Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam đã qua hơn một thập niên đổi mới và phát triển đạt
đợc những thanh tựu khả quan đa đất nớc ra khỏi khủng hoảng tạo lập những cơ
hội thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá trong vài thập kỷ tới. Những thành công
trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ đóng vai trò quan trọng về sự ổn định vĩ mô của
nền kinh tế. Từ năm 1992 trở đi lạm phát đợc kiểm soát, thiết lập đợc cơ chế lãi
suất dơng, tỷ giá hối đoái biến động theo xu thế tích cực, giá trị đồng nội tệ và tỷ
giá đợc ổng định. Cơ chế quản lý nói chung trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ nói
riêng đang đợc tiếp tục chuyển đổi theo nguyên tắc thị trờng.
Để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, cũng để phù hợp với nền kinh tế Việt
Nam hiện nay, thì hệ thống Ngân hàng thơng mại cũng ngày càng hoàn thiện và
phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã có những thay đổi nhanh chóng, mạng
lới đợc mở rộng, hệ thống thanh toán và công nghệ Ngân hàng từng bớc đợc hiện
đại hoá tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật để thu hút và huy động nguồn vốn
thanh toán và tiền gửi dân c.
Hoạt động của Ngân hàng thơng mại gồm nhiều loại hình khác nhau nh
huy động vốn, cho vay, làm các dịch vụ khác cho khách hàng. Ngân hàng với t
cách là trung gian thanh toán trong nền kinh tế nên hoạt động thanh toán là hoạt
động cơ bản, thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn sẽ tạo điều kiện thúc đẩy
quá trình chu chuyển vốn, tăng vòng quay của vốn, giảm lợng tiền cần thiết trong
lu thông... và cuối cùng là tiết kiệm chi phí cho xã hội thanh toán là một trong
những nhiệm vụ chủ yếu của ngành Ngân hàng.
Phơng thức thanh toán trong các lớp dân c hiện nay phổ biến là thanh toán
tiền mặt trực tiếp tay trao tay. Theo phơng thức thanh toán này; mỗi năm phải tốn
nhiều tỷ đồng cho chi phí bảo quản, kiểm đếm, vận chuyển ... cha kể thời gian
thanh toán chậm, mà cha chắc đã an toàn. Đây là một khỏan tổn thất lớn, mà hiện
nay ta đang cần rất nhiều vốn để đầu t và phát triển. Phơng thức thanh toán qua
Ngân hàng khắc phục đợc tình trạng đó. Nó không chỉ tiết kiệm đợc chi phí cho
nền kinh tế xã hội, mà còn là công cụ thiết thực để điều tiết và thúc đẩy hoạt động
sản xuất, lu thông hàng hoá và tăng vòng quay của vốn trong nền kinh tế. Bên
vậy qua chuyên đề này em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp quý báu của
các thầy cô giáo, các cán bộ Ngân hàng, cùng toàn thể các bạn sinh viên để
chuyên đề đợc hoàn thiện hơn, giúp cho em nắm chắc hơn nữa trong quá trình
nghiên cứu và công tác sau này.
Em xin chân thành cảm ơn./. Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
2
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
chơng I
Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế.
1/ Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền
mặt (TTKDTM) trong nền kinh tế:
1.1 Sự cần thiết khách quan:
Thanh toán tiền tệ trong nền kinh tế diễn ra dới hai hình thức là thanh toán
bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu thanh toán bằng tiền mặt có
sự xuất hiện của tiền trong quá trình thanh toán thì thanh toán không dùng tiền
mặt không có sự xuất hiện của tiền trong quá trình thanh toán mà đợc tiến hành
bằng cách trích tiền từ tài khoản của ngời chi trả chuyển vào tài khoản của ngời
thụ hởng; hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân
hàng.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của lu thông, trao đổi hàng hoá, cũng từ sau
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI. Với sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế
từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng, hoạt động của
nền kinh tế đã trở nên sôi động hơn với nhiều loại hình kinh doanh thuộc nhiều
thành phần kinh tế khác nhau. Các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trờng
ngày càng mở rộng.
chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Tập trung công tác thanh toán vào Ngân
hàng có một ý nghĩa to lớn không chỉ đối với xã hội, Chính phủ mà còn với cả các
doanh nghiệp và các tầng lớp dân c.
