LUẬN VĂN:
Hoàn thiện địa vị pháp lý của Chấp hành
trong thi hành án dân sự tại Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với công cuộc đổi mới của
Đảng và Nhà nước là tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực sự của dân, do dân, vì dân, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến nội
dung, bản chất dân chủ của chính quyền, cũng như phương thức tổ chức quyền lực nhà
nước, trong đó vai trò của pháp luật trực tiếp thể hiện ý chí của Nhà nước, kết tinh quyền
lực của nhân dân; pháp luật phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Vì vậy, yêu cầu
hàng đầu là phải coi trọng pháp luật và pháp chế trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước,
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh. Trong đó, các phán quyết của Tòa án và của các
Nhận thức được tình hình này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám
(Khóa VII) đã chủ trương “sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án theo
hướng tiến tới tập trung nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào Bộ Tư
pháp”. Trong đó cũng cần phải nghiên cứu và xây dựng các quy định pháp luật về Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý
của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam có ý nghĩa cấp thiết trong công
cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau
liên quan đến vấn đề địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong hoạt động thi hành án dân
sự, nhưng chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu sâu và
toàn diện hệ thống pháp luật về địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong thi hành án dân
sự.
Thực tiễn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận những quy đinh của về địa
vị pháp lý của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự. Đồng thời thực tiễn cũng đặt ra
yêu cầu phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự và thực trạng áp dụng các quy định này. Trên cơ sở đó
đưa ra giải pháp khắc phục những bất cập, thiếu sót và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam hiện nay.
Là người đã nhiều năm trực tiếp làm công tác thi hành án dân sự ở địa phương và
hiện nay đang đảm nhiệm nhiệm vụ giảng dạy về nghiệp vụ thi hành án dân sự (đào tạo
nguồn bổ nhiệm Chấp hành viên) cho các cán bộ đang làm công tác thi hành án dân sự
trong các cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, tôi luôn trăn trở làm thế nào để
các Chấp hành viên chủ động tổ chức thi hành các bản án, quyết định một cách hiệu quả
nhất, góp phần giảm án tồn đọng như hiện nay. Đó là lý do tôi lựa chọn nghiên cứu đề
tài: "Hoàn thiện địa vị pháp lý của Chấp hành trong thi hành án dân sự tại Việt
Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp
Chấp hành viên, trên cơ sở đó luận văn chỉ ra những nguyên nhân của những hạn chế trong
quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy
định pháp luật về địa vị pháp lý của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam
góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự tại Việt Nam.
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, vấn đề địa vị pháp lý của Chấp hành viên
trong thi hành án dân sự cần được làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và thực tiễn, làm cơ sở
cho việc hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong thi
hành án dân sự tại Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
đến năm 2020.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm
hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của Chấp hành viên trong thi hành án dân
sự tại Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về thi hành án dân sự, pháp luật về địa vị pháp lý của
Chấp hành viên trong thi hành án dân sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của Chấp hành viên
và thực tiễn áp dụng các quy định đó trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định ở
Việt Nam từ năm 2004 đến nay.
- Đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuân khổ luận văn thạc sỹ Luật học, với đề tài Hoàn thiện địa vị pháp lý
của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam, luận văn tập trung nghiên
cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thi hành án dân sự, về địa vị pháp lý của Chấp hành viên
Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, bao gồm các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật cũng
như về các biện pháp bảo đảm cho Chấp hành viên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ
của mình trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định
khác do pháp luật quy định.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu
hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả thi
hành án dân sự ở Việt Nam.
