Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm vừa qua hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng
đổi mới và hoàn thiện trên tất cả các mặt nghiệp vụ. Nhưng đổi mới và hoàn
thiện lĩnh vực thanh toán qua ngân hàng là một công việc khó khăn và phức
tạp. Bởi vì, một mặt nó phải phù hợp với nền kinh tế Việt Nam còn chưa
phát triển, mặt khác lại phải nhanh chóng hoà nhập với xu thể chung của sự
phát triển với các ngân hàng trên Thế giới.
Mở rộng dịch vụ thanh toán của ngân hàng đang là vấn đề bức xúc về
nhiều phương diện đối với kinh doanh ngân hàng, hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp, nhu cầu của dân cư và chuyển vốn trong toàn bộ nền
kinh tế.
Hệ thống thanh toán nếu được công nghệ hoá, hiện đại hoá thì các giao
dịch thanh toán được hoàn thiện đảm bảo thanh toán an toàn nhanh chóng,
vai trò to lớn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng và
doanh nghiệp. Kích thích sản xuất và gia tăng tốc độ lưu thông hàng hoá
mở rộng dịch vụ, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và phát triển đất nước.
Những năm qua, chính phủ, ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng
Thương mại đã rất quan tâm cũng có những thay đổi đáng kể về cơ chế
thanh toán và tổ chức việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, ban
hành nhiều quy định, pháp luật chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của
thanh toán không dùng tiền mặt phát triển rộng rãi với khối lượng ngày
càng lớn hơn. Đặc biệt, đưa tin học vào phục vụ thanh toán. Do đó, đã đạt
được những thành tự đáng kế tuy nhiên, những kết quả đạt được chỉ là
bước đầu mà phải không ngừng hoàn thiện công tác thanh toán không dùng
tiền mặt để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác thanh toán nền
kinh tế đưa khoa học kĩ thuật hiện đại để hiện đại hoá công tác thanh toán
không dùng tiền mặt ở mỗi ngân hàng phải được tiến hành song song với
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
thực tập tại ngân hàng.
2
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
Em xin chân thành cảm ơn!
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
3
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
PHẦN 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trường.
Một trong những phát minh quan trọng nhất của con người có tính đột
phá, đẩy nên văn minh của nhân loại tiến một bước dài đó là sự phát minh
ra tiền tệ. Tiền tệ ra đời và không ngừng được nghiên cứu hoàn thiện nhằm
vào hai mục tiêu chính: Sự tiện lợi và sự an toàn.
Tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó là công cụ nhiệm mầu trong
quá trình phát triển nền kinh tế, tiền tệ cũng có một quá trình lưu thông
dựa trên cơ sở của lưu thông và trao đổi hàng hoá. Do vậy, ở bất cứ xã hội
nào còn sản xuất và lưu thông hàng hoá thì còn tồn tại tiền như nội quy luật
khách quan.
Cho đến đầu thế kỷ 20, khi tiền gắn liền vào quá trình sản xuất và trao
đổi, tiền được xem là có các chức năng sau: Là thước đo giá trị trao đổi của
hàng hoá, là phương tiện để lưu thông hàng hoá, là phương tiện cất giữ giá trị
phương tiện thanh toán, là phương tiện tiền tệ quốc tế và trong đó chức năng
thước đo giá trị trao đổi là quan trọng và cơ bản nhất của tiền tệ để phân
biệt với các tài sản khác. Việc dùng tiền là phương tiện trao đổi sẽ đẩy mạnh
sản của xã hội như tình trạng thất thu thế, trốn thuế trong kinh doanh, hiện
tượng tham ô hối lộ, khai khống hoá đơn bán hàng…
Cũng xuất phát từ kẽ hở của việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán.
với những quy chế nêu trên lúc này thanh toán bằng tiền mặt không còn
phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại và hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) ra đời. Nó là kết quả tất yếu
của quá trình phát triển ngày càng cao của sản xuất lưu thông hàng hoá, nó
đã nhanh chóng chiếm ưu thế và trở thành một phần không thể thiếu được
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
5
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
trong nền kinh tế thị trường. TTKDTM ra đời đã khắc phục được phần nào
nhược điểm của thanh toán bằng tiền mặt. Có thể nói TTKDTM mang lại
hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng
hoá cho nên việc mở rộng và phát triển này trong nền kinh tế thị trường là
rất cần thiết và được các ngân hàng quan tâm và phát triển mạnh mẽ.
1.1.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị
trường.
TTKDTM là cách thức thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt
mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả để
chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng hoặc bằng
cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng.