Ngân hàng đứng trên phơng diện rộng lớn. Nó phản ánh kinh tế của một n-
ớc. Nhìn vào những hoạt động và trình độ công nghệ của các nghiệp vụ trong
Ngân hàng ta có thể đánh giá đợc trình độ phát triển kinh tế của nớc đó. Hệ thống
Ngân hàng phát triển mạnh mẽ sẽ tạo ra động lực cho mọi ngành kinh tế khác
trong nớc phát triển và ngợc lại.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá thanh toán bằng tiền mặt
ngày càng bộc lộ nhiều nhợc điểm. Các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng, phức tạp,
thanh toán không ngừng tăng lên về khối lợng và chất lợng. Nh vậy, chính với sự
phát triển của nền sản xuất và lu thông hàng hoá đã dẫn đến sự ra đời của một ph-
ơng thức thanh toán mới u việt hơn.
Đó là: Phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt là một nấc thang phát triển tất yếu của
nghiệp vụ thanh toán trong nền kinh tế thị trờng và chính nó đã từng bớc đáp ứng
đợc yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
1.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị
trờng:
Khi thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã khắc phục đợc những nhợc
điểm của thanh toán bằng tiền mặt và phát huy đợc vai trò to lớn đối vơí sản xuất,
lu thông hàng hoá; tiết kiệm chi phí lu thông; góp phần tăng nguồn vốn cho Ngân
hàng và tăng quản lý vĩ mô đối với hoạt động thanh toán trong nền kinh tế.
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
4
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
Công tác thanh toán là một trong những chức năng Trung tâm của Ngân
hàng Nhà nớc. Theo đà phát triển chung của xã hội và hệ thống Ngân hàng, thanh
nguồn vốn tín dụng khá lớn và có chi phí thấp (vì trả lãi thấp), mà Ngân hàng đợc
phép sử dụng để mở rộng đầu t và tín dụng cho nền kinh tế. (sau khi duy trì một tỷ
lệ nhất định để đảm bảo chi trả cho chủ tài khoản trong mọi trờng hợp).
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
5
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
- Thứ ba: Thanh toán không dùng tiền mặt giúp Ngân hàng và các tổ chức
tín dụng tập trung đợc nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c vào nền kinh tế để mở rộng
việc cấp tín dụng cho Ngân hàng.
Nh đã đề cập trong vai trò thứ hai, Ngân hàng có thể sử dụng một phần
nguồn vốn từ tài khoản tiền gửi thanh toán để cho vay, mở rộng việc cấp tín dụng
cho nền kinh tế.
Chỉ tiêu kế hoạch tín dụng tổng hợp là một trong những chỉ tiêu kế hoạch
quan trọng nền kinh tế, mà kế hoạch tín dụng muốn thực hiện đợc tốt thì phải đẩy
mạnh công tác thanh toán qua Ngân hàng. Việt thanh toán này diễn ra càng nhanh
chóng thì sẽ giải phóng nhanh vốn trong khâu thanh toán, kết quả là tạo ra nguồn
vốn nhàn rỗi lớn thì đẩy mạnh hoạt động cho vay của Ngân hàng và cuối cùng là
tạo điều kiện để kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Xu hớng trong thời gian tới khối lợng thanh toán sẽ tiếp tục tăng nhanh, do
vậy nguồn vốn tiền gửi thanh toán sẽ chiếm đoạt tỷ trọng đáng kể trong toàn bộ cơ
cấu nguồn vốn của Ngân hàng.