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và học tập các môn học thi hành án dân sự, Luật tố tụng dân sự v.v… tại các cơ sở đào
tạo Luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHẤP HÀNH VIÊN TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm, bản chất của thi hành án dân sự
1.1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước là một
trong những nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, mọi
tranh chấp xảy ra khi có yêu cầu đều được Tòa án xem xét giải quyết theo thẩm quyền và
theo trình tự tố tụng. Khi một người bị người khác xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp
của mình, họ có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ. Việc xem xét giải quyết của Tòa
án là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự (cá
nhân, tổ chức, Nhà nước). Ở giai đoạn này, Tòa án mới chỉ giải quyết về nội dung vụ việc
chức phi chính phủ (cơ quan tài phán) giải quyết các việc dân sự hoặc kinh doanh
thương mại theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm hại. Những phán
quyết của Tòa án cũng như những phán quyết của các cơ quan tài phán muốn được thực thi
trên thực tế phải qua giai đoạn thi hành án dân sự.
Có thể nói thi hành án dân sự là giai đoạn độc lập, giai đoạn kết thúc quá trình bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bao gồm tổng hợp các hành vi pháp lý nhằm thi
hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định của cơ quan khác do Nhà nước
quy định.
Theo Từ điển Luật học, thi hành án là: “Hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” [41, tr.705]. Công tác thi hành án
dân sự thuộc về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là cơ quan
thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
Công tác thi hành án dân sự là loại việc có những nét đặc trưng riêng xuất phát từ
việc các bản án, quyết định được đưa ra thi hành tuy rất đa dạng, nhưng chủ yếu là những
quyết định mang tính tài sản - đặc trưng của quan hệ dân sự; xuất phát từ nguyên tắc tôn
trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự.
Người được thi hành án giữ vai trò chủ động trong thi hành án và họ có quyền quyết định
đưa ra những yêu cầu thi hành các quyết định trong các bản án, quyết định dân sự có liên
quan đến việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, như: quyền yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự thi hành án hay không yêu cầu thi hành án; quyền yêu cầu không tiếp tục thi hành án,
quyền cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành án
Trong quá trình thi hành án, các bên đương sự (người được thi hành án và người phải
thi hành án) có thể tự thỏa thuận với nhau về việc thi hành án, tuy nhiên việc thỏa thuận này
phải phù hợp với pháp luật và không trái với đạo đức xã hội (Điều 6 Luật Thi hành án dân sự
năm 2008). Theo đó, các đương sự thỏa thuận về các vấn đề như: thời gian, địa điểm,
phương thức thi hành án Cơ quan thi hành án dân sự nói chung, Chấp hành viên nói riêng
có trách nhiệm theo dõi, giám sát và chứng kiến ghi nhận sự thỏa thuận thi hành của các bên
đương sự. Về phía Nhà nước, luôn luôn khuyến khích các đương sự tự nguyện thi hành án
thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”. Trong quá trình thảo luận tại các kỳ họp của Quốc hội
cũng có ý kiến đại biểu cho rằng nên đưa quy định xã hội hoá hoạt động thi hành án dân
sự thành một điều trong Luật thi hành án dân sự để có cơ sở pháp lý triển khai thực hiện
trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo đa số ý kiến của đại biểu Quốc hội thì để thực hiện có
hiệu quả chủ trương này cần phải có bước đi thích hợp, trên cơ sở làm thí điểm sau đó
tiến hành sơ kết, tổng kết để đánh giá khả năng thực hiện và hiệu quả của việc thực hiện
xã hội hoá hoạt động thi hành án. Hơn nữa, do hiện nay việc thực hiện xã hội hoá hoạt
động thi hành án (cụ thể là việc tổ chức thí điểm chế định Thừa phát lại) chưa được triển
khai nên chưa có cơ sở thực tiễn để đánh giá và áp dụng. Do vậy, nhiều quy định về xã
hội hoá một số công việc về thi hành án dân sự chưa nên đưa vào trong Luật thi hành án
dân sự mà chỉ nên quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật thi hành
án dân sự. Cuối cùng, Quốc hội đã nhất trí quy định trong Nghị quyết về việc thi hành
Luật thi hành án dân sự, giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế
định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương. Việc thí điểm được thực hiện
từ ngày Luật thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/7/2009 đến ngày
