ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ KIM CÚC
§Þa vÞ ph¸p lý
cña Héi thÈm trong tè tông h×nh sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ KIM CÚC
§Þa vÞ ph¸p lý
cña Héi thÈm trong tè tông h×nh sù
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. ĐỖ NGỌC QUANG
HÀ NỘI - 2015
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI
THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ......................................................... 7
1.1. Những khái niệm có liên quan ................................................................ 7
1.1.1. Khái niệm hội thẩm ............................................................................ 7
1.1.2. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm trong tố tụng hình sự .......... 11
1.2. Sơ lược quá trình hình thành, phát triển quy định Hội thẩm trong tố
tụng hình sự Việt Nam ................................................................................. 14
1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1987 (trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988) ................................................................................................... 14
1.2.2. Giai đoạn 1988 đến nay.................................................................... 21
1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của Hội
thẩm trong tố tụng hình sự ........................................................................... 25
1.3.1 Vị trí, vai trò và ý nghĩa của chế định Hội thẩm trong tố tụng hình
sự ................................................................................................................ 25
1.3.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của hội
thẩm khi tham gia tố tụng hình sự .............................................................. 27
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI
THẨM VÀ CÁC KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ................................................. 37
2.1. Thực tiễn thi hành những qui định của pháp luật tố tụng hình sự về
địa vị pháp lý của Hội thẩm ......................................................................... 37
2.1.1. Những kết quả đạt được trong thực hiện qui định của pháp luật về
địa vị pháp lý của Hội thẩm ....................................................................... 37
2.1.2. Những tồn tại, thiếu sót của Hội thẩm trong thực hiện địa vị pháp
lý khi tham gia xét xử ................................................................................. 45
2.1.3. Nguyên nhân gây nên những tồn tại, thiếu sót khi thực hiện địa vị
pháp lý của Hội thẩm ................................................................................. 57
2.2. Những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý của Hội thẩm
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động tố tụng hình sự, xét xử là giai đoạn cuối cùng để giải
quyết một vụ án. Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình tố tụng. Bằng
hoạt động xét xử của mình, Tòa án thay mặt Nhà nước đưa ra phán quyết đối
với mỗi vụ án. Chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội và quyết định hình phạt
đối với một con người. Không ai có thể bị coi là có tội khi chưa có bản án kết
tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Việc xét xử của Tòa án được thực
hiện thông qua hoạt động của Hội đồng xét xử gồm có Thẩm phán và các Hội
thẩm. Thẩm phán và các Hội thẩm là những người được Nhà nước trao cho
quyền thay mặt Nhà nước đưa ra bản án, quyết định đối với vụ án hình sự.
Việc ra bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải đảm bảo khách quan,
đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không được bỏ lọt tội phạm. Bản
án, quyết định hình sự của Hội đồng xét xử không chỉ liên quan đến quyền
sống, quyền tự do hay sinh mệnh chính trị của mỗi cá nhân trong xã hội mà
nó còn có thể ảnh hưởng lớn đến uy tín của Nhà nước. Cùng với Thẩm phán,
các Hội thẩm là những thành viên không thể thiếu được trong hoạt động xét
xử của mỗi vụ án. Hiến pháp năm 1992 quy định “Việc xét xử của Tòa án có
Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia
theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm
phán” [25, Điều 129]. Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Việc xét xử sơ thẩm
của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ
tục rút gọn” [28, Điều 103]. Sự tham gia của Hội thẩm thể hiện sự tham gia
của nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử nhằm nói lên tiếng nói của nhân
dân đối với mỗi sự kiện pháp lý, đồng thời họ còn là những người giám sát
hoạt động xét xử của Tòa án. Vì vậy vị trí, vai trò của Hội thẩm trong hoạt
động tố tụng hình sự là rất quan trọng.
1
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị về một số
nhưng người tiến hành tố tụng. Mặt khác, trong những năm qua chất lượng
đào tạo của Thẩm phán, Thư ký đã được quan tâm nhưng đội ngũ Hội thẩm
chưa được quan tâm đúng mức. Trong công tác xét xử vai trò của Hội thẩm là
rất lớn và bắt buộc có( Trong hoạt động xét xử sơ thẩm). Do vậy, cần quan
tâm đúng mức hơn mà cụ thể là cần có những quy định pháp luật để giải
quyết tốt vấn đề chất lượng của Hội thẩm.
