Chức năng của tòa án trong tố tụng hình sự - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU TRANG

CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Chức năng của
Tòa án trong tố tụng hình sự” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
thực hiện trên cơ sở các kiến thức lý luận, thực tiễn và tham khảo các tài
liệu liên quan. Các số liệu có nguồn trích dẫn đảm bảo tính trung thực,
chính xác; luận văn chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu
nào khác.
Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2016

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Thu Trang



TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TGTT:

Tham gia tố tụng

TTHS:

Tố tụng hình sự

TW:

Trung ương

VKS:

Viện kiểm sát

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa




TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. Thực trạng pháp luật về chức năng của Tòa án trong tố tụng

34

hình sự Việt Nam
2.2. Thực trạng thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

55

Kết luận chương 2

66

Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC THỰC HIỆN

68

CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
3.1. Tiếp tục hoàn thiện chức năng của Tòa án và tăng cường

68

hướng dẫn, triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
3.2. Các giải pháp khác

77

Kết luận chương 3

chức năng xét xử. Tác giả đã phân tích và chỉ ra những thành công cũng như bất cập
trong quy định pháp luật về chức năng xét xử từ góc độ pháp luật thực định cũng
như từ hoạt động thực tiễn, là những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế hiệu quả của
việc thực hiện chức năng xét xử nói riêng và chức năng tố tụng nói chung. Trên cơ
sở đó tác giả luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng
xét xử trong TTHS trong quá trình cải cách tư pháp và hoạn thiện các thủ tục tố
tụng hình sự Việt Nam.
+ Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt
Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện khoa học xã hội, Viện khoa học
xã hội Việt Nam. Trong luận án, tác giả nghiên cứu ba chức năng cơ bản trong Tố
tụng hình sự Việt Nam đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng
xét xử. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận của việc xác định chức năng tố tụng, ý nghĩa,
nội hàm, phạm vi và giới hạn của từng chức năng trong tố tụng hình sự; xác định rõ
mối liên hệ giữa chức năng của tố tụng với mô hình tố tụng hình sự, các nguyên tắc
của tố tụng hình sự, đặc điểm của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự; xác


4

định chủ thể thực hiện các chức năng tương ứng trong tố tụng hình sự. Đồng thời
tác giả đã đưa ra những quan điểm và các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp
luật về chức năng tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Luận án là công trình đầu tiên xây dựng
quan điểm lý luận tổng thể về chức năng tố tụng hình sự; làm rõ vai trò của việc
phân định các chức năng tố tụng đối với việc thực hiện mục đích đổi mới tố tụng
hình sự nước ta theo hướng tiếp thu các yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng.
- Luận văn thạc sĩ luật học: Trần Hoàng Giang (2012), Chức năng của Tòa
án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Đại học Luật Hà Nội. Trong luận
văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự - giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự. Tác giả đã chỉ ra

trong quá trình tổ chức bộ máy quyền lực nói chung nhằm bảo đảm cho Tòa án là
trung tâm, xét xử là trọng tâm trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp,
đó là: sửa đổi, bổ sung các quy phạm hiến định về tổ chức bộ máy quyền lực Nhà
nước phù hợp với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền; xây dựng cơ chế bảo
vệ Hiến pháp bằng nhánh quyền tư pháp (Tòa án) phù hợp với các nguyên tắc của
Nhà nước pháp quyền và pháp điển hóa lần thứ ba luật Tố tụng hình sự Việt Nam
hiện hành.
+ Nguyễn Hoài Nam (2010), "Thực trạng và hướng hoàn thiện chức năng
xét xử của Tòa án trong BLTTHS 2003", Tạp chí Tòa án nhân dân (16). Trong bài
viết, tác giả đã phân tích những bất cập từ một số quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án, không làm rõ các
chức năng buộc tội, gỡ tội và xét xử, cũng như không phân định cụ thể về tổ chức,
nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất kiến nghị
sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như tăng cường yếu tố tranh tụng; sửa
đổi Điều 10 BLTTHS theo hướng khẳng định Tòa án là cơ quan thực hiện chức
năng xét xử và không có trách nhiệm chứng minh tội phạm; sửa đổi Điều 196 về
giới hạn của việc xét xử theo hướng để Tòa án xét xử những bị cáo và những hành
vi mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử và bỏ quy định việc Tòa
án vẫn xét xử khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố.