01/7/2012). Từ kết quả thí điểm, Chính phủ tổng kết, đánh giá thực tiễn, báo cáo Quốc
hội xem xét, quyết định. Thực hiện Nghị quyết của Quốc Hội, Bộ Tư Pháp đã khẩn
trương xây dựng và trình Chính phủ xem xét phê duyệt Nghị định về “Tổ chức và hoạt
động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh”[39]. Và ngày
24/7/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại
thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh
*
, trong đó quy định những công việc của
Thừa phát lại (Điều 3 của Nghị định) gồm:.Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa
án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức; Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và trực tiếp tổ chức thi
hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Như vậy, việc tổ
chức thi hành án dân sự không chỉ giao cho cơ quan Nhà nước mà còn giao cho tổ chức
khác đó là Tổ chức Thừa phát lại, tuy nhiên đây mới chỉ hoạt động thí điểm tại Thành
Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Thi hành án dân sự là một dạng hoạt động có
tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định
nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên,
tính chất chấp hành trong thi hành án dân sự có những nét riêng thể hiện ở chỗ: Thứ nhất,
nó chủ yếu do cơ quan tư pháp hay đối tượng phải thi hành tiến hành; Thứ hai, cơ sở để
tiến hành các hoạt động thi hành án bao gồm các quy định của pháp luật (được thể hiện
trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định (văn bản áp dụng pháp luật)
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp
dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành
*
.
Quan điểm thứ ba cho rằng, thi hành án là dân sự một hoạt động hành chính - tư
pháp, thi hành án dân sự không thể là giai đoạn của tố tụng bởi vì thi hành án có mục
đích khác với bản chất và mục đích của tố tụng. Điều này thể hiện ở chỗ, mục đích của tố
tụng là xác định các chứng cứ để xác lập lại trạng thái ban đầu của sự việc. Nói cách khác
tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách
giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật. Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố
tụng diễn ra theo một quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình
đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng và khi
đã có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc. Trong khi đó, thi hành án là
*
Tạp chí Luật học số 5/1998 trang 43,44 Bài viết Mấy vấn đề về thi hành án trong việc soạn thảo Bộ luật tố tụng
dân sự của Nguyễn Công Bình.và giao trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật.
*
Chuyên đề một số vấn đề lý luận về thi hành án của PGS.TS. Lê Minh Tâm, Trường Đại học luật Hà Nội.
quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án, và
quyết định khác do luật định đã có hiệu lực thi hành. Vì vậy, có thể nói tố tụng là quá
trình đi tìm chân lý để áp dụng công lý (pháp luật); còn thi hành án là quá trình thực thi
nguyên tắc, thủ tục, trình tự thi hành án dân sự. Vì vậy, thi hành án dân sự không phải là
giai đoạn tố tụng và không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà còn chịu sự
điều chỉnh của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 nay là Luật thi hành án dân sự
năm 2008. Bản chất của hoạt động thi hành án được thể hiện trên ba phương diện chủ yếu
sau:
Thứ nhất, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình thi hành
án dân sự;
Thứ hai, tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự;
Thứ ba, đặc thù trong các quan hệ thủ tục về thi hành án dân sự (đây là vấn đề có
thể dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng). Quan hệ thủ tục thi hành án có thể bao gồm cả
quan hệ tố tụng và quan hệ khác mang tính hành chính - tư pháp, nhưng cần khẳng định rằng
các quan hệ hành chính chủ yếu hơn.
Việc xác định thi hành án dân sự là hoạt động tố tụng hay là hoạt động hành
chính - tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng, nó làm sáng tỏ bản chất thi hành án dân sự
cũng như bản chất về địa vị pháp lý của Chấp hành viên. Nhưng dù là quan hệ tố tụng
hay quan hệ hành chính - Tư pháp, dù là người của cơ quan tiến hành tố tụng hay là
người có chức danh hành chính thì nhiệm vụ của Chấp hành viên được quy định trong
Luật là phải thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác do pháp
luật quy định. Vậy, điều quan trọng nhất là để Chấp hành viên thực hiện tốt nhiệm vụ thi
hành các bản án, quyết định thì pháp luật phải tạo đủ điều kiện cho Chấp hành viên thực
hiện.
