ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MẠNH THỌ
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MẠNH THỌ
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số
: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Lan Nguyên
MỞ ĐẦU
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI
6
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN
TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1.
Khái quát về Trọng tài thương mại quốc tế và vai trò của tòa
6
án trong tố tụng Trọng tài thương mại quốc tế
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của Trọng tài thương mại quốc tế
6
1.1.2. Vai trò của Tòa án trong tố tụng Trọng tài thương mại quốc tế
13
1.1.3. Ưu điểm và hạn chế của tố tụng Trọng tài so với tố tụng Tòa án
17
37
2.3.
Thực tiễn vai trò của tòa án trong tố tụng Trọng tài thương
49
mại quốc tế tại Việt Nam
2.3.1. Vai trò của Tòa án trong tố tụng trọng tài thương mại theo
Luật Trọng tài thương mại Việt Nam
4
49
2.3.2. Thực tiễn thi hành Luật Trọng tài thương mại Việt Nam về
57
vai trò của Tòa án đối với tố tụng Trọng tài thương mại
Chương 3:
MỘT SỐ BẤT CẬP KHI ÁP DỤNG LUẬT TRỌNG TÀI
71
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ
3.1.5. Về việc hủy phán quyết Trọng tài
78
3.1.6. Về việc xem xét lại quyết định của Tòa án hủy hoặc không
81
hủy phán quyết trọng tài theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
3.2.
Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò
83
của Tòa án trong tố tụng Trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện về thể chế về Trọng tài thương mại và
83
triển khai thực hiện các văn bản pháp luật hiện hành về Trọng
tài thương mại
3.2.2. Tăng cường năng lực đội ngũ Trọng tài viên và Trung tâm Trọng
84
tài nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp thương mại
3.2.3. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về Trọng tài
thương mại
TTTMQT
: Trọng tài thương mại quốc tế
TTV
: Trọng tài viên
VIAC
: Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Số lượng và trình độ chuyên môn của TTV của các Trung
59
bảng
2.1
Số liệu thống kê vụ tranh chấp giải quyết tại VIAC từ
62
biểu đồ
2.1
1993-2014
2.2
Số liệu thống kê vụ tranh chấp giải quyết tại Tòa án từ
2006-2013
7
62
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Với sự phát triển của thương mại quốc tế, các doanh nhân phải tiếp
xúc với các đối tác, quốc gia, nền văn hóa và tập quán thương mại mới, cơ hội
mới đồng thời cũng mang đến cho doanh nghiệp những rủi ro mới; chính vì
vậy, hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp (GQTC) được thừa nhận là
một bộ phận quan trọng trong việc kiểm soát rủi ro liên quan đến quá trình
hoạt động. Giao dịch thương mại tất yếu dẫn đến tranh chấp, nhưng nếu đó là
các giao dịch thương mại quốc tế thì khó khăn càng tăng thêm do liên quan
đến nhiều hệ thống pháp luật, truyền thống pháp lý, thủ tục tố tụng và ngôn
ngữ khác nhau. Phương thức GQTC bằng Tòa án là phương thức GQTC hữu
GQTC mà vẫn có xu hướng lựa chọn Tòa án như một phương thức GQTC tối
ưu. Do đó, số lượng tranh chấp thương mại được giải quyết bằng Trọng tài
còn thấp (chiếm chưa đến 1% số lượng các tranh chấp thương mại). Trong các
Trung tâm Trọng tài thương mại (TTTM), Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt
Nam (VIAC) được đánh giá là Trung tâm Trọng tài lớn cũng chỉ giải quyết
được trên dưới 100 vụ/năm. So với hàng chục nghìn vụ/năm của các Trung
tâm Trọng tài lớn trong khu vực và trên thế giới như Trung tâm Trọng tài
Singapore hoặc Trung tâm Trọng tài Hồng Kông thì số vụ việc mà VIAC giải
quyết còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của Trung tâm và nhu cầu GQTC
bằng Trọng tài. Trong khi đó, việc GQTC tại Tòa án luôn ở mức quá tải;
trong năm 2012 (tính từ 1/10/2011 đến 30/09/2012), Tòa án các cấp xét xử
332.868 vụ án các loại trong tổng số 360.941 vụ án đã thụ lý (đạt 92%). Theo
số liệu của Tòa án nhân dân tối cao (tháng 3/2013), trong tổng số gần 400 vụ
án cần được xét xử Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao nhưng Hội đồng này chỉ họp toàn thể để xét xử được hơn 200 vụ [6].