Đặc điểm của TTKDTM
Thứ nhất: Trong TTKDTM, tiền tệ và hàng hoá vận động ngược chiều
với nhau.
Việc thanh toán không phải thực hiện bằng cách trao trả trực tiếp tiền
và hàng giữa người mua và người bán mà được thực hiện bằng cách trích
chuyển đổi từ tài khoản tiền gửi của người mua sang tài khoản tiền gửi của
mại.
Khi các khách hàng đến mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng sẽ tạo
ra một lượng tiền nhàn rỗi mà ngân hàng có thể sử dụng để kinh doanh tạo
lợi nhuận khi những khách hàng này chưa sử dụng đến. Hơn nữa, thông
qua nghiệp vụ này các NHTM đã thực hiện chức năng “tạo tiền” của mình.
Tiền ghi sổ được tạo ra khi Ngân hàng tiến hành trích chuyển tiền từ tài
khoản của người này sang tài khoản của người khác.
Thứ ba: TTKDTM làm tiết kiệm chi phí lưu thông:
TTKDTM góp phần giảm khối lượng tiền mặt cần thiết trong lưu
thông, do đó tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, chi phí in ấn, bảo quản,
kiểm đếm, bốc rỡ tiền mặt, chi phí giao nhận tiền mặt, tổ chức điều hoà lưu
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
7
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
thông tiền mặt…đặc biệt với những món thanh toán giá trị lớn, khoảng cách
xa.
Thứ tư: TTKDTM là công cụ cạnh tranh hiệu quả giữa các ngân hàng:
Ngày nay, các ngân hàng không cạnh tranh với nhau chỉ bàng các sản
phẩm truyền thống đơn thuần. Các dịch vụ thanh toán được xem như là
công cụ cạnh tranh lành mạnh có hiệu quả bởi lẽ tổ chức tốt công tác
TTKDTM sẽ tạo được sự hấp dẫn đối với khách hàng, thu hút khách hàng
đến mở tài khoản, tiền gửi vào ngân hàng, giao dịch thanh toán qua ngân
hàng, từ đó rễ ràng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm khác của ngân hàng,
làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Cuối cùng, TTKDTM tạo điều kiện để NHNN quản lý và điều tiết nền
kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ của mình. NHNN có thể kiểm soát và
điều hoà khối lượng tiền trong lưu thông một cách rễ ràng hơn nhờ kiểm
soát được khối lượng tiền tín dụng mà các NHTM tạo ra ngày càng nhiều
nghị định 30/CP về Séc.
Ngày 20/9/2001 Chính phủ ban hành Nghị định 64/2001/NĐ - CP về
hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, bãi bỏ
Nghị định 91/CP về tổ chức TTKDTM. Thông tư 05 hướng dẫn một số điều
của Nghị định 159/CP.
Ngày 26/3/2002 NHNN ban hành Quyết định số 226/2002/QĐ- NHNN
về việc ban hành quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán thay thế cho Quyết định số 22 – QĐ/NH1 ngày
21/02/1994 của Thống đốc NHNN ban hành thể lệ TTKDTM. Quyết định số
144 - QĐ/NH1 ngày 30/06/1994 của Thống đốc NHNN về điều kiện thực
hiện TTKDTM đối với các quỹ tín dụng nhân dân.
Trên cơ sở hiện đại học hoạt động thanh toán thông qua việc cải tiến
đồng loạt các nghiệp vụ thanh toán của hệ thống ngân hàng, áp dụng rộng
rãi công nghệ thông tin trong thanh toán ở tất cả các cấp ngân hàng thể hiện
qua:
Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN ngày 14/12/2001 của Thống đốc
NHNN ban hành quy chế thanh toán bù trừ điện từ liên Ngân hàng; Quyết
định số 44/2002/QĐ- TTg ngày 21/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
9
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hoạch toán và thanh toán
vốn giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ và thanh toán thay cho quyết định số
196/TTg ngày 01/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng các dữ
liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng kế toán và thanh toán của các
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng; Quyết định số 212/2002/QĐ-NHNN
ngày 20/3/2002 Thống đốc NHNN ban hành quy trình kỹ thuật nghiệp vụ
thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng; Quyết định số 309/2002/QĐ-
- Được yêu cầu ngân hàng nơi mở tài khoản thực hiện các lệnh thanh
toán phát sinh hợp pháp, hợp lệ trong phạm vi có số dư và có hạn mức thấu
chi (nếu được phép).
- Được yêu cầu cung cấp các thông tin về những giao dịch thanh toán
và có số dư trên tài khoản của mình.