1.1.2. Khái niệm Chấp hành viên trong thi hành án dân sự
Trong mỗi cơ quan khác nhau thì có những chức danh khác nhau để thực thi
nhiệm vụ của cơ quan đó. Chẳng hạn, đối với cơ quan Tòa án thì người thực hiện chức
năng xét xử là Thẩm phán, hay đối với cơ quan Viện kiểm sát thì người thực hiện chức
năng công tố là Kiểm sát viên, đối với cơ quan công an, người thực hiện nhiệm vụ điều
tra các vụ án là các Điều tra viên Tại các Cơ quan thi hành án dân sự đều có các cán bộ
làm nhiệm vụ thi hành án và các cán bộ làm các nhiệm vụ khác liên quan đến việc thi
hành án, như thủ quỹ, kế toán, thủ kho Nhưng người có nhiệm vụ, quyền hạn trực tiếp
mà không qua thi tuyển
7. Trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định, người có đủ tiêu chuẩn quy định
tại Khoản 1 Điều này, đã có thời gia làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên thì có thể
được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp hoặc đã có thời gian làm công tác pháp luật từ
15 năm trở lên thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp”.
Theo quy định của pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì ngạch Chấp hành
viên gồm có Chấp hành viên cấp tỉnh và Chấp hành viên cấp huyện và được bổ nhiệm
theo nhiệm kỳ là 05 năm. Việc quy định ngạch bậc của Chấp hành viên theo hai cấp đã
phát sinh nhiều bất cập trong việc sắp xếp, điều động, luân chuyển Chấp hành viên giữa
các cơ quan thi hành án dân sự trong phạm vi toàn quốc, không thu hút được cán bộ về
công tác ở cơ quan thi hành án dân sự và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư
pháp. Hơn nữa, việc quy định Chấp hành viên theo hai cấp với mức chênh lệch về bậc
lương khởi điểm khá cao (Chấp hành viên cấp huyện có mức lương khởi điểm là 2,16 và
Chấp hành viên cấp tỉnh có mức lương khởi điểm là 3,62, như hiện nay là chưa có cơ sở
khoa học rõ ràng để phân loại năng lực, trình độ của Chấp hành viên cấp tỉnh và Chấp
hành viên cấp huyện nên không động viên, khuyến khích được những người có tài năng
và kinh nghiệm đã dẫn đến nhiều bất cập trong thời gian qua [51].
Thực tế hoạt động thi hành án dân sự cho thấy tính chất, mức độ phức tạp của các vụ
việc thi hành án cũng khác nhau: có những vụ việc đơn giản nhưng cũng có nhiều vụ việc
phức tạp, số tiền, tài sản phải thi hành rất lớn, việc thi hành liên quan đến nhiều địa phương,
nhiều cấp, nhiều ngành, vụ việc có yếu tố nước ngoài.v.v… đòi hỏi phải có những Chấp hành
viên có năng lực chuyên môn, có trình độ ngoại ngữ nhất định và giàu kinh nghiệm thực tiễn
để tổ chức thi hành.
Để khắc phục tình trạng trên, bảo đảm sự công bằng giữa công sức mà các Chấp
hành viên bỏ ra với tính chất, yêu cầu công việc của họ thì Luật Thi hành án dân sự năm
2008 (Điều 17) đã quy định chấp hành viên có ba ngạch: sơ cấp, trung cấp và cao cấp dựa
trên tiêu chuẩn về chuyên môn, trình độ, năng lực, nghiệp vụ, thâm niên, kinh nghiệm
công tác mà không phụ thuộc vào đơn vị công tác (cơ quan thi hành án cấp huyện hay cơ
quan thi hành án cấp tỉnh) là rất hợp lý.