Thực tế tại Việt Nam xuất phát từ việc nhiều doanh nghiệp, cá nhân
vẫn còn mơ hồ về hình thức GQTC bằng Trọng tài khi tham gia vào các quan
hệ thương mại trong nước và quốc tế, điều này khác xa so với các nước trên
9
thế giới có nền kinh tế thị trường phát triển. Chính vì vậy dẫn đến nhiều
doanh nghiệp, cá nhân chịu thua thiệt với các đối tác và phải trả một cái giá
rất đắt về sự kém hiểu biết về con đường GQTC bằng Trọng tài thương mại
quốc tế (TTTMQT).
Tóm lại, hiện nay Tòa án và Trọng tài là hai phương thức GQTC phổ
biến nhất mà các bên lựa chọn khi xảy ra tranh chấp; tuy nhiên, vì Trọng tài là
một cơ quan phi Chính phủ nên vẫn cần có vai trò trợ giúp của Tòa án. Tòa án
có vai trò rất lớn đối với việc thực thi các phán quyết trọng tài (PQTT), vai trò
Luật TTTM Việt Nam tại Việt Nam, đánh giá thực tiễn thi hành Luật TTTM
Việt Nam về vai trò của Tòa án đối với tố tụng TTTM. Cuối cùng trên cơ sở
đánh giá một số bất cập khi áp dụng Luật TTTM Việt Nam; luận văn đưa ra
các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của Tòa
án trong tố tụng TTTMQT tại Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về vai trò
của Tòa án trong tố tụng TTTMQT; qua đó, đánh giá một số bất cập khi áp
dụng Luật TTTM Việt Nam và đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện
pháp luật về vai trò của Tòa án trong tố tụng TTTMQT tại Việt Nam.
Cơ sở lý luận của đề tài là lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, để nghiên
cứu đề tài, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, đối
chiếu, so sánh, tổng hợp kết hợp với phương pháp khảo sát thực tiễn, thống kê
dữ liệu xuất phát từ thực trạng để nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện
cơ sở lí luận, thực tiễn và cơ sở pháp lý ở các khía cạnh sau:
- Những vấn đề lý luận chung về TTTMQT và vai trò của Tòa án
trong tố tụng TTTMQT;
- Tổ chức và hoạt động của một số TTTMQT trên thế giới và thực tiễn
vai trò của Tòa án trong tố tụng TTTMQT tại Việt Nam;
11
- Một số bất cập khi áp dụng Luật TTTM Việt Nam và giải pháp, kiến
nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của Tòa án trong tố tụng
TTTMQT tại Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Khái niệm thương mại cần phải được giải thích theo nghĩa
rộng, bao gồm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất
thương mại, dù là có hợp đồng hay không có hợp đồng. Quan hệ có
bản chất thương mại bao hàm nhưng không chỉ giới hạn đối với các
giao dịch sau đây: bất kỳ giao dịch buôn bán nào nhằm cung cấp hoặc
trao đổi hàng hóa hay dịch vụ, hợp đồng phân phối, đại diện thương
mại hoặc đại lý, các công việc sản xuất, thuê máy móc thiết bị, xây
dựng, tư vấn thiết kế cơ khí, li-xăng (mua bán sáng chế phát minh),
đầu tư, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặc
chuyển nhượng, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công
nghiệp hoặc kinh doanh, vận tải hàng hóa hoặc hành khách bằng
đường không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ [40, Điều 1].
13
Khái niệm này tuy không được chính thức đưa vào một điều khoản
nào mà nằm ở phần chú thích của Luật mẫu UNCITRAL nhưng đây cũng
được coi là một gợi ý cho các nước khi quy định phạm vi khái niệm thương
mại trong luật quốc gia của mình.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao, thường sử dụng
khái niệm thương mại và quy định phạm vi của nó khá rõ ràng trong các văn
bản pháp luật với phạm vi rộng. Các quan hệ thương mại được phân biệt với
các quan hệ dân sự ở mục đích của chúng: các quan hệ thương mại là các
quan hệ nhằm mục đích thu lợi nhuận còn các quan hệ dân sự là các quan hệ
chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. Chẳng hạn, khiếu nại của
người mua đối với người bán được coi là quan hệ thương mại nhưng nếu là
khiếu nại của người tiêu dùng đối với người bán thì lại là quan hệ dân sự.