- Thứ t: Thanh toán qua Ngân hàng đã và đang trở thành công cụ cạnh
tranh có hiệu quả của các Ngân hàng nhằm thu hút khách hàng. Điều này thể hiện
trên hai khía cạnh sau:
+ Về dịch vụ Ngân hàng:
Mục đích của khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng không chỉ để hởng lãi
mà còn để mua các dịch vụ Ngân hàng và dịch vụ dần sẽ trở thành mục đích chính
của khách hàng. Vì vậy sức mạnh và khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng đợc
xuất và tiêu thụ sản phẩm trong xã hội tốt hay xấu cũng không ảnh hởng gì đến
nền kinh tế bao cấp này. Hoạt động của Ngân hàng cũng đợc thực hiện theo cơ chế
đó cho nên hiệu quả kinh tế của Ngân hàng cũng nh toàn bộ nền kinh tế không đ-
ợc quan tâm nhiều.
Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ kế hoạch hoá đợc thực hiện
theo Nghị định 75/NĐ - CP. Với nguyên tắc cứng nhắc, kém hiệu quả - cụ thể ph-
ơng thức thanh toán lòng vòng, chậm chạp (một khoản chuyển tiền thanh toán chi
trả tiền hàng khi thực hiện phải mất nhiều thời gian từ 5-10 ngày). Vì công cụ
thanh toán kém linh hoạt, thủ tục phức tạp, các phơng tiện làm việc lạc hậu, công
cụ thanh toán nói trên dẫn đến tốc độ luân chuyển vốn chậm chạp, thiếu chính
xác, cung cấp thông tin không kịp thời và không đảm bảo quyền lợi cho các bên
tham gia thanh toán làm ảnh hởng đến tốc độ và kéo dài chu kỳ sản xuất và lu
thông hàng hoá.
Ngoài công cụ thanh toán nghèo nàn Ngân hàng còn có qui định cho các
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế chỉ đợc mở tài khoản tiền gửi tại đại phơng
mình hoạt động (cùng địa phơng). Khách hàng không đợc tự do lựa chọn Ngân
hàng dẫn đến không có sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp việc thanh toán
không dùng tiền mặt ở nớc ta tuy đã đợc áp dụng khá rộng rãi trong nền kinh tế
nhằm giảm bớt lợng tiền mặt đi vào lu thông bằng cách Ngân hàng đã qui định
cho các doanh nghiệp định mức tồn quĩ tiền mặt, định mức tạo chi nh ng vấn
kém hiệu quả, cụ thể những năm đó lợng tiền mặt trong lu thông rất lớn, Ngân
hàng ở trong tình trạng khan hiếm tiền mặt, nh vậy Ngân hàng vẫn cha làm tốt
chức năng thanh toán của mình để giúp cho nền kinh tế phát triển. Ngân hàng đợc
xây dựng theo mô hình một cấp gồm Ngân hàng Nhà nớc và các chi nhánh vừa
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
7
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
Sau một thời gian thực hiện bốn công cụ trên cha đáp ứng đợc đầy đủ nhu
cầu đa dạng hoá của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng. Để đáp
ứng nhu cầu cấp bách của thị trờng Ngân hàng Nhà nớc đã bổ sung và ra Quyết
định số 22/QĐ-NH1 ngày 22/02/1994 theo Quyết định này đã bổ sung thêm hai
công cụ thanh toán mới đó là:
- Ngân phiếu thanh toán.
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
8
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
- Thẻ thanh toán.
Ngày 01/4/1997 Thủ tớng Chính phủ có Quyết định 196/TTg về việc cho
phép Ngân hàng, tổ chức tín dụng đợc sử dụng dữ liệu thông tin trên vật mang tin
để làm chứng từ kế toán và thanh toán. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo bớc
khởi đầu cho việc thực hiện chuyển tiền điện của hệ thống Ngân hàng phát triển.
Riêng thanh toán bằng séc đã đợc bổ sung thêm séc cá nhân nhằm thu hút
và tạo điều kiện cho ngời dân quen dần với công việc thanh toán qua Ngân hàng.
