồng thời đợc quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ
tiền hoặc chứng từ thanh toán không đầy đủ các yếu tố quy định. Ngân hàng
Thơng mại hay kho bạc nhà nớc không chịu trách nhiệm về nội dung liên đới

động ngân hàng theo cơ chế thị trờng, trớc đây theo quyết định số 22/QĐ -
NH1 ban hành ngày 21/2/1994 và hiện nay theo nghị định 30/CP của chính
phủ ban hành ngày 09/5/1996 ngân hàng đang áp dụng các thể thức sau.
- Thanh toán bằng tiền séc
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - chyuển tiền
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu
- Thanh toán bằng thẻ tín dụng
- Thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán
- Thanh toán bằng thẻ thanh toán
1. Thanh toán bằng séc:
Séc đợc thực hiện thanh toán qua ngân hàng từ năm 1951(khi ngân
hàng Việt Nam thành lập) theo quyết định 101/QĐNH ra đời rồi thay thế
bằng quyết định 22/QĐ của thống đốc ngân hàng Nhà nớc ngày 21/2/1994 và
gần đây nhất là nghị định 30/CP ngày 09/5/1996 của Chính phủ đã quy định
thống nhất việc thanh toán bằng séc qua ngân hàng.
Séc là loại giấy tờ thanh toán do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵn đặc
biệt của ngân hàng, đợc giao trực tiếp cho ngời hởng sau khi đã nhận hàng
hoá và đợc cung ứng dịch vụ sau đó ngân hàng trích tài khoản của mình cho
ngời đợc hởng có tên trên tờ séc.
15
Trong quan hệ thanh toán gồm có 3 chủ thể:
- Ngời phát hành: Là chủ tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc ngời đợc
uỷ quyền ký tên để phát hành tờ séc theo đúng quy định của pháp luật về uỷ
quyền. Ngời phát hành séc phải chịu mọi trách nhiệm pháp lý về việc pháp
hành séc của mình theo đúng thủ tục của ngân hàng quy định và phải chịu
phạt khi phát hành quá số d.
- Ngời thụ hởng séc: Là ngời có quyền sở hữu số tiền ghi trên séc.
Khi nhận séc ngời thụ hởng phải kiểm tra đầy đủ tính hợp lệ, hợp pháp của tờ
séc và phải nộp vào ngân hàng tờ séc đó trong thời hạn của nó.
- Ngân hàng: Séc của ngân hàng hay khách hàng phát hành trớc hết

mức lãi suất nợ quá hạn loại cho vay cao nhất tại ngân hàng phục vụ ngời
phát hành.
Trờng hợp séc chuyển khoản thanh toán giữa hai ngân hàng có tham
gia giao nhận chứng từ trực tiếp thì ngời hởng lập bảng kê nộp séc theo từng
ngân hàng phục vụ ngời chi trả để nộp vào ngân hàng phục vụ mình hoặc nộp
trực tiếp vào ngân hàng phục vụ bên mua. Nếu nộp séc kèm bảng kê nộp séc
vào ngân hàng phục vụ bên bán thì ngân hàng bên bán sẽ chuyển séc và bảng
kê sang ngân hàng phục vụ bên mua để ngân hàng bên mua căn cứ vào tờ séc
cùng các chứng từ khác để hạch toán:
Nợ: Tài khoản đơn vị phát hành séc.
Có: Tài khoản thanh toán bù trừ.
Hoặc có: Tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nớc (nếu thanh toán
qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nớc).
Hoặc có: Tài khoản liên hàng đi (hai ngân hàng cùng hệ thống có
thanh toán).
17
Sau đó chuyển chứng từ vào bảng kê sang ngân hàng phục vụ đơn vị
bán. Tại ngân hàng phục vụ đơn vị bán sẽ hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi tại ngân hàng Nhà nớc.
Hoặc: TK thanh toán bù trừ.
Hoặc: TK liên hàng đến.
Có: TK của đơn vị bán.
1.2. Séc bảo chi:
* Nội dung và phạm vi phát hành séc bảo chi:
- Séc bảo chi là tờ séc đợc ngân hàng phục vụ ngời mua đảm bảo thanh
toán trớc khi trao tờ séc cho ngời bán.
- Séc bảo chi đợc thanh toán trong phạm vi giữa hai đơn vị mua và bán
mở tài khoản cùng một Ngân hàng, giữa hai đơn vị mua và bán mở tài khoản
ở hai ngân hàng khác hệ thống nhng có tham gia thanh toán bù trừ và giao
nhận chứng từ trực tiếp và đợc áp dụng giữa 2 đơn vị mua và bán ở khác ngân