Nghiên cứu về chế định Hội thẩm trong tố tụng hình sự nhằm làm rõ
khái niệm, vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của Hội thẩm trong hoạt
động tố tụng hình sự; Thực trạng hoạt động của Hội thẩm trong tố tụng hình
sự hiện nay; Xu hướng cải cách tư pháp và những vấn đề liên quan đến chế
định Hội thẩm trong tố tụng hình sự là một việc làm rất cần thiết. Việc nghiên
cứu phải được tiến hành một cách nghiêm túc, có hệ thống nhằm làm rõ
những yếu tố tích cực của chế định này, chỉ ra những vấn đề còn hạn chế
trong các quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn hoạt động. Từ đó
đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Hội thẩm trong tố tụng hình sự.
Vì vậy tác giả chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Hội thẩm trong tố tụng
hình sự” để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ trước tới nay đã có một số luận văn, luận án nghiên cứu về địa vị
pháp lý của những chủ thể khác trong tố tụng hình sự như Thẩm phán, Kiểm
sát viên, điều tra viên, luật sư… nhưng chưa có luận văn, luận án nào nghiên
cứu về địa vị pháp lý của Hội thẩm trong tố tụng hình sự từ năm 2003 đến nay.
Cũng đã có một số tài liệu, bài viết về tiêu chuẩn của Hôi thẩm, quyền hạn,
trách nhiệm của Hội thẩm. Tuy nhiên các tài liệu, bài viết này thường chỉ
nghiên cứu về quyền hạn, trách nhiệm của Hội thẩm theo pháp luật nói chung.
Không tập trung vào nghiên cứu về quyền hạn, trách nhiệm của Hội thẩm trong
3
thẩm trong tố tụng hình sự.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế định Hội thẩm.
Tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vị trí, vai
trò, quyền hạn, trách nhiệm của Hội thẩm; cũng như nghiên cứu thực trạng
hoạt động của Hội thẩm trong tố tụng hình sự hiện nay; xu hướng cải cách tư
pháp và những vấn đề liên quan đến chế định Hội thẩm trong tố tụng hình sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu địa vị pháp lý của Hội thẩm qua các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự và qua thực tiễn áp dụng các quy định đấy. Tập
trung làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội thẩm trong quá trình xét xử các
vụ án hình sự.
Luận văn không nghiên cứu hội thẩm nhân dân trong các hoạt động tố
tụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận văn dựa trên quan
điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách
tư pháp, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là các phương pháp phân tích, tổng
hợp, đối chiếu, so sánh, phương pháp thống kê để làm rõ những vấn đề của
đối tượng nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm rõ khái niệm về địa vị pháp lý của Hội thẩm trong tố tụng
hình sự. Luận văn sẽ phân tích về vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của
Hội thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thực tiễn áp dụng áp
dụng những quy định đó và chỉ ra những hạn chế thiếu sót của pháp luật hiện
đa nghĩa với nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều nghĩa khác nhau rất phức tạp.
Điều này có nghĩa là: người Việt dùng nhiều từ để diễn đạt một khái niệm
trong khi người nước ngoài sử dụng một từ để chỉ nhiều khái niệm (nhiều
nghĩa hoàn toàn khác nhau). Có thể thấy rõ hiện tượng này qua một số cuốn
từ điển cụ thể dưới đây.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học
xã hội Việt Nam thì “hội thẩm” được hiểu là: “đại biểu nhân dân cùng ngồi
xử án với các thẩm phán” [46, tr.461]. Cũng theo Từ điển này, “bồi thẩm” là
“thẩm phán cùng ngồi xét xử với chánh án trong một phiên tòa”. Theo Từ
điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp thì “hội thẩm
nhân dân” là “Người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm
nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” [44, tr.387]. Từ
điển Hán Việt của Đào Duy Anh không đưa ra định nghĩa “hội thẩm” song có
giải thích nghĩa riêng rẽ của hai từ Hán Việt là “Hội” và “Thẩm”. Từ “Hội” có
nghĩa là: “Họp nhau - Cơ quan có nhiều người họp để làm việc - Gặp - Ý tứ