Ở Việt Nam, Luật thương mại năm 2005 quy định:
Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi
Thuật ngữ "quốc tế" được sử dụng để đánh dấu sự khác biệt giữa
Trọng tài mang tính quốc gia - Trong tài trong nước và Trong tài vượt qua
biên giới của quốc gia - Trong tài quốc tế. Các yếu tố nước ngoài trong
thương mại quốc tế được xác định qua ba dấu hiệu: chủ thể trong quan hệ
thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở ở các nước khác
nhau; sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thương mại xảy
ra ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệ thương mại như hàng hóa, dịch vụ,
hoặc các đối tượng khác ở nước ngoài.
Về bản chất của tranh chấp quốc tế, trong Nghị định thư Giơnevơ
1927 quy định rằng tranh chấp quốc tế là những tranh chấp trong đó có chứa
yếu tố nước ngoài. Hiện nay, thuật ngữ "quốc tế" trong khái niệm TTTMQT
được mở rộng ra rất nhiều. Các tài liệu của Phòng Thương mại quốc tế có nói
rõ về điều này, chẳng hạn như trong ấn phẩm "The International Solution to
International Business Disputes" của Phòng Thương mại quốc tế xuất bản số
301 năm 1977 có ghi: "Khi hợp đồng được kí kết giữa hai công dân của cùng
một nước nhưng việc thực hiện hợp đồng lại ở một nước khác hoặc khi hợp
15
đồng kí kết giữa Nhà nước và chi nhánh của một công ty nước ngoài trong việc
kinh doanh của nước đó thì cũng được coi là hợp đồng mang tính quốc tế".
Để phù hợp với xu hướng kinh tế hiện nay, luật quốc gia nhiều nước
cũng mở rộng khái niệm "quốc tế" trong hợp đồng thương mại quốc tế. Việc
hiểu thuật ngữ "quốc tế" theo nghĩa rộng cũng được tìm thấy trong Luật
TTTMQT của Pháp ban hành ngày 12/5/1981. Điều 1492 trong bộ luật này
định nghĩa "Trọng tài sẽ là trọng tài thương mại quốc tế khi liên quan đến lợi
ích của thương mại quốc tế" [50], liên quan đến định nghĩa này, bộ luật còn
công nhận định nghĩa do Tòa án tối cao Pháp đưa ra trước đó: "định nghĩa này
bao trùm sự vận chuyển hàng hóa hoặc tiền tệ từ một nước này sang một nước
tranh chấp liên quan đến nhiều nhất, hoặc:
c) Các bên có thỏa thuận rằng vấn đề chủ yếu của thỏa thuận
trọng tài liên quan đến nhiều nước [40].
Do đó, TTTMQT chính là một phương thức GQTC do các bên thỏa
thuận lập ra, hoạt động với tư cách là bên thứ ba độc lập, khách quan, vô tư,
đứng ra phân xử cho các bên khi xảy ra tranh chấp thương mại có yếu tố nước
ngoài. Trọng tài là cơ quan tài phán tư và phán quyết của Trọng tài có giá trị
chung thẩm.
Đặc điểm của Trọng tài thương mại quốc tế
- Trọng tài là phương thức GQTC phi Chính phủ
Các trung tâm Trọng tài được thành lập theo sáng kiến của các Trọng tài
viên (TTV) sau khi được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chứ không
phải được thành lập bởi Nhà nước. Do đó, Trọng tài không nằm trong hệ thống
cơ quan quản lý nhà nước và không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước.
Trọng tài viên là người hành nghề tự do, không nhân danh quyền lực
nhà nước mà nhân danh cá nhân hoặc Trung tâm Trọng tài. Với tư cách là
người GQTC, việc đảm bảo tính vô tư, khách quan của TTV được đặt lên
hàng đầu. Trong hình thức Trọng tài quy chế, Trọng tài được tổ chức dưới
hình thức các Trung tâm Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động
theo phương thức tự thu chi và tự chủ về mặt tài chính.