Có : TK tiền gửi của ngời thụ hởng .
Tại ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành séc (đơn vị mua) khi nhận đợc
các chứng từ kèm séc bảo chi từ ngân hàng khác chuyển đến thì sẽ hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi.
Có: TK liên hàng đến.
Hoặc TK thanh toán bù trừ.
19
2. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - chuyển tiền:
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản đợc lập theo mẫu in
sẵn của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền
gửi) thanh toán để chi trả cho ngời thụ hởng.
Uỷ nhiệm chi dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng hoá, dịch
vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống ngân hàng.
Trong một ngày làm việc, ngân hàng hoặc kho bạc nhà nớc phải hoàn
tất lệnh chi đó hoặc từ chối nếu tài khoản của khách không đủ tiền hoặc lệnh
chi không hợp lệ. Ngân hàng bên thụ hởng khi nhận đợc chứng từ hợp lệ phải
ghi có ngay vào tài khoản của khách hàng và báo cho khách biết.
Uỷ nhiệm chi còn để xin cấp séc chuyển tiền, nếu khách hàng có nhu
cầu xin cấp séc chuyển tiền phải lập 3 liên uỷ nhiệm chi kèm theo chứng
minh th của ngời cầm séc mang đến ngân hàng thanh toán xin ký gửi khoản
tiền trên tờ séc vào tài khoản của ngân hàng đảm bảo cho thanh toán séc. Sau
khi kiểm soát đầy đủ các yếu tố, ngân hàng sẽ cấp séc uỷ nhiệm (chỉ đựơc áp
dụng trong cùng hệ thống ngân hàng). Thời hạn hiệu lực tờ séc chuyển tiền là
30 ngày kể từ ngày phát hành ghi trên tờ séc.
Uỷ nhiệm chi là một hình thức thanh toán đơn giản thuận tiện và đợc
áp dụng nhiều năm nay. Uỷ nhiệm chi đợc sử dụng khá phổ biến trong thanh
toán phi hàng hoá nh cấp kinh phí, trả nợ, thực hiện nghĩa vụ ngân sách.
Hớng đổi mới công nghệ thanh toán là phát huy u thế của công cụ uỷ
nhiệm chi trong việc hình thành và phát triển các quan hệ thơng mại, tín
nhiệm giữa các doanh nghiệp trong cả nớc.

phát từ bên bán nhng đòi hỏi ghi Nợ trớc Có sau cho nên thanh toán chậm
trễ, không thu hút đợc khách hàng.
4. Thanh toán bằng th tín dụng.
21
Th tín dụng đợc dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán
đòi hỏi phải có đủ số tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng đã
giao theo hợp đồng hoặc đơn đặt hàng đã ký.
Khi có nhu cầu, bên mua lập giấy mở th tín dụng yêu cầu ngân hàng
phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi (hoặc tiền vay ngân hàng) một số tiền
bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lu ký vào một tài khoản riêng. Ngân hàng
bên trả tiền phải gửi ngay th tín dụng cho ngân hàng phục vụ bên thụ hởng để
báo cáo cho khách hàng biết.
Mức tối thiểu của một th tín dụng là 10 triệu đồng, tiền gửi th tín
dụng không đợc hởng lãi, mỗi th tín dụng chỉ dùng để trả cho một ngời thụ h-
ởng.
Thời hạn hiệu lực thanh toán của một th tín dụng là 03 tháng kể từ
ngày ngân hàng bên mua nhận mở th tín dụng. Bên bán có trách nhiệm giao
hàng cho bên mua sau khi nhận đợc giấy báo th tín dụng đã mở.
Th tín dụng đợc áp dụng thanh toán giữa hai đơn vị mở và sử dụng tài
khoản ở hai ngân hàng khác nhau trong cùng hệ thống.
Ngân hàng phục vụ ngời thụ hởng trả tiền cho bên thụ hởng căn cứ
vào hoá đơn, vận đơn, các chứng từ giao nhận hàng có chữ ký của ngời đại
diện trả tiền, kèm theo giấy uỷ nhiệm của ngời đã trả tiền do ngời thụ hởng
xuất trình, phù hợp với các điều khoản quy định thống nhất giữa hai bên mua,
bán đợc ghi trên th tín dụng. Sau khi trả tiền ngân hàng phục vụ ngời thụ h-
ởng phải báo nợ ngay cho ngân hàng phục vụ ngời trả tiền để tất toán th tín
dụng.
Mọi trờng hợp tranh chấp về hàng hoá đã giao và tiền hàng đã trả do
hai bên mua bán giải quyết.
Phần lớn th tín dụng đợc áp dụng trong thanh toán ngoại thơng. Mua

Ngân phiếu thanh toán là một hình thức mới ra đời, khách hàng rất a
chuộng vì sử dụng tiện lợi, nh sử dụng tiền mặt, song lại tiết kiệm nhiều công
sức kiểm đếm giao nhận, phạm vi thanh toán rộng, tốc độ thanh toán nhanh,
phù hợp với cơ chế thị trờng. Ngời sử dụng ngân phiếu chủ động. Nếu để
thanh toán ngân phiếu lu thông một cách qúa rộng rãi cũng có thể gây ra lạm
phát nh lu thông tiền mặt. Từ đó ngân phiếu thanh toán chỉ coi nh là một giải
pháp tình thế trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi. Khi nhu cầu tiền
mặt đủ đảm bảo bình thờng thì thay thế ngân phiếu thanh toán bằng hình
thức thích hợp hơn.
6. Thẻ thanh toán.
Thẻ thanh toán là một phơng tiện thanh toán gắn với kỹ thuật tin học
đợc ứng dụng trong ngân hàng.
Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử
dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt
tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền tự động.
Thẻ thanh toán có nhiều loại, trớc mắt đợc áp dụng 03 loại thẻ sau:
6.1. Thẻ ghi nợ (thẻ không phải ký quỹ) còn lại là thẻ loại A.
Khách hàng sử dụng loại thẻ này không phải lu ký trớc số tiền vào
một tài khoản nhằm đảm bảo thanh toán cho thẻ mà căn cứ để thanh toán là
dựa trên số d tài khoản tiền gửi của khách hàng và hạn mức thanh toán theo
quy định đã đợc ngân hàng ghi vào bộ nhớ của thẻ.
Thẻ đợc dùng đối với khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán th-
ờng xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng, do giám đốc ngân hàng phát hành
thẻ xem xét và quyết định.
6.2. Thẻ ký quỹ thanh toán (thẻ loại B)
Muốn sử dụng thẻ này khách hàng phải lu ký tiền vào một tài khoản
riêng tại ngân hàng và đợc sử dụng thẻ có giá trị thanh toán bằng số tiền ký
24
quỹ ghi trong thẻ đã lu ký. Loại thẻ này đợc áp dụng rộng rãi cho mọi khách
hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status