Sau đó ngày 09/5/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 30/CP về việc sử dụng séc
mới trong cả nớc áp dụng kể từ ngày 01/4/1997 thay thế cho các loại séc cũ. Việc
áp dụng công cụ thanh toán mới đã đáp ứng đợc những yêu cầu thanh toán đa
thành phần trong nền kinh tế, mọi tổ chức cá nhân trong nền kinh tế đều có tể
tham gia trực tiếp thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng nhằm thúc đẩy
sản xuất hàng hoá, dịch vụ phát triển, góp phần phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Từ khi đổi mới chế độ thanh toán không dùng tiền mặt ở nớc ta đã có
nhiều chuyển biến tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điều này đợc chứng minh
ở các mặt sau:
- Qua các công cụ thanh toán liên hàng giữa các Ngân hàng trong toàn
quốc và thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng đã có bớc tiến bộ rõ rệt.
- Việc Ngân hàng từng bớc áp dụng công nghệ tin học tiên tiến vào thanh
toán nhằm hạn chế sai sót nhỏ của thao tác thủ công, tăng nhanh tốc độ luân
chuyển nhằm thu hút khách hàng, tạo lòng tin của Ngân hàng đối với doanh
nghiệp và cá nhân. Đồng thời cũng nâng cao trình độ của ngành Ngân hàng trong
nớc tiến kịp các Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.
- Việc khách hàng đợc tự do lựa chọn Ngân hàng để hoạt động đã tạo điều
kiện mở rộng mạng lới thanh toán không dùng tiền mặt. Để thu hút đợc nhiều
khách hàng Ngân hàng phải nâng cao uy tín của mình bằng chất lợng hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng trên thơng trờng.
Xuất phát từ sự đổi mới này, thanh toán không dùng tiền mặt ở nớc ta, đặc
biệt sau Quyết định 22/QĐ-NH đã tăng nhanh về số lợng, chất lợng và các thành
phần tham gia. Nh vậy lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt đã không ngừng
đợc mở rộng ở mọi thành phần kinh tế. Việc nâng cao và cải tiến áp dụng khoa
học kỹ thuật thanh toán luôn là khâu mấu chốt quan trọng để Ngân hàng đảm bảo
thanh toán nhanh, an toàn, rút ngắn thời gian thanh toán, chính xác tiện lợi, góp
một phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới kinh tế thị trờng của đất nớc. Qua đó
nó cũng tỏ rõ u thế hơn hẳn của thanh toán không dùng tiền mặt so với thanh toán
bằng tiền mặt.
Qua đó ta thấy việc thanh toán xuất hiện từ khi có hệ thống Ngân hàng ra
đời và lúc đó phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng xuất hiện, nhng
trong từng thời kỳ kinh tế khác nhau thì phơng thức thanh toán cũng khác nhau:
Cụ thể là các phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng hiện đại hơn,
nhanh chóng, chính xác hơn so với thời kỳ trớc.
Tuy nhiên việc thanh toán không dùng tiền mặt cũng phải là những qui
định mang tính nguyên tắc cụ thể.
3/ Những qui định mang tính nguyên tắc về thanh toán không dùng
tiền mặt ở Việt Nam:
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
cá nhân làm tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng chế độ ban
hành. Nhằm nâng cao uy tín của Ngân hàng trên thị trờng và thu hút ngày càng đ-
ợc nhiều khách hàng hơn, Ngân hàng phải làm thế nào đó để khách hàng không
quên đợc Ngân hàng.
3.2. Quy định đối với khách hàng:
3.2.1 Quy định đối với bên mua (bên phải trả):
Để thực hiện thanh toán đầy đủ, kịp thời, các chủ tài khoản (bên trả tiền)
phải có đủ số d trên tài khoản. Mọi trờng hợp thanh toán vợt quá số d trên tài
khoản tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nớc là vi phạm chế độ thanh toán và
phải xử lý theo pháp luật.
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
11
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
Quy định này nhằm tránh tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các bên
tham gia thanh toán, giúp cho ngời chi trả cũng nh ngời thụ hởng chủ động vốn
của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần tăng nhanh vòng quay
vốn của các đơn vị kinh tế cũng nh tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong toàn
bộ nền kinh tế.
