Chất vấn của đại biểu quốc hội ở việt nam hiện nay những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG

CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY- NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

MÃ SỐ: 603801

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
GS.TS TRẦN NGỌC ĐƯỜNG

HÀ NỘI 2010


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô
giáo, bạn bè và đồng nghiệp. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành của mình với các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội- nơi tôi đã
học tập ba năm qua và các bạn bè, đồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình với Thầy giáo, Giáo sưTiến sĩ Trần Ngọc Đường đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thiện luận văn này.

6

1.1.1. Khái niệm chất vấn và bản chất của quyền chất vấn của

6

ĐBQH
1.1.2. Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH và vai

17

trò của nó trong việc thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH
1.2. Vai trò của chất vấn và các bảo đảm thực hiện quyền chất

20

vấn của ĐBQH
1.2.1. Vai trò của chất vấn của ĐBQH

20

1.2.2. Các bảo đảm thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH

21

Chương 2: Thực trạng chất vấn của ĐBQH và yêu cầu, giải

24

pháp nâng cao chất lượng chất vấn của ĐBQH Việt Nam


2.2.2.2 Chất vấn tại phiên họp của UBTVQH

55

2.3. Các yêu cầu nâng cao chất lượng chất vấn của ĐBQH

56


2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng chất vấn của ĐBQH

59

2.4.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về chất vấn và trả lời chất vấn

59

của ĐBQH
2.4.2. Các giải pháp khác nâng cao chất lượng chất vấn của

62

ĐBQH
2.4.2.1 Đảm bảo điều kiện về chính trị- pháp lý theo định hướng

62

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.4.2.2 Đảm bảo điều kiện về thông tin

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: “Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2). “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà
nước thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
nhân dân” (Điều 6). Ở tầm cao và rộng nhất, nhân dân sử dụng quyền lực nhà
nước thông qua Quốc hội. “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”. Vì vậy, Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình
tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng
dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH. Trong đó, chất vấn
của ĐBQH đối với Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện
trưởng VKSNDTC là một hình thức giám sát rất quan trọng và hiệu quả. Đây
là hình thức giám sát trực tiếp, thể hiện bản lĩnh của ĐBQH và năng lực điều
hành, lãnh đạo của những người đứng đầu cơ quan nhà nước. Hoạt động chất
vấn của ĐBQH có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng về mặt lý luận, trong
những năm đổi mới, cùng với chủ trương tăng cường vai trò của Quốc hội, đã
có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các chức năng của Quốc hội, trong
đó có chức năng giám sát, song có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể về chất
vấn của ĐBQH. Do vậy, những vấn đề lý luận về hoạt động này dường như
còn bỏ ngỏ.





3

việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội Việt
Nam trong điều kiện hiện nay” của tác giả Lê Thanh Vân.
- Các sách: “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện
nay” của PGS,TS. Bùi Xuân Đức (2007), Nxb. Tư pháp, Hà Nội; “Quốc hội
Việt Nam trong nhà nước pháp quyền” do PGS,TS. Nguyễn Đăng Dung chủ
biên (2007), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội…
- Một số bài báo chuyên khảo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
như: “Một vài suy nghĩ về hoạt động chất vấn của Quốc hội” của tác giả
Tuyết Mai; “Hoạt động chất vấn - nhìn từ thực tế một kỳ họp Quốc hội” của
tác giả Nguyên Thành; “Hoạt động chất vấn của ĐBQH- một số vấn đề cần
quan tâm” của tác giả Trần Hoàng Minh…
Với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình nêu trên
đều đề cập đến Quốc hội, chất vấn của ĐBQH. Tuy nhiên, các công trình này
chỉ nói rất ít đến chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH mà chưa coi hoạt
động này như là một vấn đề nghiên cứu độc lập. Do đó, chất vấn của ĐBQH
chưa được nghiên cứu một cách toàn diện để phục vụ hoạt động của ĐBQH,
của Quốc hội được tốt hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
và pháp lý, đặc biệt là thực tiễn chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH theo
pháp luật hiện hành. Ngoài ra, luận văn có đề cập đến pháp luật và thực tiễn
hoạt động chất vấn ở một số nước nhằm tìm kiếm những yếu tố hợp lý góp
phần hoàn thiện hoạt động chất vấn của ĐBQH nước ta.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước, pháp luật.

như: nguồn gốc, bản chất, vai trò của chất vấn và trả lời chất vấn trong việc
thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội.
Hai là: khái quát quá trình hình thành và việc áp dụng các quy định của
pháp luật về chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH. Từ đó rút ra những ưu
điểm, hạn chế của hoạt động này trong thực tiễn.