Các PQTT không có bộ máy cưỡng chế riêng để đảm bảo thi hành. Để
phán quyết này được thực thi, các bên phải sử dụng thủ tục công nhận và cho
thi hành PQTT theo Công ước NewYork 1958 hoặc được pháp luật quy định
18
- Thủ tục Trọng tài xét xử kín
Đây là một đặc điểm đặc trưng của phương thức Trọng tài so với xét
xử bằng Tòa án. Các phiên họp GQTC của Trọng tài không được tổ chức
Là hai phương thức GQTC có nhiều điểm tương đồng nhưng chỉ khác
nhau về tính chất công và tư; Tòa án và Trọng tài luôn luôn là đối tượng lựa
chọn tự do của các bên tranh chấp. Mặc dù vậy, nhận thức về vai trò, vị trí của
từng thiết chế đó cũng rất khác nhau, không chỉ trong các giới kinh doanh mà
ngay cả trong tư duy của các thẩm phán, nhất là trong vấn đề về mối quan hệ
giữa Tòa án và Trọng tài. Bằng chứng là nhiều quốc gia đã phải có những nỗ
lực cải cách chính sách và đổi mới pháp luật theo hướng khuyến khích lựa
chọn Trọng tài, xác định ngày càng rõ hơn vai trò của Tòa án đối với hoạt
động của Trọng tài. Trong khi đó, mỗi hình thức của nền tài phán, bao gồm cả
Tòa án, bên cạnh những ưu điểm thì đều có những hạn chế cố hữu. Từ đó, sự
tồn tại của mỗi thiết chế tài phán ngoài mục đích tự thân của nó còn có mục
đích hỗ trợ cho các thiết chế khác, "lấp" đi những "khoảng trống" mà thiết chế
khác không thể tự nó khắc phục được để cuối cùng tạo ra hiệu quả chung của
hệ thống tài phán. Trên cơ sở tư duy như vậy, cần làm rõ bản chất của Trọng
tài và vai trò của Trọng tài trong hệ thống tài phán thương mại trước khi xác
định về mối liên hệ của nó với Tòa án và vai trò của Tòa án đối với Trọng tài.
Sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước trong quá trình Trọng tài là một
vấn đề có nhiều ý kiến trong khoa học pháp lý. Tuy nhiên, tất cả cùng thống
nhất với nhau ở khía cạnh: Trọng tài không thể thoát ly khỏi sự kiểm soát của
Nhà nước. Nhà nước cần phải đóng một vai trò nhất định trong quá trình tố
tụng Trọng tài. Vấn đề là Nhà nước sẽ tác động Trọng tài đến đâu và liệu Nhà
nước can thiệp một cách tích cực hay tiêu cực vào hoạt động Trọng tài. Sự
can thiệp của Nhà nước có thể tích cực nhưng cũng có thể tác động không tốt
đến hoạt động Trọng tài. Sự can thiệp đó sẽ là tích cực nếu Nhà nước quan
tâm đến kết quả Trọng tài và can thiệp khi cần thiết nhằm giúp các bên tham
gia Trọng tài đạt được mục đích Trọng tài trên cơ sở công lý, công bằng. Sự
can thiệp đó có thể là không tích cực nếu nó nhằm chỉ để bảo vệ quyền lợi của
20
21
thẩm quyền mà pháp luật cho phép. Các bản án, quyết định của Tòa án có
hiệu lực bắt buộc đối với mọi công dân, tổ chức có liên quan và được đảm
bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Chính sự khác biệt về
nguồn gốc quyền lực của Tòa án và Trọng tài như đã phân tích ở trên đã đặt ra
ít nhất hai vấn đề có liên quan đến vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo hiệu
quả của Trọng tài, đó là:
- Trong quá trình tố tụng Trọng tài, theo sự thỏa thuận của các bên tranh
chấp, Trọng tài có quyền ra các quyết định có hiệu lực bắt buộc đối với các
bên tranh chấp nhưng lại không có quyền ra lệnh bắt buộc đối với bất kỳ bên thứ
ba nào khác có liên quan đến tranh chấp. Chính sự hạn chế về quyền lực này nên
không phải lúc nào Trọng tài cũng có khả năng bảo đảm cho quá trình Trọng
tài diễn ra suôn sẻ, có hiệu quả (ví dụ: Trọng tài không thể bắt buộc nhân
chứng, giám định viên tham gia phiên họp xét xử của Trọng tài nếu họ không
tự nguyện…). Sau khi có phán quyết của Trọng tài về vụ tranh chấp, cho dù các
bên đã thỏa thuận rằng PQTT là chung thẩm và có giá trị bắt buộc nhưng nếu
một trong hai bên không tự nguyện thi hành thì Trọng tài cũng không có quyền
và nghĩa vụ cưỡng chế thi hành phán quyết hay quyết định do chính mình ban
hành. Trong những trường hợp như vậy, hiệu quả của việc thi hành PQTT sẽ
phụ thuộc hoàn toàn vào vai trò và sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài.
