Hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu quốc hội ở nước ta hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ YẾN

HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp
Mã số: 60 38 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Ngân

HÀ NỘI - 2010


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu
quốc hội

5


47

KẾT LUẬN

68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

71


1

M U
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang thực hiện đường lối
xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại điện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khoá X) và Luật
tổ chức Quốc hội đã chỉ rõ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; cơ quan duy nhất có quyền lập
hiến và lập pháp; cơ quan quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và
đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những
nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ
xã hội và hoạt động của công dân, thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nước. Như vậy, Quốc hội là nơi thể hiện cao nhất quyền

do Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ
trì; Đề tài "Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những khía
cạnh pháp lý theo hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội" PGS,TS Nguyễn Đăng
Dung chủ trì; Đề tài "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta
hiện nay" do Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh chủ trì. Luận án tiến sĩ của Lê Thanh Vân về Cơ sở lý luận của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Luận án tiến sĩ của Trần Hồng
Nguyên về: Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay...
Các công trình khoa học nêu trên không nghiên cứu địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội một cách có hệ thống mà chỉ đề cập đến một số vấn đề liên
quan như đổi mới phương pháp lựa chọn đại biểu Quốc hội, nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội.. Vì vậy, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề hoàn thiện địa

vị pháp lý của đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên các công trình khoa học nói trên
đã có những đóng góp quý báu trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của đại biểu Quốc hội; đồng thời cũng là tài liệu tham khảo có
giá trị giúp học viên hoàn thành tốt luận văn của mình.


3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có đối tượng và phạm
vi nghiên cứu rất rộng, khó có thể thực hiện đầy đủ trong điều kiện nghiên cứu
đối với một luận văn cao học. Vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận, phân tích thực trạng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về lý luận và thực tiễn về
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội; làm rõ và phân tích nội hàm của địa vị
pháp lý của đại biểu Quốc hội; phân tích thực trạng để chỉ ra những nguyên
nhân cơ bản của thành công cũng như những hạn chế của địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay. Từ đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm
hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện
cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội. Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến Quốc hội, hoạt động của đại biểu
Quốc hội.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương.


5

CHNG 1
MT S VN Lí LUN V A V PHP Lí
CA I BIU QUC HI
1.1. Vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân
Trong lịch sử phát triển của xã hội dân chủ văn minh, đại biểu Quốc hội
(nghị sỹ) luôn được coi là một nhân vật có uy tín, được Nhà nước, xã hội và
công dân tôn trọng giao cho trọng trách thay mặt nhân dân, nói tiếng nói của
dân.
nước ta địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội được xác định trên cơ sở
vị trí của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước với tính chất là cơ quan đại biểu


Thứ hai, nhân dân là người mang chủ quyền (quyền lực tối cao và duy
nhất), uỷ quyền cho Nghị viện thay mặt mình thực hiện quyền lập pháp. Theo
Montesquieu, nhân dân chỉ uỷ quyền cho Nghị viện thực hiện quyền lập pháp
mà thôi. Khi bàn về quyền lập pháp trong tác phẩm Tinh thần pháp luật, ông
viết: "Trong một nước tự do, mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do,
thì phải được tự quản; như vậy tập đoàn dân chúng phải có quyền lập pháp.
Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp.
Trong một nước nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực
hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc
mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được"[1] . Việc uỷ quyền này
được thực hiện thông qua cuộc bầu cử thành lập Nghị viện. Theo quan điểm
của các học giả ủng hộ chế độ đại nghị, thành viên của Nghị viện không đại
diện cho cử tri bầu ra họ, mà đại diện cho toàn thể dân tộc, bởi vậy họ không
phụ thuộc vào cử tri và không bị cử tri bãi nhiệm.
ng hộ quan điểm nói trên, nhà hiến pháp học người Pháp L.Diughi
cho rằng, mặc dù từng thành viên của Nghị viện do cử tri bầu ra nhưng mối
quan hệ tổng thể ở đây là mối quan hệ giữa toàn bộ các thành viên của Nghị
viện với toàn thể nhân dân, bởi vậy "Nghị viện là cơ quan đại diện được nhân
dân uỷ quyền"[2] .
Khi đặt vấn đề giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ "uỷ quyền" và "đại
diện" dùng cho Nghị viện Học giả người Pháp, M. Prelot đã nhấn mạnh: "Khi
cử tri lựa chọn cá nhân này hay cá nhân kia để bầu làm đại biểu, thì ý chí của
[1]
[2]