6

+ Nguyễn Ngọc Chí (2009), "Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự
trước yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong bài viết này, với chức năng xét xử, Tòa án là đại diện cho quyền lực tư pháp,
trên cơ sở những luận giải khoa học, tác giả đã đưa ra kiến nghị thay đổi cách thức
tổ chức tòa án theo địa giới hành chính sang tiêu chí chức năng, thẩm quyền xét xử;
hoàn thiện BLTTHS năm 2003 theo hướng loại bỏ những quy định không thuộc

4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận văn phải trả lời được các câu hỏi sau đây:
- Khái niệm, đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự là gì?
- Phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được xác
định như thế nào? Cơ sở xác định nội dung chức năng của Tòa án trong tố tụng hình
sự? Nội dung chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được thể hiện ra sao?
- Những nguyên tắc nào liên quan đến việc thực hiện chức năng của Tòa án
trong tố tụng hình sự? Nội dung của các nguyên tắc đó được thể hiện như thế nào?
- Pháp luật về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được quy định như
thế nào? So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
đã có những sửa đổi, bổ sung gì để bảo đảm việc thực hiện chức năng của Tòa án
trong tố tụng hình sự?
- Thực trạng pháp luật về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự có
những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nào? Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
đó là gì?
- Những vấn đề cần kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chức năng của Tòa
án trong tố tụng hình sự và giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện chức năng của
Tòa án trong tố tụng hình sự?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận; quy định của
pháp luật tố tụng hình sự và thực trạng thực hiện quy định về chức năng xét xử của
Tòa án nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 về chức
năng của Tòa án trong tố tụng hình sự Việt Nam.
- Luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định pháp luật tố tụng


8
hình sự năm 2003 của Tòa án nhân dân về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình


9

Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự
Dưới góc độ ngôn ngữ, theo từ điển tiếng Việt, chức năng được hiểu là
"nhiệm vụ, tác dụng nói chung"2. Do đó, theo nghĩa chung nhất thì chức năng của
Tòa án là nhiệm vụ, tác dụng của cơ quan Tòa án. Như vậy có thể hiểu Tòa án sinh
ra là để giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội
mà Nhà nước là đại diện.
Dưới góc độ tổ chức quyền lực Nhà nước, theo Điều 2 Hiến pháp năm 2013:
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp". Theo đó, ở nước ta Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính
phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện
quyền tư pháp. Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử một trong
những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Tòa án
nhân dân. Do vậy, Tòa án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước,
hay có thể nói Tòa án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp. Điều này được
thể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về
chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các
chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện,
phương tiện làm việc; trong đó xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt
động trọng tâm". Vị trí trung tâm của Tòa án được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền đưa ra các quyết định giải
quyết vụ án. Sự tham gia của các chủ thể ở các giai đoạn như điều tra, truy tố, thu
thập chứng cứ hay tại giai đoạn xét xử như buộc tội, bào chữa tại phiên tòa, tranh
2

quan trọng khác như: lỗi của bị cáo, hành vi khách quan, chủ thể, vấn đề trách
nhiệm hình sự cũng như chính sách hình sự được áp dụng đối với bị cáo.
Quan điểm thứ ba cho rằng: "Chức năng xét xử là chức năng của Tòa án"7.
Quan điểm này cho rằng xét xử là chức năng riêng của Tòa án mà không có bất cứ
4

Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, Hà Nội.

5

Từ điển Tiếng Việt (1996), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

6

Hoàng Thị Sơn (1998), “Các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử trong TTHS”, Tạp chí Luật học (2)

7

Phan Trung Hoài (1998), “Bàn về mối quan hệ giữa chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử trong xét xử hình
sự”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nâng cao chất lượng hiệu quả CTKS hình sự trong giai đoạn
GĐT”, TANDTC, Hà Nội.