3.2.2 Quy định đối với bên bán (bên thụ hởng).
Ngời thụ hởng khi nhận đợc các chứng từ thanh toán phải kiểm tra tính
hợp pháp, hợp lệ của chứng từ này (ghi đầy đủ mọi yếu tố quy định, không sửa
chữa, tẩy xoá các chữ ký và dấu phải đúng với mẫu chữ ký đã đăng ký ở Ngân
hàng). Nộp các chứng từ thanh toán vào Ngân hàng đúng với thời gian qui định
cho từng loại chứng từ. Nếu thiếu một trong các điều kiện trên, giấy tờ thanh toán
sẽ không hợp lệ, không có giá trị thanh toán.
Quy định này nhằm bảo vệ an toàn tài sản cho các khách hàng kể cả ngời
chi trả, ngời thụ hởng và Ngân hàng tránh tình trạng sơ hở để kẻ gian lợi dụng
tham ô.
Ngân hàng khi thực hiện thanh toán. Việc thu phí dịch vụ thanh toán làm tăng
khoản thu nhập của Ngân hàng.
Để thực hiện thanh toán phải có các hình thức thanh toán thích hợp. Hệ
thống các hình thức thanh toán do Ngân hàng Nhà nớc ban hành để áp dụng thống
nhất trong toàn bộ nền kinh tế.
4/ Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đợc áp dụng ở nớc
ta hiện nay:
Nền kinh tế ngày càng phát triển, nhận thức cũng nh đời sống của ngời dân
ngày càng cao, để đáp ứng đợc nhu cầu đa dạng của các mối quan hệ xã hội, trong
quá trình hoạt động kinh tế, ngày nay hầu hết các Ngân hàng đã và đang từng bớc
cải tiến lại toàn bộ hoạt động của Ngân hàng, cả về tổ chức bộ máy tình hình hoạt
động và bên cạnh đó là các phơng thức thanh toán cụ thể, với thời đại tin hoặc hoá
vào khâu thanh toán song song với việc thực hiện áp dụng khoa học kỹ thuật,
ngành Ngân hàng cũng ra sức hoàn thiện các hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt sao cho mang lại kết quả cao nhất.
Thanh toán không dùng tiền mặt đợc hiểu một cách đơn giản là trong quá
trình thanh toán không có sự xuất hiện của tiền.
Thanh toán không dùng tiền mặt là phơng thức thanh toán có nhiều u
điểm. Nó đợc áp dụng rộng rãi trên khắp thế giới. ở Việt Nam thanh toán không
dùng tiền mặt đợc áp dụng trong Ngân hàng kể từ khi Ngân hàng mới đợc thành
lập. Để phù hợp với yêu cầu đổi mới nền kinh tế và đổi mới hoạt động Ngân hàng
theo cơ chế thị trờng, trớc đây theo Quyết định số 22/QĐ-NH
1
ban hành ngày
21/02/1994 và hiện nay theo Nghị định 30/CP của Chính phủ ban hành ngày
09/5/1996 Ngân hàng đã áp dụng các hình thức sau: Hiện nay có Việt Nam sử
dụng 6 hình thức thanh toán là:
- Thanh toán bằng séc.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - chuyển tiền.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu.
+ Nếu séc dùng để thanh toán chuyển khoản (séc chuyển khoản) thì ở mặt
trớc tờ séc (góc phía bên trái tờ séc) phải gạch 2 đờng thẳng song song bằng thớc,
hoặc ghi dòng chữ chuyển khoản.
+ Nếu bảo chi séc (séc bảo chi) thì ngời phát hành séc phải đến đơn vị
thanh toán séc làm thủ tục bảo chi trên tờ séc bằng cách trích tiền từ tài khoản tiền
gửi thanh toán chuyển sang tài khoản Đảm bảo thanh toán séc bảo chi sau đó
mới trao séc cho ngời thụ hởg.
+ Nếu séc dùng để lĩnh tiền mặt thì trên mặt trớc của tờ séc không phải
làm thủ tục của séc chuyển khoản và séc bảo chi, ngời thụ hởng cầm tờ séc đến
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
14
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
đơn vị thanh toán séc (tổ chức tín dụng hay Kho bạc nơi chủ tài khoản mở tài
khoản tiền gửi thanh toán) để nhận tiền mặt.