Montesquieu - Tinh thần pháp luật- NXB Giáo dục Hà Nội 1996, Trg.103-104
L. Duguit - luật Hiến pháp (Tiếng Nga), Matxcơva, 1998, Tr. 416



dân thực hiện quyền lực Nhà nước.
Thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, việc củng cố và tăng
cường địa vị pháp lý nhằm nâng cao vị trí, vai trò của đại biểu dân cử ngày
càng được coi trọng. Yêu cầu đó được tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X.
Theo đó, vị trí và vai trò của đại biểu Quốc hội được khẳng định như
sau:
Đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội. Đại biểu
là thành viên của Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

- Vị trí của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với
nhân dân, duy trì mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân và ngược lại.
Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước, là người phản ánh ý kiến, nguyện vọng
của nhân dân, biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành các quy định pháp
luật của Nhà nước. Đại biểu Quốc hội còn là người phổ biến, động viên nhân
dân thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước.

- Vai trò của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội của đất nước. Vai trò đó của đại biểu Quốc hội được thể hiện cụ thể
qua việc:

+ Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân


11




12

Mặt khác, qua hoạt động này, đại biểu cũng nắm được những vướng
mắc trong việc đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, kịp thời phản ánh với
các cơ quan có trách nhiệm để có biện pháp giải quyết.

1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến
pháp và được cụ thể hoá trong Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Quy chế hoạt
động của đại biểu Quốc hội (sửa đổi), Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi) và
các văn bản pháp luật khác có liên quan. Theo đó, đại biểu Quốc hội có những
nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây:

1.2.1. Tham gia quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn
của Quốc hội.
Là người đại diện cho nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất, là thành viên của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia
quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội: lập hiến,
lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu
về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động
của công dân; quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

1.2.2. Liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc cử tri và tiếp dân:
Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri, phải liên hệ chặt chẽ
với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm
hiều tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến,
kiến nghị của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan.

quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên.
Trong trường hợp không thể tham gia kỳ họp Quốc hội, các phiên họp, các
cuộc họp, thì đại biểu Quốc hội báo cáo theo quy định của Nội quy kỳ họp
Quốc hội.

- Nhiệm vụ nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội
Theo quy định tại Điều 7 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và
Đoàn đại biểu Quốc hội, khi nhận được thông báo, dự kiến chương trình kỳ
họp và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu,
tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội chuẩn bị cho kỳ họp
Quốc hội.


14

- Quyền và nghĩa vụ thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp và các
vấn đề thuộc nhiệm vụ của Quốc hội
Đại biểu Quốc hội tham gia thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp
tại phiên họp trù bị, thảo luận, quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền
hạn của Quốc hội tại các phiên họp toàn thể. Việc tham gia thảo luận của đại
biểu Quốc hội có thể được tiến hành ở phiên họp toàn thể, phiên họp tổ, đoàn
đại biểu Quốc hội. Đại biểu tham gia quyết định chương trình kỳ họp, các vấn
đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại phiên họp toàn thể theo hình
thức biểu quyết.

- quyền chất vấn
Chất vấn là một trong những hình thức thực hiện quyền giám sát tối cao
của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước. Theo quy định của pháp luật,
đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án toà án nhân

yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên
quan đến dự án; xem xét, quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình
dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Văn phòng Quốc hội bảo
đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do đại
biểu Quốc hội trình.

1.2.4. Yêu cầu thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật.
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội, tổ chức
kinh tế, đơn vị vũ trang, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật đó.
Người nào cản trở đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ thì tuỳ theo
tính chất, mức độ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.2.5. Tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân
Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự và được mời tham dự kỳ họp Hội
đồng nhân dân nơi mình được bầu để nắm tình hình và tìm hiểu ý kiến,
nguyện vọng của nhân dân; tham gia ý kiến vào các vấn đề mà đại biểu quan
tâm; kiến nghị những biện pháp nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp
luật và quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên; giới thiệu và phổ biến pháp
luật. Trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân


16

thông báo cho đại biểu Quốc hội biết thời gian, nội dung, chương trình và
cung cấp tài liêu về kỳ họp cho đại biểu Quốc hội.