và sự lý hợp nhau - Bản lĩnh và sự tình hợp nhau” [2, tr.184]. Còn từ “Thẩm”
7
được hiểu là “Biết rõ tình hình - Khảo xét kỹ càng - Xử đoán”. Căn cứ vào
nghĩa của từng từ riêng rẽ, có thể hiểu “hội thẩm” là người thấu suốt tình lý
tham gia vào việc xử án. Điểm đáng lưu ý là, mặc dù không định nghĩa về
“hội thẩm” nhưng Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh lại giải thích về bồi
thẩm và chế độ bồi thẩm. Theo ông Đào Duy Anh, “Bồi” là: “Theo cho có
bạn - Giúp thêm - Làm tôi - Ở hai bên người khác” và “Bồi thẩm” là “Những
người do công dân cử lên để tham dự vào việc thẩm phán ở Pháp đình”. Còn
“Bồi thẩm chế độ” là “Khi Pháp viện xét án dân sự, trừ pháp quan còn có
những người do công dân hợp cách cử ra để thẩm tra tình hình sự thực, pháp
quan cứ theo quyết nghị của mấy người ấy để phán quyết. Mấy người ấy gọi
là bồi thẩm. Chế độ ấy thịnh hành nhất ở Anh và Mỹ” [2, tr.35]. Trong các
“giúp đỡ hoặc đưa ra lời khuyên”. Các tác giả Từ điển Larousse cho rằng từ
“Hội thẩm” (Assesseur) trong tiếng Pháp có 4 nghĩa sau đây: 1) Là thẩm phán
giúp đỡ, hỗ trợ chủ tọa phiên tòa và nghị án cùng với ông ta; 2) Là danh từ
dùng để chỉ thành viên của một số thiết chế tư pháp đặc biệt (như Tòa án về
những vấn đề nông thôn hay Tòa thương mại liên quan đến các giao thương
trên biển) hoặc thành viên của các văn phòng bầu cử quốc gia; 3) Dưới thời
đế chế La Mã thống trị, hội thẩm (Assesseur) là những luật gia cố vấn có
nhiệm vụ hỗ trợ về mặt pháp lý cho các thẩm phán ra phán quyết; 4) Trong
chế độ cũ (trước cách mạng 1789 ở Pháp), hội thẩm là những người giúp đỡ
cho người đứng đầu các tổ chức tư pháp hoặc là những nhân viên tư pháp
tham dự hoạt động xét xử với các thẩm phán trong các phiên tòa hình sự.
Theo Từ điển phổ thông wikipedia.org trên mạng Internet thì:
Hội thẩm (Assesseur) là người ngồi bên cạnh một người khác để giúp
đỡ người này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của họ và bổ sung, hỗ trợ họ khi
thấy cần thiết. Trong các quy định pháp luật, hội thẩm là người hoạt động
trong lĩnh vực tư pháp có chức năng hỗ trợ cho thẩm phán. Ở một nghĩa khác,
9
thuật ngữ Assesseur (Hội thẩm) còn được dùng để chỉ những người có nhiệm
vụ bảo đảm cho các cuộc bầu cử diễn ra suôn sẻ, nhất là trong việc kiểm tra tư
cách cử tri hoặc tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Ở Thụy Sĩ, người ta còn gọi
là Assesseur (Hội thẩm) những người là thành viên không giữ chức vụ chủ
tịch, thư ký hay kế toán trưởng trong cơ quan điều hành của các tổ chức xã
hội.
Từ những điều đã trình bày trên, có thể thấy, ở nước ta, chế định Hội
thẩm chính thức chỉ xuất hiện từ năm 1945 trở lại đây với hai tên gọi thay thế
nhau theo thời gian là “phụ thẩm” và “hội thẩm”. Có thể nói “phụ thẩm” và
“hội thẩm” là hai thuật ngữ tương đương ngang nghĩa nhau song khái niệm
hành và bảo vệ pháp luật. Hội thẩm nhân dân còn góp phần tuyên truyền, phổ
biến pháp luật nói chung, kết quả xét xử các vụ án cho quần chúng nhân dân
nói riêng Là những người cùng sinh sống, làm việc trong các cụm dân cư, các
đơn vị sản xuất, các cơ quan hành chính, sự nghiệp; người có sự hiểu biết
pháp luật nhất định. Sau mỗi phiên tòa, Hội thẩm nhân dân trở về với dân cư
nơi sinh sống và nơi làm việc, nên Hội thẩm nhân dân có điều kiện phổ biến
pháp luật và kết quả xét xử vụ án của Tòa án cho quần chúng nhân dân [11].
Như vậy, hội thẩm là người đại diện của nhân dân, được bầu hoặc cử
theo quy định của pháp luật để cùng thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử những
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án để giúp Tòa án giải quyết vụ án kịp thời và
đúng đắn, phù hợp nguyện vọng quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu giải
quyết tranh chấp trong xã hội cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm.
1.1.2. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm trong tố tụng hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “địa vị” là: “Vị trí
cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt
được coi trọng nhiều hay ít” [46, tr.321].