5

Ba là: đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện chất vấn và trả lời
chất vấn của ĐBQH.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Lần đầu tiên luận văn xây dựng cơ sở lý luận về chất vấn và trả lời chất
vấn của ĐBQH tương đối hệ thống, làm rõ bản chất, vai trò của chất vấn
trong mối quan hệ với việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội.
Luận văn đã tập trung đánh giá thực trạng chất vấn và trả lời chất vấn của
ĐBQH hiện nay và đề xuất phương hướng, giải pháp khả thi, nâng cao chất
lượng chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, thì phần nội dung gồm hai chương.


6

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

1.1. Chất vấn – quyền cơ bản của ĐBQH
1.1.1. Khái niệm chất vấn và bản chất của quyền chất vấn của ĐBQH


ở việc tước đoạt hoặc hạn chế những quyền, lợi ích) của chủ thể vi phạm pháp
luật hoặc có liên quan đến việc gây ra hậu quả xấu vì những nguyên nhân
được pháp luật quy định”[32]. Chúng ta không thể áp dụng điều luật về tội
thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng cho quyết sách liên
quan đến một ngành nhất định, vì hậu quả thì có, nhưng sự thiếu tinh thần
trách nhiệm, vi phạm pháp luật thì không. “Những quyết sách rất có tinh thần
trách nhiệm thì vẫn có thể thiếu một tầm nhìn. Mà thiếu tầm nhìn, thì người ta
chỉ có thể chịu trách nhiệm về chính trị.
Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm về chính sách, không phải trách
nhiệm về hành vi. Hoạt động chất vấn vì vậy sẽ lạc đề nếu tập trung vào các
vụ việc cụ thể mà không làm rõ được các vấn đề ở tầm chính sách. Ngoài ra,
một chính sách được cải thiện, lợi ích sẽ đến với hàng triệu người. Một vụ
việc được giải quyết, lợi ích có thể chỉ đến được với một hoặc một vài người.
Giải quyết được công việc cho một người cũng tốt, thế nhưng công việc của
muôn người thì sao? Nếu chất vấn vào các vụ việc cụ thể, Quốc hội sẽ không
bao giờ có đủ thời gian để xem xét những vấn đề to lớn của đất nước”[48].
Mục đích của chất vấn là nhằm kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý,
điều hành của những người được chất vấn. Qua hoạt động này, Quốc hội thấy
được năng lực của những người được Quốc hội bầu một cách thực chất nhất.
Hoạt động này cũng phản ánh tiếng nói, sự cảnh báo về một vấn đề hoặc một
tình trạng cần giải quyết, tạo sức ép để Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát hoạt
động đúng đắn hơn. Mặt khác, chất vấn còn tạo cho Quốc hội cơ hội tiếp cận
được các thông tin từ thực tiễn cuộc sống để từ đó quay lại hoàn thiện hoạt
động của chính mình.
Với khái niệm và mục đích như vậy, để ĐBQH không bị nhầm lẫn chất
vấn với các hoạt động khác, người bị chất vấn không ngụy biện trong trả lời
chất vấn thì phải có các tiêu chí để xác định một chất vấn và câu trả lời chất
vấn đạt yêu cầu. Từ trước đến nay, lý luận cũng như pháp luật thực định chưa
đưa ra tiêu chí chuẩn cho câu chất vấn và trả lời chất vấn. Xuất phát từ bản

Về sâu xa, quyền chất vấn của ĐBQH bắt nguồn từ bản chất quyền lực
của Quốc hội. Từ xưa đến nay, quyền lực và tổ chức quyền lực luôn luôn là
vấn đề phức tạp. Trong thời kỳ phong kiến, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc


10

về vua. Các cuộc cách mạng tư sản đã lật đổ chế độ phong kiến, xác lập chính
thể dân chủ. Tuy nhiên, thời kỳ đầu (thế kỷ XIII), Nghị viện ở Anh, Pháp chỉ
là cơ quan tư vấn cho nhà vua trước khi vua ra các quyết định quan trọng, chủ
yếu là vấn đề tài chính, thuế để phục vụ cho các cuộc chiến tranh. Do sự phát
triển của xã hội, nghị viện ngày càng có địa vị pháp lý cao hơn và càng trở
nên độc lập với nhà vua. Đến thế kỷ XV-XVI, Nghị viện Anh có toàn quyền
lập pháp. Đó là giai đoạn mà “Nghị viện có quyền được làm tất cả, chỉ trừ
việc biến đàn ông thành đàn bà”. Trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa nghị
viện và nhà vua đã xảy ra biết bao cuộc nội chiến, cách mạng. Có khi nghị
viện bị giải tán hoặc tạm đình chỉ hoạt động, lãnh tụ nghị viện bị tống giam
(trường hợp vua Charles I giải tán Nghị viện Anh năm 1629 và tống giam Sir
John Eliot lãnh tụ Hạ nghị viện và nhiều nghị sĩ khác). Dưới thời vua Lui
XIV, một ông vua tiêu biểu cho tư tưởng thần quyền ở Pháp với câu nói nổi
tiếng “quốc gia là Trẫm” thì suốt 72 năm cai trị của ông ta (1643-1715), Nghị
viện không hội họp gì cả. Khi nghị viện thắng thế, Nghị viện đã lập tòa án đặc
biệt để xét xử nhà vua (vua Charles I bị tử hình ở Anh năm 1649).
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình tổ chức quyền lực thời kỳ phong
kiến, các nhà tư tưởng thời kỳ khai sáng (thế kỷ XVIII) đã xây dựng học
thuyết phân chia quyền lực với những thiết chế mới thay cho chế độ cũ- đó là
chính thể dân chủ.
Montesquieu trong Bàn về tinh thần pháp luật có viết: “Chính thể dân
chủ là chính thể mà dân chúng hay một bộ phận dân chúng có quyền lực tối
cao”[46, tr. 46]. “Trong chính thể dân chủ, theo một cách nhìn nào đó, có thể

cử bầu ra Quốc hội (Nghị viện) - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Ví
dụ: theo Hiến pháp năm 1987 của Cộng hoà Phi-lip-pin, Thượng nghị viện
gồm 24 vị Thượng nghị sĩ được các cử tri có đủ điều kiện trên cả nước bầu ra;
trong khi các hạ nghị sĩ lại được bầu ra ở các khu vực bầu cử. Điều 147 của
Hiến pháp năm 1997 của Thái Lan quy định: “Các thành viên của Hạ nghị
viện và Thượng nghị viện là đại diện của người Thái, và thực hiện một cách
trung thực các bổn phận vì lợi ích chung của người Thái”[45].


12

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn quan tâm đến việc
làm như thế nào để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Tổng kết phong trào
Công xã Pari, trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, Mác cho rằng: “Công xã
không phải là cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành động, vừa hành
chính, vừa lập pháp”. Lê nin trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” đã cho
rằng: “…phương pháp thoát khỏi chế độ đại nghị không phải là phá hủy
những cơ quan đại diện và nguyên tắc tuyển cử, mà là biến những cơ quan đại
diện ấy từ chỗ là những cái máy nói thành những “cơ quan hành động”…
Chúng ta không thể quan niệm một nền dân chủ, dẫu là một nền dân chủ vô
sản, mà lại không có cơ quan đại diện”[40].
Trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, Người khẳng định quyền lực thuộc
về nhân dân. Điều này thể hiện khá rõ trong tác phẩm “Đường cách mệnh”
xuất bản năm 1927. Nghiên cứu cách mạng tư sản ở Mỹ, Hồ Chí Minh rút ra
kết luận rằng: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi,
nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì giao quyền cho dân chúng số nhiều, chớ để
trong tay một bọn ít người”[29, tr. 270]. Nghiên cứu cách mạng Pháp, người
khẳng định: “dân chúng công nông là gốc cách mệnh”[29, tr. 274]. Nghiên
cứu Cách mạng tháng Mười Nga, Người rút ra kết luận có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng và trở thành phương châm chỉ đạo trong suốt cuộc đời hoạt động