- Được yêu cầu ngân hàng nơi mở tài khoản đóng, phong toả hoặc thay
đổi cách thức sử dụng tài khoản khi cần thiết.
- Được hưởng lãi xuất cho số tiền trên tài khoản theo mức lãi xuất do
ngân hàng quy định tuỳ theo đặc điểm của chủ tài khoản, số dư tài khoản và
phù hợp với cơ chế quản lý lãi suất của NHNN ban hành trong từng thời kỳ.
1.2.1.3. Trách nhiệm của chủ tài khoản
Trách nhiệm của chủ tài khoản phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản
để thực hiện các lệnh thanh toán đã lập. Chịu trách nhiệm về việc chi trả
vượt quá số dư có trên tài khoản trừ trường hợp đã có thoả thuận thấu chi
với ngân hàng. Khách hàng là tổ chức tín dụng có nhận thanh toán phải duy
trì trên tài khoản tiền gửi tại NHNN số dư bình quân không thấp hơn mức
dự trữ bắt buộc do NHNN quy định.
- Tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư trên tài khoản, đối chiếu với giấy
báo nợ, giấy báo có hoặc giấy báo số dư tài khoản do ngân hàng nơi mở tài
khoản tiền gửi đến.
- Chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi
sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình.
- Tuân thủ các hướng dẫn của ngân hàng nơi mở tài khoản về việc lập
các lệnh thanh toán và sử dụng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
11
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
thanh toán qua tài khoản sử dụng, luân chuyển, lưu trữ chứng từ giao dịch,
- Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin có lien quan khi sử dụng dịch
vụ thanh toán theo quy định.
- Phạt do khách hàng vi phạm các quy định về sử dụng tài khoản đã
thỏa thuận hoặc đã quy định.
1.2.2.2. Trách nhiệm của ngân hàng
Trách nhiệm của ngân hàng hướng dẫn khách hàng thực hiện đúng các
quy định về lập hồ sơ mở tài khoản, lập chứng từ giao dịch và các quy định
có liên quan trong việc sử dụng tài khoản, ngân hàng có trách nhiệm phát
hiện và điều chỉnh kịp thời các tài khoản mở sai hoặc sử dụng chưa chính
xác.
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các lệnh thanh toán, các yêu cầu sử dụng
tài khoản của khách hàng phù hợp với quy định hoặc thỏa thuận giữa ngân
hàng và khách hàng. Kiểm soát các lệnh thanh toán của khách hàng, đảm
bảo đúng lập đúng thủ tục quy định, hợp pháp, hợp lệ và khớp với các yếu
tố đã đăng ký, cung ứng đầy đủ, kịp thời các dịch vụ phương tiện thanh
toán cần thiết phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng qua ngân hàng.
- Thực hiện hạch toán theo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở
các chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ nhận được. Điều chỉnh các khoản
mục bị hạch toán sai, hạch toán không đúng bản chất hoặc không phù hợp
với nội dung sử dụng của chủ tài khoản theo quy định.
- Gửi đầy đủ, kịp thời các giấy báo Nợ, giấy báo Có, bản sao sổ tài
khoản, giấy báo số dư tài khoản theo yêu cầu của người sử dụng tài khoản.
Thông tin kịp thời về những giao dịch thanh toans và số dư tài khoản cho
khách hàng theo định kỳ hoặc đột xuất khi có yêu cầu.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
13
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
- Bảo mật các thông tin có liên quan đến tài khoản và giao dịch trên tài
Trong trường hợp bên trả tiền và bên thụ hưởng đều mở tài khoản tại
một đơn vị Ngân hàng thì việc thanh toán của hai chủ thể sẽ không ảnh
hưởng đến vốn của ngân hàng và việc kiểm soát sẽ không gặp phải khó
khăn lớn. Tuy nhiên, việc thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong nền
kinh tế thị trường không chỉ bó hẹp trong phạm vi một tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán mà còn được thực hiện giữa các tổ chức cung ứng dịch
vụ với nhau. Với việc TTKDTM giữa hai khách hàng mở tài khoản tiền gửi
không kỳ hạn ở hai chi nhánh ngân hàng khách hệ thống sẽ có sự chuyển
dịch tiền tương ứng theo. Ngân hàng phục vụ bên trả tiền và ngân hàng
phục vụ bên thụ hưởng không những phải thực hiện thanh toán theo yêu
cầu của khách hàng mà phải thực hiện thanh toán vốn với nhau một cách
sòng phẳng, chính xác và kịp thời, đồng thời phải có biện pháp thích hợp để
kiểm soát tính xác thực của các khoản thanh toán nhằm đảm bảo an toàn
tài sản. Đây là công việc nội bộ giữa các ngân hàng bắt nguồn từ yêu cầu
thanh toán của chủ tài khoản trả tiền.