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về con người cho rằng con
người là một thực thể thống nhất giữa cái tâm sinh lý và cái xã hội. Sự tồn
tại của con người không tách được khỏi môi trường xã hội và xét về bản chất
11
thì con người (ở nghĩa cá nhân) là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Tính đa
dạng trong quan hệ xã hội của mỗi người tạo nên địa vị xã hội của họ. Xét ở
một khía cạnh nào đó, địa vi pháp lý cũng là một bộ phận nằm trong địa vị
xã hội của con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ với
những người khác.
Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý trực thuộc Bộ Tư pháp
định nghĩa địa vị pháp lý là:
Vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp
nhân, tổ chức tham gia quan hệ pháp luật trong mối quan hệ với các cá nhân,
tổ chức khác được gọi là địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức đó. Địa vị pháp
lý của cá nhân, tổ chức không tách rời khỏi cá nhân, tổ chức khi tham gia các
quan hệ pháp luật. Và ngược lại, chính qua địa vị pháp lý của cá nhân, tổ chức
thì cá nhân, tổ chức mới tồn tại với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật.
Hay nói cách khác, địa vi pháp lý của một cá nhân, tổ chức có được là do
pháp luật trao cho họ. Đây là điểm khác biệt quan trong giữa địa vị pháp lý
với địa vị xã hội nói chung. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua
việc thiết lập nên các quy tắc, mô hình hành vi chuẩn, hay nói cách khác,
pháp luật đưa ra các quy tắc xử sự chung buộc mọi người phải tuân theo. Pháp
luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể pháp luật. Toàn bộ
những quyền, nghĩa vụ pháp lý đó tạo thành địa vị pháp lý của chủ thể tham
gia quan hệ pháp luật mà quy phạm pháp luật điều chỉnh. Địa vị pháp lý của
chủ thể pháp luật là do Nhà nước, qua việc ban hành các quy phạm pháp luật,
tạo nên, thể hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy
định cho các chủ thể đó.
Trong quan hệ pháp luật, tương ứng với quyền pháp lý của chủ thể
pháp luật này là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật khác. Lý luận nhà
nước và pháp luật xác định: nghĩa vụ pháp lý của chủ thể quan hệ pháp luật là
hành vi xử sự bắt buộc mà quy phạm pháp luật quy định trước mà một bên
13
của quan hệ pháp luật đó phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của các chủ thể
khác. Khác với quyền pháp lý, nghĩa vụ pháp lý không phải là khả năng xử sự
mà là sự cần thiết phải xử sự của chủ thể quan hệ pháp luật.
Như phần trên đã trình bày, hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo
quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án, nên địa vị pháp lý của hội thẩm và quyền và nghĩa vụ của
được quân Anh yểm trợ xâm lược chiếm Sài Gòn. Bên trong đất nước, bọn
phản động người Việt được sự trợ giúp của đế quốc ngoại bang và tàn quân
của chế độ cũ nổi dậy chống phá nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ để
thành lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Đứng trước tình
hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn là diệt giặc đói, diệt giặc
dốt và diệt giặc ngoại xâm. Chính vì vậy, hệ thống pháp luật nói chung, trong
đó có pháp luật tố tụng hình sự được xây dựng thời kỳ này chủ yếu tập trung
phục vụ ba nhiệm vụ nói trên. Nhưng do tình hình hết sức khẩn trương lúc
bấy giờ, nên không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật cũng
như các văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết. Do đó, ngày
10/10/1945, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các
luật lệ cũ ở ba miền Bắc, Trung, Nam, nhưng không được xâm phạm vào nền
độc lập quốc gia. Sắc lệnh quy định:
Cho đến khi ban hành bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam,
các luật lệ hiện hành vẫn tạm giữ nguyên như cũ [6, Điều 1], với điều kiện Những
điều khoản trong luật lệ cũ được tạm giữ lại do sắc luật này chỉ thi hành khi nào
không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa [6,
Điều 12].