Nh vậy séc đợc dùng cho nhiều mục đích và nhiều cách thanh toán khác
nhau.
Séc do từng hệ thống tổ chức tín dụng và Kho bạc Nhà nớc tự in tên cơ sở
mẫu séc đã đợc Ngân hàng nhà nớc duyệt để đảm bảo tính thống nhất và an toàn
tài sản.
Tham gia vào quá trình phát hành và sử dụng séc gồm có:
- Ngời phát hành séc: Là chủ tài khoản tiền gửi thanh toán hặc ngời đợc
uỷ quyền ký tên để phát hành séc theo đúng qui định của pháp luật về uỷ quyền.
- Ngời thụ hởng séc: Là ngời có quyền sở hữu ghi trên tờ séc.
- Ngời chuyển nhợng séc: Là ngời chuyển quyền sở hữu số tiền ghi trên
séc của mình cho ngời khác.
- Đơn vị thanh toán: Là đơn vị giữ tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ
tài khoản, đợc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ thanh toán
(nh các Ngân hàng thơng mại, Kho bạc nhà nớc).
thanh toán bằng séc qua Ngân hàng.
ở nớc ta hiện nay có các loại séc sau đây đợc sử dụng rộng rãi: Séc chuyển
khoản, séc bảo chi.
4-1.1 Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản là tờ séc do chủ tài khoản phát hành để trực tiếp giao
cho ngời thụ hởng, hình thức này áp dụng khi bên mua và bên bán rất tín nhiệm
nhau.
- Phạm vi thanh toán: Dùng để thanh toán giữa hai khách hàng có tài
khoản trong cùng một Ngân hàng hoặc khác hệ thống nhng có tham gia thanh toán
bù trừ trực tiếp trên địa bàn địa phơng tỉnh, thành phố.
- Nguyên tắc hạch toán: Ghi nợ tài khoản bên trả tiền trớc, ghi có tài
khoản ngời thụ hởng sau.
- Quy trình thanh toán bằng séc chuyển khoản:
Trờng hợp hai khách hàng có tài khoản trong cùng một Ngân hàng.
(2)
(1)
(4) (3) (5)
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
16
Ngời phát
hành
Ngời thụ h-
ởng
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
Ngời bán giao hàng hoá dịch vụ cho ngời mua..
Ngời mua giao séc chuyển khoản cho ngời bán
Ngời bán sẽ nộp tờ séc chuyển khoản + bản kê nộp séc vào Ngân hàng
xin thanh toán.
vụ ngời mua
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
Tại Ngân hàng phục vụ ngời mua khi nhận đợc lệnh chuyển nợ của
Ngân hàng phục vụ ngời bán để thanh toán tờ séc chuyển khoản do ngời mua phát
hành, Ngân hàng sẽ kiểm tra các yếu tố cần thiết trên giấy chuyển nợ, kiểm tra
khả năng chi trả của ngời phát hành trên lệnh chuyển nợ, nếu đầy đủ sẽ hạch toán.
Nợ: Tài khoản tiền gửi thanh toán/ ngời phát hành.
Có: Tài khoản thanh toán bù trừ/ Ngân hàng vục vụ ngời bán.
Sau đó Ngân hàng sẽ gửi thông báo chấp nhận lệnh chuyển nợ cho Ngân
hàng phục vụ ngời bán.
Khi Ngân hàng phục vụ ngời bán nhận đợc thông báo chấp nhận lệnh
chuyển nợ sẽ kiểm tra các nôị dung cần thiết, nếu đúng, đầy đủ sẽ thanh toán cho
ngời thụ hởng.
Nợ: Tài khoản các khoản chờ thanh toán khác.
Có: Tài khoản tiền gửi thanh toán/ ngời bán.
Sau đó sẽ báo có cho ngời bán.