Khi TTKDTM ngày càng phát triển và tạo ra những tiện ích cho khách
hàng thì nghiệp vụ thanh toán vốn giữa các ngân hàng càng phải có sự thay
đổi theo để đảm bảo cho sự chính xác, kịp thời.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và xác lập phương thức, quan hệ thanh
toán giữa các ngân hàng là hết sức cần thiết trong hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, công việc thanh toán vốn giữa các ngân hàng còn xuất phát từ nhu
cầu tập trung và điều hòa vốn thuộc ngân sách nhà nước của các ngành và
nhu cầu điều hòa của chính các ngân hàng, từ yêu cầu của nghiệp vụ ngân
hàng như hạch toán lãi, điều chuyển tiền mặt, tài sản…
1.3.1.2. Các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng
Do quan hệ thanh toán rất đa dạng và xuất phát từ các tổ chức hạch
toán ở mỗi hệ thống ngân hàng: Hệ thống NHNN, hệ thống NHNN quốc
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
15
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
đối chiếu gửi các chi nhánh nhận tiền để Ngân hàng này đối chiếu (đối chiếu
phân tán ở các ngân hàng nhận chuyển tiền).
(2)
Chú giải
1. Ngân hàng A cho ngân hàng B qua bưu điện.
2. Ngân hàng A gửi giấy báo chuyển tiền cho TTTT để kiểm soát.
3. TTTT sau khi kiểm soát lập sổ đối chiếu gửi ngân hàng B.
Phương thức này được sử dụng trong thời gian khá dài, cho tới gần đây
trước khi áp dụng chuyển tiền điện từ và phương thức này áp dụng trong
thanh toán liên hàng truyền thống.
* Giai đoạn thanh toán chuyển tiền điện tử.
Đến nay, phương thức thanh toán liên hàng nội bộ được chuyển thành
chuyển tiền điện tử (thanh toán tập trung) với nội dung chủ yếu là sử dngj
công nghệ thông tin hiện đại để chuyển các lệnh chuyển tiền từ ngân hằng A
(khởi tạo nghiệp vụ) qua trung tâm thanh toán ch ngân hàng B nhận (nhận
nghiệp vụ).
Trong chuyển tiền điện tử, các ngân hàng lại quay về áp dụng phương
thức kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung.
Phương thức “Kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung”: Theo phương
thức này, ngân hàng chuyển tiền gửi tiền cho ngân hàng nhận tiền thông
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
17
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
qua trung tâm thanh toán (truyền quan mạng). Trung tâm thanh toán làm
nhiệm vụ kiểm soát và đối chiếu tất cả các chuyển tiền trong toàn hệ thống.
khớp đúng với trung tâm thanh toán.
1.3.1.2.2. Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng
Thanh toán bù trừ là phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng.
Qua nghiệp vụ này, các ngân hàng thực hiện bù trừ các khoản thu hộ, chi
hộ lẫn nhau và định kỳ sẽ thanh toán số chênh lệch sau mỗi phiên toán bù
trừ.
Thanh toán bù trừ được áp dụng giữa các ngân hàng khác hệ thống với
nhau (thanh toán bù trừ khác hệ thống) hoặc có thể áp dụng đối với các đơn
vị ngân hàng thuộc cùng hệ thống ngân hàng (thanh toán bù trừ cùng hệ
thống). Tùy thuộc vào phương pháp trao đổi chứng từ, trên cơ sở chứng từ
giấy (thanh toán bù trừ giấy) và thanh toán bù trừ điện tử.
Thanh toán bù trừ có vai trò hết sức quan trọng, giúp việc thanh toán
vốn giữa các ngân hàng được nhanh chóng, sòng phẳng đặc biệt là thanh
toán khác hệ thống.
Do việc giải quyết thanh toán ngay trong ngày nên thanh toán bù trừ
tạo điều kiện để đẩy nhanh được tốc độ thanh toán cho cả khách hàng và
ngân hàng.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
19
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
Do việc thanh toán chỉ thực hiện trên số chênh lệch của mỗi đợt bù trừ
nên góp phần tiết kiệm được vốn trong thanh toán.