Do tình hình đất nước lúc bấy giờ rất cấp bách trong bảo vệ nền độc lập
dân tộc nên vấn đề xây dựng pháp luật chưa có thời gian xây dựng, các văn
bản pháp luật được ban hành thường mang tính thời kỳ, phục vụ những nhiệm
vụ trước mắt. Tuy nhiên, hàng loạt văn bản liên quan đến hoạt động tư pháp
15
được ban hành. Sắc lệnh 33C ngày 13/9/1945 của Chính phủ lâm thời về
thành lập tòa án quân sự; Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 và Sắc lệnh số 51
ngày 17/7/1946 về thành lập tòa án các cấp. Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946
khi xét xử có phụ thẩm nhân dân tham gia cùng thẩm phán. Các phụ thẩm
Ủy ban và Tòa án đều không cử người thay thế. Mỗi khi mở phiên tòa, thường
phải mời một số cán bộ chính quyền và đoàn thể làm hội thẩm nhân dân, việc
mời thường gặp nhiều khó khăn, có khi phải hoãn phiên tòa vì hội thẩm
nhân dân bận không đến được. Số hội thẩm nhân dân khu và tỉnh còn quá ít
mà số việc đưa ra xét xử lại nhiều, hội thẩm nhân dân lại bận luôn nên
không đảm bảo được chu đáo nhiệm vụ của mình. Do vậy, cần mở rộng
danh sách hội thẩm nhân dân nhằm phát triển việc nhân dân tham gia tư
pháp, đồng thời đảm bảo cho Tòa án được dễ dàng trong việc mời hội thẩm
nhân dân tham gia xét xử nhưng cũng chú trọng chất lượng của hội thẩm
nhân dân để đảm bảo cho việc xét xử được tốt, nâng cao được tác dụng của
hội thẩm nhân dân trong Tòa án.
Tiếp tục quan điểm nêu trên, Hiến pháp 1959 về Hội thẩm nhân dân
tham gia xét xử vụ án hình sự, Hiến pháp 1980, Luật tổ chức Tòa án nhân dân
1981; Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 đều quy định rất
rõ vấn đề này. Ví dụ, Điều 130 Hiến pháp năm 1980 quy định:
Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo
quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm
phán. Chế độ bầu cử Hội thẩm nhân dân được thực hiện ở Tòa án nhân dân các
cấp. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao là hai năm rưỡi;
nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân tòa án nhân dân địa phương là hai năm [23,
Điều 130].
Trên cơ sở Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa án, các văn bản pháp luật tố
tụng hình sự đều quy định vị trí vai trò của Hội thẩm nhân dân tham gia vào
xét xử vụ án hình sự. Thông tư 377-TC ngày 25/4/1961 hướng dẫn việc tổ
17
chức bầu cử hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân địa phương nêu rõ,
Để thực hiện Điều 99 của Hiến pháp 1959 và điều 11 của Luật tổ chức
Khi sơ thẩm, Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia. Hội thẩm
nhân dân do nhân dân bầu ra. Khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với
thẩm phán; Điều 12 lại quy định cụ thể thêm: Khi sơ thẩm, Tòa án nhân dân
gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ,
giản đơn và không quan trọng thì Tòa án nhân dân có thể xử không có hội thẩm
nhân dân.
Nói chung, Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia vào xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự mà không tham gia vào xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, Điều 12 Luật tổ
chức Tòa án nhân dân có quy định: “Trong trường hợp đặc biệt, khi xử phúc
thẩm Tòa án cũng có thể có thêm hội thẩm nhân dân”. Thông tư số 2421-TC
ngày 29/12/1961 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thực hiện chế
độ hội thẩm nhân dân có quy định: để khắc phục tình trạng thiếu thẩm phán,
các Tòa án nhân dân nào thiếu thẩm phán có thể mời hội thẩm nhân dân ngồi
xử thay cho thẩm phán vắng mặt khi Tòa án xét xử phúc thẩm, nhưng phải
bảo đảm cho số thẩm phán chuyên trách nhiều hơn số hội thẩm nhân dân, tức
là Tòa án phải gồm có hai thẩm phán và một hội thẩm nhân dân.
Khi tham gia xét xử, Điều 19 Pháp lệnh Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
năm 1961 quy định: “Hội thẩm nhân dân có trách nhiệm đến Tòa án để làm
nhiệm vụ của mình theo đúng ngày giờ mà Tòa án đã ấn định”. Tòa án phải
nhắc nhở các hội thẩm nhân dân thi hành nghiêm chỉnh quy định nói trên vì
nếu hội thẩm nhân dân không đến Tòa án hoặc đến Tòa án không đúng ngày
giờ mà Tòa án đã định sẽ làm trở ngại cho việc xét xử, gây thêm tổn phí cho
nhà nước và cho nhân dân. Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 của Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn việc thực hiện chế độ hội thẩm nhân dân có quy
định: hội thẩm nhân dân cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án mà mình có nhiệm vụ
tham gia xét xử; hội thẩm nhân dân phải giữ bí mật việc thảo luận ở Tòa án về
19