- Trong quá trình tố tụng Trọng tài, Trọng tài chỉ có thể hoạt động
trong phạm vi thẩm quyền do các bên giao phó, cụ thể là Trọng tài chỉ được
giải quyết một số loại tranh chấp nhất định và theo cách thức nhất định do các
bên lựa chọn và thỏa thuận trong điều khoản Trọng tài hoặc thỏa thuận Trọng
tài. Nếu Trọng tài vượt quá thẩm quyền được ủy nhiệm hoặc không tuân thủ
các nguyên tắc tố tụng trong thỏa thuận Trọng tài, không thực hiện đầy đủ,
đúng đắn, khách quan, vô tư, công bằng trách nhiệm được các bên giao phó
thì theo nguyên tắc đại diện, các quyết định của Trọng tài sẽ có thể bị chính
các hoạt động của các Trung tâm TTTM về bốn vấn đề sau: (i) Chỉ định TTV;
(ii) Thay đổi TTV; (iii) Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời; (iv) Hủy PQTT.
23
Tuy nhiên, Pháp lệnh TTTM sau một thời gian đi vào thực tế đã có
những hạn chế nhất định; chính vì vậy, Luật TTTM Việt Nam đã ra đời để
khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh TTTM nhằm đảm bảo cơ sở
pháp lý cho hoạt động của Tòa án trong việc hỗ trợ các Trung tâm TTTM.
Theo đó, Luật TTTM Việt Nam xác lập toàn diện và đầy đủ hơn vai trò hỗ trợ
của Tòa án đối với TTTM ở những vấn đề sau: (i) Thi hành thỏa thuận Trọng
tài; (ii) Thành lập Hội đồng trọng tài (HĐTT) thông qua việc chỉ định, thay
đổi TTV; Trọng tài vụ việc; (iii) Khiếu nại thẩm quyền của Trọng tài; (iv) Áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; (v) Thu thập chứng cứ, triệu tập người làm
chứng; (vi) Đăng ký PQTT vụ việc; (vii) Hủy PQTT.
1.1.3. Ƣu điểm và hạn chế của tố tụng Trọng tài so với tố tụng Tòa án
Trước hết, nếu đặt lên "bàn cân" những điểm mạnh, điểm yếu của từng
hình thức GQTC thì mặc dù Trọng tài và Tòa án đều là những phương thức
GQTC của các bên, không cạnh tranh lẫn nhau mà bổ sung cho nhau. Thế
nhưng, nếu xét từ góc độ hiệu quả, chính Tòa án phải tự nhận ra những "thế yếu"
của mình trước nhu cầu thỏa mãn các mong muốn GQTC của các bên, đó là:
- Các Tòa án luôn bị quá tải công việc, điều đó ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng xét xử và làm cho vụ án bị kéo dài.
- Các thẩm phán của Tòa án không phải bao giờ cũng chuyên về các
vấn đề kinh doanh, thương mại và đủ các kiến thức để giải quyết các tranh
chấp đó một cách chuyên nghiệp, đặc biệt là trong các vấn đề tranh chấp
thương mại quốc tế chẳng hạn như các tranh chấp về bằng sáng chế, ngân
hàng, tên miền, v.v…
giải quyết các tranh chấp có yếu tố quốc tế một cách có hiệu quả. Điều đó thể
hiện ở việc các bên có thể bình đẳng lựa chọn ngôn ngữ sử dụng, quy tắc tố
tụng; quốc tịch của các TTV, đại diện pháp lý. PQTT dễ dàng đạt được sự công
nhận quốc tế của hơn 130 quốc gia trên cơ sở Công ước New York 1958.
- Các phiên họp GQTC của Trọng tài là bí mật. Đây là một ưu điểm
lớn của Trọng tài khi vụ tranh chấp liên quan đến các bí mật, nhất là bí mật
thương mại và phát minh, sáng chế.
- Phán quyết của Trọng tài là chung thẩm, không bị kháng cáo trừ trường
hợp bị Tòa án tuyên hủy trên cơ sở một số điều kiện nhất định do luật định.
25