12

cơ quan hay tổ chức nào có chức năng xét xử, có thể thấy quan điểm như vậy là hợp
lý. Sự khẳng định này xuất phát từ Điều 127 Hiến pháp 1992 và Điều 10 BLTTHS
năm 2003. Theo đó, "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương,
các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của
nước CHXHCN Việt Nam...". Điều 10 BLTTHS năm 2003 quy định "Không ai bị

danh Nhà nước thực hiện theo trình tự tố tụng do luật điều chỉnh".9
Thứ hai, chức năng xét xử của Tòa án trong TTHS được thực hiện dựa trên
cơ sở phát động quyền buộc tội nhân danh Nhà nước. Thông qua việc xem xét sự
kiện do bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra; xem xét, đánh giá pháp lý về sự kiện
đó để ra phán quyết nhân danh quyền lực Nhà nước đối với hành vi phạm tội và
người thực hiện hành vi đó nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ lợi ích chung của xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Chức năng xét xử của Tòa án trong TTHS
chỉ được thực hiện khi có sự hiện diện của chức năng buộc tội và chức năng bào
chữa, nếu thiếu sự buộc tội và bào chữa sẽ không xuất hiện chức năng xét xử.
Thứ ba, khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án giải quyết vụ án theo thẩm
quyền để xem xét bị cáo có lỗi hay không có lỗi, xác định bị cáo có phạm tội hay
không để quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Tòa án khi thực hiện
chức năng xét xử có trách nhiệm xem xét toàn diện, đầy đủ các tình tiết của vụ án
do bên buộc tội và bào chữa đưa ra. Trong phạm vi quy định pháp luật, Tòa án làm
rõ sự thật khách quan của vụ án. Tòa án phải đánh giá về mặt pháp lý của hành vi
phạm tội, đánh giá nhân thân người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết của
vụ án. Tòa án khi xét xử phải đảm bảo tính công khai, minh bạch trong việc trình
bày, xem xét đánh giá vụ án cụ thể, hành vi phạm tội và nhân thân của người thực
hiện hành vi phạm tội cụ thể, đảm bảo có sự tham gia bình đẳng của các bên buộc
tội và bên bị buộc tội. Tòa án xác định hình phạt và các hình thức trách nhiệm hình
sự khác phù hợp với chính sách hình sự đối với người bị buộc tội. Như vậy, khi Tòa
án thực hiện chức năng xét xử thì việc người bị buộc tội có tội hay không sẽ được
xem xét, quyết định.10

9

Phạm Hồng Hải (2001), “Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp”, Tạp chí Tòa án (1).

10


sự là xét xử (áp dụng pháp luật) để phán quyết vụ án trên cơ sở xem xét đầy đủ,

11

Trần Văn Độ, />ngày truy cập ngày 15/7/2016.


15

khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố
tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có
tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp cũng như các quyết
định tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự
Việc xác định phạm vi thực hiện chức năng xét xử của Tòa án trong tố tụng
hình sự là xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc chức năng xét xử. Xác
định chính xác phạm vi thực hiện chức năng xét xử là cơ sở để xác định đầy đủ, cụ
thể nội dung của chức năng xét xử, xây dựng các quy định pháp luật về chức năng
xét xử phù hợp12.
Mặc dù BLTTHS Việt Nam chưa có điều luật nào quy định về phạm vi chức
năng xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự, nhưng căn cứ vào quy định của pháp
luật có thể hiểu, nhà làm luật đã xác định quá trình tố tụng hình sự ở nước ta bao
gồm các giai đoạn: tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự. Vì vậy có thể thấy rằng chức
năng xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự sẽ bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm
quyền nhận hồ sơ và bản cáo trạng do Viện kiểm sát chuyển sang và vào sổ thụ lý
vụ án của Tòa án, không phải bắt đầu từ khi Tòa án mở phiên tòa xét xử.
Về thời điểm kết thúc chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự thì tồn tại
những quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân.
Về hình thức: phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự
bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến và vào sổ thụ
lý, kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành.
Với việc quy định "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp"14, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ ràng, cụ
thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nước, Tòa án nhân
13

Lê Tiến Châu, tlđd, tr. 53.