các công việc đối nội, đối ngoại của đất nước. Chính phủ hợp pháp chỉ có thể
được thành lập từ Quốc hội. Quốc hội ra đời là để có một cơ quan đại diện
cho nhân dân, thay mặt và thực thi quyền lực của nhân dân trong việc quản lý
nhà nước và giám sát các cơ quan do Quốc hội bầu ra. Ngay từ những ngày
đầu tiên của Quốc hội Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các đại biểu
trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu
cho toàn thể dân Việt Nam. Đó là sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn
dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”[31]. Điều này cũng được ghi nhận
trang trọng trong bốn bản Hiến pháp và các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội.
Điều 1 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân
chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt
Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.


14

Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam
bầu ra” (Điều 24) nên “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (Điều 22).
“Quốc hội họp đặt nền móng cho chủ quyền dân tộc. Vận mệnh nước
Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam định đoạt thông qua đại biểu của
chính mình. Quốc hội họp biểu thị sự đoàn kết của toàn dân: dù trong hoàn
cảnh nào, nhân dân Việt Nam cũng quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập mới
giành được. Đại biểu khắp đất nước mang về Thủ đô ý chí bốn phương kết
thành một khối,…”[19, tr. 67]. Khoá họp thứ nhất của Quốc hội nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà cũng khẳng định: “chủ quyền của nước Việt Nam độc
lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam. Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở
trong tay Quốc hội Việt Nam”[19, tr. 76].
Hiến pháp 1959, Điều 4 ghi nhận: “Tất cả quyền lực trong nước Việt

cũng có quyền chất vấn Chính phủ. Tuy nhiên, do còn đại diện cho Đảng mà
mình là thành viên, nên họ trung thành với Đảng hơn là với nhân dân và hoạt
động chất vấn thường chỉ diễn ra do nghị viên thuộc phe đối lập thực hiện.
“Ngoài chức năng lập pháp, Quốc hội/Nghị viện phải thực hiện việc giám sát
đối với các cơ quan nhà nước để đảm bảo tính hợp pháp của chính quyền.
Đây là chức năng phổ biến của Quốc hội các nước trên thế giới. Quốc hội các
nước có quyền giám sát các hoạt động của cơ quan hành pháp, trong một số
trường hợp là người đứng đầu nhà nước, cơ quan tư pháp, cơ quan tự quản địa
phương, và một số cơ quan nhà nước khác. Nhìn chung, Quốc hội giám sát
các cơ quan nhà nước bằng các hình thức sau: Nghe báo cáo của Chính phủ
và các thành viên của Chính phủ; chất vấn của các ĐBQH, những câu hỏi
miệng hoặc bằng văn bản của các ĐBQH;…”[16]. Có thể nói, chức năng
giám sát của Quốc hội là đương nhiên, vì “nếu Quốc hội từ bỏ trách nhiệm
giám sát thì có thể dẫn đến hai kết quả. Các cơ quan, các bộ, có thể cứ làm tới
mà không bị giám sát; hoặc ai đó có thể nắm dây cương Quốc hội đã thả lỏng.
Điều thứ hai đã xảy ra, nghĩa là nhân viên Tổng thống đã ngồi vào tay
lái”[17]. Trên lý thuyết là như vậy nhưng “trong hai thập kỷ vừa qua, Nghị
viện đã tụt lại phía sau rất xa so với những thay đổi của Hiến pháp, Chính phủ
và xã hội. Cho dù đã có những sự cách tân trong thời gian gần đây, đặc biệt là


16

trong hoạt động lập pháp, thì vấn đề trọng tâm là hoạt động giám sát của nghị
viện đối với cơ quan hành pháp vẫn chưa được đề cập [18, tr. 121].
Trên thế giới, theo nghiên cứu của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU)
tại 82 nước thì Quốc hội các nước giám sát bằng các công cụ rất đa dạng như:
điều trần tại Ủy ban; điều trần tại phiên họp toàn thể; thành lập Ủy ban điều
tra; đặt câu hỏi; thời gian hỏi đáp; chất vấn; Thanh tra Quốc hội [18, tr. 26].
Trong đó, mức độ phổ biến của các công cụ giám sát của nghị viện theo mô