* Về thời hạn bổ nhiệm Chấp hành viên
Quy định về việc bổ nhiệm Chấp hành viên có nhiệm kỳ 05 năm theo Pháp lệnh
thi hành án dân sự 2004 có những ưu điểm như: giúp cho lãnh đạo Bộ Tư pháp rà soát,
đánh giá lại số liệu, chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự trên phạm vi cả
nước, đồng thời đòi hỏi Chấp hành viên phải tự nhìn nhận, đánh giá, kiểm điểm lại chính
mình, cả về phẩm chất, lẫn năng lực chuyên môn; mỗi Chấp hành viên phải tự hoàn thiện
mình, trau dồi đạo đức, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nhằm hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác thi hành án.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó thì công tác bổ nhiệm Chấp hành viên theo
nhiệm kỳ đã phát sinh nhiều bất cập như: quy trình, thủ tục xét bổ nhiệm Chấp hành viên
thường phức tạp, kéo dài, đặc biệt khi thay đổi hoặc khuyết thành viên của Hội đồng
tuyển chọn Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự thì thủ tục bổ nhiệm phải dừng lại
để chờ kiện toàn cho đúng thành phần của Hội đồng tuyển chọn. Mặt khác, việc bổ nhiệm
Chấp hành viên theo nhiệm kỳ cũng tạo cho các Chấp hành viên có tâm lý không thật sự
yên tâm công tác mỗi khi sắp đến kỳ phải xem xét bổ nhiệm lại. Vì mỗi khi xem xét hồ
sơ bổ nhiệm lại có nhiều trường hợp các đương sự đã “trả thù” Chấp hành viên bằng cách
viết đơn thư tố cáo Chấp hành viên, hoặc chính trong nội bộ cơ quan cũng có đơn thư
khiếu nại, tố cáo nặc danh gây hoang mang cho các Chấp hành viên và đôi khi Chấp hành
viên còn có tâm lý “ngại” thi hành, nhất là “ngại” tổ chức cưỡng chế thi hành án vì mỗi
vụ việc tổ chức cưỡng chế thường va chạm, liên quan đến quyền lợi của nhiều người …
Việc bổ nhiệm Chấp hành viên theo nhiệm kỳ như quy định của pháp luật hiện hành phần
nào đã ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động thi hành án của Chấp hành viên nói
riêng, của cơ quan thi hành dân sự nói chung. Do đó, Luật thi hành án dân sự đã đưa ra
những quy định mới về việc bổ nhiệm Chấp hành viên không kỳ hạn vừa kế thừa được
những ưu điểm, vừa khắc phục được những hạn chế của việc bổ nhiệm chấp hành viên có
kỳ hạn. Chấp hành viên là một chức danh tư pháp gắn với việc thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn về thi hành án dân sự, nên việc bổ nhiệm Chấp hành viên không theo nhiệm
kỳ sẽ tạo ra sự yên tâm để Chấp hành viên làm tốt công tác thi hành án, điều này cũng
hành án dân sự được giao cho hệ thống cơ quan thi hành án thuộc Bộ Tư pháp đảm
nhiệm, việc thi hành án hình sự (phạt tù, tử hình…) được giao cho Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng đảm nhiệm. Do đó, ngoài hoạt động xét xử, công tố (truy tố), thì hoạt động điều
tra hình sự và hoạt động thi hành án, cả trong lĩnh vực hình sự và dân sự đều được coi là
hoạt động tư pháp. Cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án, với chức năng, nhiệm vụ
được giao, đều được xem là cơ quan tư pháp trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta.
Vì vậy, chức danh của những người được Nhà nước bổ nhiệm để thực thi nhiệm vụ trong các
cơ quan tư pháp là chức danh tư pháp.