14

Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013


17

dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử.
Trong đó nội dung của chức năng xét xử là xem xét, đánh giá tính chính xác đối với
sự kiện phạm tội đã xảy ra, và người bị buộc tội đã thực hiện hành vi phạm tội đó
trên cơ sở đánh giá pháp lý về sự kiện do các bên buộc tội và bào chữa đưa ra và
đưa ra các phán quyết cuối cùng về vụ án được đưa ra xét xử.
Trên cơ sở quy định pháp luật, bên buộc tội phải tiến hành thu thập chứng
cứ, thông tin, tài liệu để khẳng định có hành vi phạm tội xảy ra, thời gian, địa điểm
xảy ra hành vi phạm tội; người thực hiện hành vi phạm tội; lỗi của người đó khi
thực hiện hành vi phạm tội; năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm,
động cơ, mục đích phạm tội; những chứng cứ chứng minh tính chất, mức độ thiệt

1.3.1. Suy đoán vô tội
Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng
rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại. Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được
nhiều Nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ
đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người. Ở Việt Nam, trong
quá trình cải cách tư pháp, việc ghi nhận và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ
tạo ra nhiều lợi thế cho một quy trình tố tụng tiến bộ, phù hợp với cải cách tư pháp.
Bởi lẽ nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào
chữa của bị can, bị cáo và nguyên tắc tranh tụng.
Có thể hiểu nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là một người sẽ không
bị coi là có tội nếu không bị kết án bởi một Tòa án hợp pháp. Điều 11 Tuyên ngôn
nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc và Điều 14 Công ước quốc tế về quyền
dân sự và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966 đều có quy định: "Bất kỳ người bị
buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó
được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công
khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó".
Hiến pháp năm 2013 đã công nhận quyền con người là một quyền độc lập
tách khỏi quyền công dân. Những quy định của Chương V Hiến pháp năm 2001 đã
được sửa đổi bổ sung cho phù hợp và được quy định tại Chương II Hiến pháp sửa
đổi bổ sung năm 2013 với tên gọi của chương là: Quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại
Điều 31 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội


19

cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật”.
Việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp và
cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi bổ sung BLTTHS năm

Do được suy đoán vô tội nên các cơ quan tố tụng phải đảm bảo đúng các thời
hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo. Họ có quyền không bị chậm trễ
đưa ra xét xử để có thể nhanh chóng được đưa ra khỏi vòng quay tố tụng, chấm dứt
các biện pháp ngăn chặn, khôi phục các quyền cơ bản của công dân khi được tuyên
vô tội. HĐXX là chủ thể đưa ra phán quyết về việc bị cáo có hay không có tội, xác
định TNHS và quyết định hình phạt. Vì vậy, bị cáo có quyền được sớm nhất chứng
minh sự vô tội hoặc chứng minh tính nguy hiểm giảm nhẹ của hành vi đã thực hiện
tại phiên tòa. Các biện pháp ngăn chặn về bản chất là sự hạn chế các điều kiện của
người bị tình nghi nhằm ngăn ngừa tội phạm, là sự đảm bảo cho hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử trong các trường hợp cần thiết. Vì vậy việc nhanh chóng được đưa ra
xét xử cũng là quyền của bị can, bị cáo để họ có thể sớm gỡ bỏ các hạn chế quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.16
Mặt khác, nguyên tắc suy đoán vô tội có mối liên quan với nguyên tắc tranh
tụng và đặc biệt là với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội.
BLTTHS quy định nguyên tắc này nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử được
khách quan, thận trọng, tránh trừng trị về hình sự đối với người dân vô tội và như
vậy cũng có nghĩa là nhằm bảo vệ các quyền tự do cơ bản cũng như phẩm giá của
con người, phù hợp với một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
“Mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ phải được HĐXX giải thích theo
hướng có lợi cho bị cáo. Và vì vậy bản án hình sự có hai loại: tuyên vô tội hoặc có
tội. Đồng thời nguyên tắc này cũng xác định: bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh
và hoàn toàn có quyền giữ im lặng. Hành vi khai gian dối của bị cáo nhằm chối tội
chỉ có thể là cơ sở để không áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải" mà không thể là một căn cứ xem xét tăng nặng TNHS”17.

16

Trần Hoàng Giang (2012), Chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn
thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 17- 18.
17

Thẩm phán, Hội thẩm không phải chịu sự can thiệp trực tiếp từ hệ thống Tòa án.
Quan hệ giữa các cấp Tòa án không phải là quan hệ hành chính nên Tòa án cấp trên
không thể ra lệnh cho Tòa án cấp dưới xét xử theo ý của mình. Sự tổng kết kinh
18

19

Lê Tiến Châu, tlđd, tr.78.

Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội - 2016.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status