điều tra

Chất vấn

Thanh tra
Quốc hội

thể

Đại

%

Số %

Số %

Số

%

Số %

Số %

Số %

Số


19 72,2

18 77,8

18

93,3

15 81,3

16 86,7

15

100

17 86,7

15 75

16 52,9

17

nghị
Tổng
thống
Bán
tổng
thống

hơn. Ở Anh, hoạt động giám sát bằng điều trần tại Uỷ ban rất có hiệu quả
trong việc tìm kiếm thông tin hoặc các lời giải thích từ Chính phủ. Tuy nhiên,
mặc dù đang có nhiều thay đổi với một số ưu thế cho nghị viện trong thời
gian gần đây, hoạt động xem xét, giám sát cơ quan hành pháp của nghị viện
vẫn còn bị hạn chế bởi các quy định của Hiến pháp, của hệ thống chính phủ
đơn đảng đa số và yêu cầu kỷ luật đảng cao, mà theo đó, nếu không có những
thay đổi cơ bản thì cơ quan hành pháp vẫn tiếp tục chiếm ưu thế nổi trội [18,
tr. 129-139].
1.1.2. Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH và vai trò của nó
trong việc thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH


18

Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường đại học Luật
Hà Nội thì “chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những đặc điểm
chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng”[39].
Theo đó, chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH là hệ thống các
quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của
ĐBQH.
Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định có đặc điểm
riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, chúng
không tồn tại biệt lập. Việc xác định ranh giới giữa chúng nhằm tạo ra khả
năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn.
Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH phải thể hiện đầy đủ
các vấn đề như: khái niệm chất vấn; quyền chất vấn của ĐBQH; nghĩa vụ trả
lời chất vấn của người bị chất vấn; phạm vi, nội dung các chất vấn; trình tự,
thủ tục thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH; cơ chế giám sát hậu chất vấn
của ĐBQH và chế tài đối với đối tượng không thực hiện nghiêm việc trả lời
chất vấn. Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH nằm trong chế

chất vấn và yêu cầu các đối tượng bị chất vấn trả lời. Dựa trên cơ sở pháp lý
này, ĐBQH có thể yêu cầu các tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin
có liên quan đáp ứng cho hoạt động chất vấn của mình. Mặt khác, nó còn là
cơ sở để ĐBQH căn cứ vào đó đánh giá hoạt động của người được chất vấn
và của cơ quan họ. Chế định pháp lý về quyền chất vấn của ĐBQH là cơ sở để
ĐBQH đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn hoặc thông qua
đó yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người được chất vấn. Không chỉ
một chiều, chế định pháp lý về quyền chất vấn của ĐBQH còn cho người trả
lời chất vấn nhận thức được quyền hạn, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực này
để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình được tốt hơn.
Với tầm quan trọng như vậy, thì chế định về quyền chất vấn của ĐBQH
phải được quy định rõ ràng, mạch lạc để mọi quy định chỉ được hiểu một
nghĩa. Hơn nữa, nó phải là những quy định đủ mạnh để ĐBQH có thể thực
hiện được quyền chất vấn của mình như một công cụ giám sát đắc lực và có
hiệu quả.


20

1.2. Vai trò của chất vấn và các bảo đảm thực hiện quyền chất vấn của
ĐBQH
1.2.1. Vai trò của chất vấn của ĐBQH
“Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái
gì đó”[33, tr. 1470].
Theo đó, nói về vai trò của chất vấn của ĐBQH là nói đến tác dụng của
chất vấn đối với hoạt động của ĐBQH nói riêng và hoạt động của Quốc hội
nói chung; ngoài ra, nó còn có tác dụng đối với hoạt động của các cá nhân
người bị chất vấn và cơ quan của họ. Qua đó, nó thúc đẩy việc hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Chất vấn của ĐBQH là hình thức giám sát mang tính quyền lực nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status