4-1.2 Séc bảo chi:
- Séc bảo chi khác với séc chuyển khoản là trớc khi ngời mua giao séc cho
ngời bán thì ngời mua phải đến Ngân hàng phục vụ mình làm thủ tục bảo chi séc
bằng cách, yêu cầu Ngân hàng trích tài khoản tiền gửi của rành hoặc là nộp vào
Ngân hàng một số tiền để làm thủ tục bảo chi séc. Sau đó Ngân hàng mới giao séc
cho ngời mua để đi mua hàng.
- Phạm vi thanh toán séc bảo chi: Séc bảo chi đợc thanh toán trong phạm
vi giữa hai đơn vị mua và bán mở tài khoản cùng một Ngân hàng, giữa hai đơn vị
mua và bán mở tài khoản ở hai Ngân hàng khác hệ thống nhng có tham gia thanh
toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp và đợc áp dụng giữa hai đơn vị mua và
bán ở khác Ngân hàng nhng cùng hệ thống. Thời hạn của séc bảo chi là 15 ngày
làm việc.
* Thủ tục bảo chi séc: khi khách hàng có nhu cầu bảo chi séc, sẽ lập giấy
yêu cầu bảo cho séc để gửi tới Ngân hàng kèm theo tờ séc. Ngân hàng sẽ tiến hành
(4)
(3)
(1) (2 (7) (5) (9)
(6)
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
19
Ngân hàng
Ngời bán
Ngời mua
Ngân hàng phục
vụ ngời bán
Ngân hàng phục
vụ ngời mua
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
(8)
Khi khách hàng có nhu cầu thì đến Ngân hàng xin bảo chi séc.
Ngân hàng sau khi kiểm tra các nội dung cần thiết sẽ bảo chi séc cho
khách hàng.
Ngời bán sẽ giao hàng hoá dịch vụ cho ngời mua.
Ngời mua sẽ giao séc cho ngời bán.
Sau khi ngời bán giao hàng hoá dịch vụ cho ngời mua sẽ nộp bảng kê
nộp séc cộng tờ séc vào Ngân hàng phục vụ mình. Tại Ngân hàng phục vụ ngời
bán khi nhân đợc bảng kê nộp séc + Tờ séc sẽ kiểm tra nội dung cần thiết nếu đầy
đủ, hợp lệ sẽ lập và gửi lệnh chuyển nợ cho Ngân hàng phục vụ ngời mua.
Nợ: Tài khoản thanh toán bù trừ/ngời mua.
Có: Các khoản chờ thanh toán.
Sau đó Ngân hàng chuyển lệnh chuyển nợ sang cho Ngân hàng phục vụ
séc sẽ kiểm tra các nội dung cần thiết trên tờ séc cũng nh bảng kê. Nếu đầy đủ hợp
lệ sẽ tiến hành thanh toán ngay cho ngời bán bằng cách lập lệnh chuyển nợ gửi
Ngân hàng phục vụ ngời mua.
Nợ: Tài khoản chuyển tiền đi.
Có: Tài khoản tiền gửi /ngời bán.
(6a) Ngân hàng phục vụ ngời bán sẽ gửi lệnh chuyển nợ sang cho Ngân
hàng phục vụ ngời mua.
(6b) Ngân hàng phục vụ ngời bán sau khi ghi có cho ngời bán báo có
cho ngời bán.
Sau khi Ngân hàng phục vụ ngời mua nhận đợc lệnh chuyển nợ từ Ngân
hàng phục vụ ngời bán sẽ tất toán tài khoản tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo
chi.
Nợ: Tài khoản tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi
Có: Tài khoản chuyển tiền đến.
4.2 Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - chuyển tiền:
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản đợc lập theo mẫu in sẵn
của Ngân hàng, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi)
thanh toán để chi trả cho ngời thụ hởng.
Uỷ nhiệm chi dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng hoá, dịch vụ
hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống Ngân hàng.
Trong một ngày làm việc, Ngân hàng hoặc Kho bạc phải hoàn tất lệnh chi
đó hoặc từ chối nếu tài khoản của khách hàng đủ tiền hoặc lệnh chi không hợp lệ.
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
21
Ngời bán
Ngân hàng phục
vụ ngời bán
Ngân hàng phục
Có: Tài khoản tiền gửi của ngời bán.