1.3.1.2.3. Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước
Thanh toán qua tài khoản giử tại ngân hàng Nhà nước được áp dụng
trong thanh toán qua lại giữa hai ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ
thống đếu có tài khoản gửi tại NHNN (cùng hoặc khác chi nhánh, sở giao
dịch NHNN) các khoản thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN của các
ngân hàng cũng đều phát sinh trên cơ sở các khoản thanh toán của khách
chứng từ thanh toán của khách hàng (đối với các khoản thanh toán của
khách hàng) giửi tới ngân hàng có quan hệ tiền gửi để yêu cầu thanh toán.
1.3.1.2.6. Thanh toán điện tử liên ngân hàng
* Quy trình triển khai hệ thống thanh toán điện từ liên ngân hàng
Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia khu
vực mậu dịch tự do các nước ASEAN (AFTA) thực hiện hiệp định thương
mại Việt – Mỹ và tham gia tổ chức thương mại quốc tế (WTO), hệ thống
thanh toán của Nhà nước Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập.
Ngày 21/03/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số
44/2002/QĐ-TTg cho phép các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sử
dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán
vốn.
Từ cơ sở pháp lý trên ngân hàng Nhà nước đã ban hành các cơ chế
nghiệp vụ và quy trình kỹ thuật có liên quan, đồng thời tích cực hoàn thiện
các trang bị cơ sở vật chất và chương trình phần mềm thực hành trên máy
vi tính để triển khai thực hiện quyết định trên và đến ngày 05/02/2002 hệ
thống “Thanh toán điện tử liên ngân hàng” đã chính thức đi vào hoạt động.
Đây là hệ thống thanh toán được thiết kế theo chuẩn mực quốc tế là hệ
thống tổng thể bao gồm: Hệ thống bù trừ liên ngân hàng, hệ thống xử lý tài
khoản tiền gửi thanh toán và cổng giao diện với hệ thống chuyển tiền điện
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
21
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
tử của NHNN. Hiện nay, đã có gần 200 chi nhánh của 50 thành viên tham
gia.
* Chức năng của hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Thực hiện thanh toán giá trị cao, giá trị thấp và xử lý quyết toán bằng
cả quyết toàn tổng tức thời và quyết toán bù trừ. Thời gian đầu (từ
26/03/2002 của NHNN ban hành về quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ
chức dịch vụ thanh toán, Quy định 1092/QĐ - NHNN ngày 08/10/2002 về
việc ban hành thủ tục thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán. Có 5 hình thức TTKDTM hiện nay đang được áp dụng tại Việt Nam
bao gồm:
Ủy nhiệm thu.
Ủy nhiệm chi – chuyển tiền.
Séc.
Thư tín dụng.
Thẻ ngân hàng.
Mỗi hình thức có ưu, nhược điểm. Do đó, cần phải nắm được nội dung,
tính chất của từng hình thức để có thể vận dụng linh hoạt trong từng hoàn
cảnh cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
1.3.2.1. Thanh toán bằng Séc.
1.3.2.1.1. Một số quy định chung về Séc
Séc là một loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các
nước trên thế giới – Quy tắc sử dụng Séc đã được chuẩn hóa trên các luật
Thương mại Quốc gia và trên công ước Quốc tế.
Theo Nghị định 159/2003/NĐ-CP của Chính phủ về cung ứng và sử
dụng Séc: Séc là phương tiện thanh toán cho người ký phát lập dưới hình
thức chứng từ theo mẫu ghi sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả
không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có tên trên tờ
Séc hoặc trả cho người cầm Séc.
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
23
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài
chính
Phạm vi thanh toán
Séc được thanh toán giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có
phụ thuộc vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người ký phát nên trong
thanh toán bằng Séc phụ thuộc vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người
ký phát nên trong thanh toán bằng Séc chuyển khoản luôn phải đảm bảo
nguyên tắc ghi Nợ trước, ghi Có sau. Nguyên tắc này thể hiện trong từng
trường hợp như sau:
1.3.2.1.2. Quy trình thanh toán và kế toán Séc chuyển khoản
a. Séc chuyển khoản thanh toán cùng chi nhánh ngân hàng
Quy trình thanh toán
(2)
Chú giải:
1a. Người ký phát trao Séc cho người thụ hưởng Séc.
1b. Người thụ hưởng Séc trao hàng hóa, dịch vụ cho người ký phát.
2. Người thụ hưởng Séc nộp bản kê nộp Séc vào ngân hàng cung ứng
dịch vụ thanh toán.
3a. Ngân hàng ghi Nợ và báo Nợ cho người ký phát.
3b. Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán khi Có và báo Có cho
người nhận Séc.
Quy trình kế toán
Vũ Thị Thu Hiền Lớp
TC46Q
25