Thứ hai, hoạt động tổ chức thi hành án của Chấp hành viên thể hiện đầy đủ
những đặc trưng cơ bản của hoạt động tư pháp, đó là:
+ Được trực tiếp sử dụng quyền lực Nhà nước trong khi thi hành công vụ;
+ Trực tiếp bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật và trật tự pháp luật;
+ Có ảnh hưởng hoặc quyết định trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân và của tổ chức có liên quan;
+ Thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, không được đảo lộn và không được làm
tắt (trình tự, thủ tục thi hành án dân sự được quy định chặt chẽ theo Pháp lệnh thi hành án
Dân Sự năm 2004 và đến ngày 01/7/2009 thì được thực hiện theo các quy định của Luật
thi hành án dân sự năm 2008).
+ Mục đích của hoạt động thi hành án là bảo đảm các nội dung của các bản án,
quyết định của Tòa án và các quyết định do pháp luật quy định được thực thi trên thực tế;
+ Thể hiện tính độc lập, tính chuyên môn hóa cao, chế độ chịu trách nhiệm cá nhân và
chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động của các chức danh tư pháp.
Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định Chấp hành viên là một chức danh tư
pháp, thể hiện cấp bậc, quyền hạn, nghĩa vụ của một người được Nhà nước bổ nhiệm nếu
đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật quy định và được Nhà nước giao trách nhiệm thi
hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án và các bản án, quyết định khác do pháp
luật quy định.
1.1.3. Vị trí, vai trò của Chấp hành viên trong thi hành án dân sự
Một là, Chấp hành viên là người duy nhất được Nhà nước giao trách nhiệm thi
của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực
đạo đức nghề nghiệp chấp hành viên.
- Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc
thi hành án;
- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản
của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng,
tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án;
- Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành
án; Lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; Thu giữ tài sản thi hành án.
- Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy
định của pháp luật.
- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm
hành chính theo thẩm quyền; Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.
- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả
cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản
phải nộp khác;
- Sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính
phủ (quy định tại Điều 20 Luật thi hành án dân sự) [33].
Những quyền hạn trên chỉ được Nhà nước trao cho Chấp hành viên để tổ chức thi
hành các bản án, quyết định mà không trao cho bất cứ một chức danh nào khác trong bộ máy
Nhà nước và cũng không trao cho Chấp hành viên để làm những việc không phải là việc tổ
chức thi hành án. Vì vậy, người không phải là Chấp hành viên thì không có quyền tổ chức thi
hành án dân sự. Nói một cách khác, không ai được phép sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc
người khác phải thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án ngoài người duy nhất là Chấp
hành viên.
Hai là, Chấp hành viên có vị trí mang tính độc lập cả về nhiệm vụ lẫn quyền hạn
trong khi tổ chức thi hành án. Chấp hành viên cũng như Thẩm phán trong quá trình thực
lợi ích của bản thân và những người thân thích như: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; Cha
đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông bà nội, ngoại, bác, chú, cậu, cô,dì và anh, chị em
ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; Cháu ruột mà Chấp
hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
+ Chấp hành viên không được sử dụng thẻ chấp hành viên, trang phục, phù hiệu
thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc quyền hạn, nhiệm vụ được
giao.
+ Chấp hành viên không được sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ
chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.
+ Chấp hành viên không được cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định, trì
hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp
luật [33].
Ba là, Chấp hành viên là hạt nhân của hoạt động thi hành án dân sự, tạo dựng lên
uy tín của cơ quan thi hành án dân sự.
Nếu như hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự là trung tâm của việc tổ chức
thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của cơ quan Tài phán khác,
thì có thể nói hoạt động của Chấp hành viên là hạt nhân của cơ quan thi hành án dân sự.
Hoạt động của Chấp hành viên tạo lên sức mạnh, uy tín của cơ quan thi hành án dân sự.
Hiệu quả hoạt động của Chấp hành viên cũng chính là hiệu quả hoạt động của cơ quan thi
hành án dân sự. Một cơ quan thi hành án dân sự có thể có rất nhiều cán bộ, công chức
như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, chuyên viên, kế toán, thủ quỹ, văn thư, lái xe ,