Ngân hàng báo có cho ngời bán.
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
22
Ngời mua Ngời bán
Ngân hàng
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
* Trờng hợp 2 khách hàng có tài khoản tại 2 Ngân hàng.
(1)
(2) (3) (5)
(4)
Ngời bán giao hàng hoá dịch vụ cho ngời mua.
Sau khi nhận đợc hàng hoá dịch vụ ngời mua lập uỷ nhiệm chi nộp vào
Ngân hàng yêu cầu thanh toán cho ngời bán.
Ngân hàng phục vụ ngời mua sau khi nhận đợc uỷ nhiệm chi sẽ kiểm
tra các nội dung cần thiết trên uỷ nhiệm chi, kiểm tra khả năng trả nợ của ngời
mua, nếu đủ điều kiện sẽ lập lệnh chuyển có để gửi Ngân hàng phục vụ ngời bán.
Nợ: Tài khoản tiền gửi thanh toán của ngời mua.
Có: Tài khoản thanh toán vốn giữa các Ngân hàng (chuyển tiền đi...).
Ngân hàng phục vụ ngời bán sau khi nhận đợc lệnh chuyển có sẽ kiểm
tra những nội dung cần thiết sau đó in ra chuyển cho kiểm soát viên soát lại, nếu
đúnh sẽ hạch bán.
Ngân hàng phục vụ ngời bán sau khi nhận đợc lệnh chuyển có sẽ kiểm
tra những nội dung cần thiết sau đó in ra chuyển cho kiểm soát viên lại, nếu đúng
sẽ hạch toán.
Nợ: Tài khoản thanh toán vốn (chuyển tiền đi, thanh toán bù trừ...).
Có: Tài khoản tiền gửi thanh toán/ngời bán.
* Quy trình chuyển tiền - séc chuyển tiền cầm tay:
hàng trả tiền sẽ tất toán tài khoản tiền gửi đảm bảo thanh toán séc chuyển tiền.
Nợ: Tài khoản tiền gửi đảm bảo thanh toán.
Có: Tài khoản chuyển tiền đến.
Sau đó Ngân hàng phát hành sẽ gửi thông báo chấp nhận lệnh chuyển nợ
sang Ngân hàng phục vụ ngời thụ hởng.
Tại Ngân hàng trả tiền: Khi nhận đợc thông báo chấp nhận lệnh chuyển
nợ sẽ trả tiền cho ngời nộp séc.
Nợ: Tài khoản các khoản chờ thanh toán khác.
Có: Tài khoản thích hợp.
4.3. Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu:
Uỷ nhiệm thu do ngời thụ hởng lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng và gửi
vào Ngân hàng phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao, hoặc dịch vụ đã cung ứng.
Uỷ nhiệm thu đợc áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản
cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng khác cùng hệ
thống hoặc khác hệ thống có tham gia thanh toán bù trừ.
Nguyễn Thị Hà: Lớp ĐH
2
24
HVNH-HN Chuyên đề tốt nghiệp
Để đợc thanh toán bằng uỷ nhiệm thu, khách hàng mua và bán phải thống
nhất ký hợp đồng thảo thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu với điều kiện
thanh toán ghi rõ trong hợp đồng kinh tế và phải thông báo bằng văn bản cho
Ngân hàng phục vụ ngời mua biết để làm căn cứ thanh toán các uỷ nhiệm thu.
Sau khi đã hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hởng lập uỷ nhiệm thu kèm
theo hoá đơn, vận đơn gửi đến Ngân hàng phục vụ mình hoặc gửi trực tiếp tới
Ngân hàng phục vụ bên trả tiền để yêu cầu thu hộ. Khi nhận đợc giấy uỷ nhiệm
thu trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng bên trả tiền trích tài khoản của bên
trả tiền ngay cho bên thu hởng để hoàn tất việc thanh toán. Nếu tài khoản bên trả
tiền không đủ tiền thì bên trả phải bị phạt trả chậm cho bên thụ hởng. Thời gian