17

dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân
dân địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền quan của mình có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của đại biểu
Quốc hội.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận giúp
đỡ đại biểu Quốc hội cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại
biểu tiếp xúc với cư tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân
dân với Quốc hội.
Đối với các quyền yêu cầu giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của
công dân; yêu cầu áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm pháp
luật; đáp ứng các thông tin, điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu,
nếu không được giải quyết thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người
đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại, yêu cầu người
đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải
quyết. Nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị đó không giải quyết hoặc
giải quyết không thoả đáng thì đại biểu Quốc hội báo cáo Uỷ ban thường vụ
Quốc hội xem xét, quyết định. Trong các trường hợp thực hiện quyền yêu cầu
áp dụng biện pháp chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Nếu không được giải
quyết, đại biểu Quốc hội có thể báo cáo ngay với Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét quyết định.

1.2.8. Được hưởng các chế độ quy định
Đại biểu Quốc hội đương nhiệm được hưởng các chế độ sau:
- Được cung cấp tài liệu kỳ họp, các báo Nhân dân, báo địa phương, báo
Người đại biểu nhân dân, tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các tài liệu, văn bản
khác liên quan đến hoạt động của Quốc hội; được cung cấp dịch vụ thông tin,
nghiên cứu, thư viện và internet. Đại biểu là thành viên của Hội đồng dân tộc

Quốc hội đồng ý.

1.2.9. Một số nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội chuyên trách
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội,
ở các Đoàn đại biểu Quốc hội, ngoài việc thực hiện các quyền hạn và nhiệm
vụ của đại biểu Quốc hội nói chung, còn có một số nhiệm vụ quyền hạn sau:


19

Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, đồng thời thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan của Quốc hội mà mình là thành viên theo sự
phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của
Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, đồng thời thực hiện một số nhiệm
vụ và quyền hạn:
- Được Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội uỷ nhiệm thực hiện một số
nhiệm vụ quy định tại Điều 26 của Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội;
- Tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội;
- Được mời dự các Hội nghị, các lớp học, tập huấn theo chức danh lãnh
đạo địa phương;
- Được mời dự các cuộc họp thường kỳ của Thường trực Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương; Được mời dự các cuộc tiếp dân định kỳ của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Có thể thấy rằng, với những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu

Quốc hội với Uỷ ban thường vụ Quốc hội thể hiện qua một số việc cụ thể sau đây:
- Khi đại biểu Quốc hội nhận được thông báo về dự kiến chương trình
làm việc và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội
gửi đến, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu và đóng góp ý kiến gửi
về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đảm bảo nội dung và thời gian theo quyết định
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo về tình hình hoạt động
của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Khi cần thiết, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội cử Đoàn công tác về địa phương xem xét các vấn đề mà
đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị.
- Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước
Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Căn cứu vào
dự kiến chương trình của Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án


21

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định. Khi dự án
luật, pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình được đưa vào chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có
trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo theo đề nghị của đại biểu Quốc hội trình
dự án.
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án
Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong
thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội gửi ý kiến chất vấn của
mình đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển
đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Uỷ
ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét các trả lời chất vấn đối với các chất
vấn trong kỳ họp Quốc hội nhưng do cần điều tra, chưa thể trả lời trong kỳ

nếu không được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1.3.1.2. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Hội đồng dân tộc và các
Uỷ ban của Quốc hội
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội là những cơ quan của
Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh
và các dự án khác, thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban
thường vụ Quốc hội giao, trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và thực hiện quyền giám sát, kiến nghị
những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của
Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các
vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên. Đại biểu Quốc hội
hoạt động chuyên trách ở địa phương có trách nhiệm tham gia các đoàn công
tác, đoàn giám sát của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội.
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội hướng dẫn cụ thể và tạo
điều kiện để đại biểu Quốc hội là thành viên của mình thực hiện quyền trình
các dự án luật, pháp lệnh tra trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1.3.1.3. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Văn phòng Quốc hội


23

Văn phòng Quốc hội là cơ quan giúp việc của Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trong việc nghiên cứu, tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động
của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội, theo sự chỉ đạo của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội gửi đến các đại biểu Quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status