BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÝ THỊ ĐỨC HẠNH
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình do chính tôi tự nghiên
cứu và viết, không sao chép của ai. Các số liệu đã nêu trong luận văn có nguồn
gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lý Thị Đức Hạnh
Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG
7
GIÁM SÁT CỦA ĐBQH
1.1. Khái niệm ĐBQH và hoạt động giám sát của ĐBQH
1.1.1. Khái niệm ĐBQH
1.1.2. Khái niệm hoạt động giám sát của ĐBQH
1.2. Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trƣớc và sau
7
7
10
12
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐBQH
35
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG
GIÁM SÁT CỦA ĐBQH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng hoạt động giám sát của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Hoạt động chất vấn
35
35
2.1.2. Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi 42
hành pháp luật ở địa phương
2.1.3. Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
48
2.1.4. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền của ĐBQH trong việc xem xét kết 52
quả sau giám sát
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH
54
2.2.1. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của ĐBQH
54
2.2.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của 65
ĐBQH
động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng của hoạt
động này thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan là yêu cầu
tất yếu khách quan.
2
Năng lực và trách nhiệm của người đại biểu có ảnh hưởng trực tiếp tới
hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung. Do đó, hoạt động giám sát của
ĐBQH có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ đến chất lượng, hiệu quả hoạt
động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ĐBQH. Hoạt
động giám sát của ĐBQH có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng về mặt lý luận,
những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới các chức
năng của Quốc hội, trong đó có chức năng giám sát, song chủ yếu nhất vẫn là
vấn đề giám sát tối cao. Về hoạt động của ĐBQH, liên quan trực tiếp tới hoạt
động giám sát cũng đã có một số công trình đề cập tới hoạt động chất vấn. Tuy
nhiên, có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể về hoạt động giám sát của ĐBQH.
Bên cạnh đó, thực tiễn qua các khóa Quốc hội những năm gần đây, hoạt động
giám sát của ĐBQH ngày càng được chú trọng và đã có nhiều tiến bộ, nhưng
cũng còn nhiều hạn chế, hiệu quả hoạt động chưa cao; giám sát còn mang tính
hình thức, chất lượng ĐBQH chưa đáp ứng nhu cầu công việc ngày càng cao.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Hoạt động giám sát của ĐBQH ở
Việt Nam hiện nay” là cần thiết, góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ sở lý luận,
cơ sở pháp lý về hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
của Quốc hội, tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật và phát huy quyền làm
chủ của công dân.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan tới đề tài luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu
khoa học tiêu biểu như sau:
Sách chuyên khảo:
của tác giả Vũ Minh Phương đã tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận,
pháp lý, đồng thời phân tích, đánh giá thực tiễn về vấn đề này để đề xuất các
quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hoạt động chất vấn của ĐBQH;
- “Đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội” của tác
giả Đỗ Ngọc Tú. Cũng đề cập tới hoạt động chất vấn, nhưng khác với tác giả Vũ
4
Minh Phương, tác giả của luận văn này đi vào nghiên cứu chuyên sâu về từng
hình thức giám sát của Quốc hội, cụ thể là hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn.
Mục đích của luận văn là mong muốn đóng góp tiếng nói, nhằm kiến nghị với cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc nghiên cứu, đề xuất tiếp tục hoàn thiện
cơ sở pháp lý, làm tiền đề cho việc đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất
vấn của Quốc hội trong thời gian tới.
Một số bài viết đăng trên báo và tạp chí chuyên ngành như:
- “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc
hội” của GS.TS. Trần Ngọc Đường, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 (tháng
4/2009). Trước yêu cầu quan trọng của việc thực thi đầy đủ, đúng đắn nhiệm vụ
và quyền hạn của Quốc hội trong việc thực hiện chức giám sát tối cao toàn bộ
hoạt động của bộ máy Nhà nước, bài viết trên tập trung vào hai vấn đề chính, đó
là đề ra các phương hướng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát
của Quốc hội nói chung, đồng thời đóng góp các giải pháp cần thiết nhằm đổi
mới hoạt động này;
- “Thực hiện pháp luật về giám sát của Quốc hội, thực trạng và vấn đề đặt
ra” của tác giả Phan Thị Hồng Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2+3 (tháng
1/2009). Ở mức độ cụ thể hơn, tác giả bài viết đề cập đến vấn đề thực hiện pháp
luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Nội dung bài viết là chỉ ra một số thực
trạng triển khai các hình thức và phương pháp giám sát của Quốc hội, tìm ra
nguyên nhân của những hạn chế đó và đưa ra các giải pháp từ thực trạng của
Lần đầu tiên luận văn xây dựng cơ sở lý luận, những vấn đề chung về hoạt
động giám sát của ĐBQH tương đối hệ thống. Luận văn đã tập trung đánh giá
thực trạng hoạt động giám sát của ĐBQH hiện nay và đề xuất phương hướng,
giải pháp hoàn thiện hoạt động này, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động của ĐBQH, phát huy tính dân chủ và đại diện cho
nhân dân của Quốc hội.
6
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm hai chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của
ĐBQH.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của ĐBQH và một số giải
pháp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của ĐBQH.
7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG
GIÁM SÁT CỦA ĐBQH
1.1.
Khái niệm ĐBQH và hoạt động giám sát của ĐBQH
1.1.1. Khái niệm ĐBQH
Quốc hội (Nghị viện) và các thành viên của nó ra đời trong thời kỳ cách
mạng tư sản ở châu Âu mà cụ thể là tại nước Anh. Sự tha hóa của triều đình
được pháp luật quy định cụ thể tại điều Điều 43 Luật tổ chức Quốc hội năm
2001, đó là: “ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho
nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
trong Quốc hội”.
Với khái niệm trên, ĐBQH là người được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc
phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Khác với Nghị sỹ Quốc hội các
nước tư sản, các ĐBQH nước ta phải gắn liền với cử tri và đơn vị bầu cử đã bầu
ra họ. Qua bầu cử, nhân dân ủy nhiệm quyền lực của mình, để ĐBQH thay mặt
nhân dân quyết định các công việc quan trọng của đất nước. Là thành viên của
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập
pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, ĐBQH có những thẩm quyền đặc
biệt mà các cá nhân khác trong bộ máy nhà nước không có được. Đó là các
quyền gắn liền với quyền lực của Quốc hội và các quyền miễn trừ do pháp luật
quy định.
ĐBQH là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà
nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra. Đó là những đại biểu
chính thức của nhân dân. Các ĐBQH nước ta theo tinh thần của Lênin là những
người: “Tự mình công tác, tự mình áp dụng những luật pháp của mình, tự mình
kiểm tra lấy những tác dụng của luật pháp ấy, tự mình chịu trách nhiệm trước cử
tri của mình”[14].
9
ĐBQH có địa vị pháp lý đặc biệt được quy định trong Hiến pháp năm
1992, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của ĐBQH, bao gồm chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động của ĐBQH. Đó là người đại
diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước
- Là người thay mặt nhân dân thực hiện thẩm quyền của Quốc hội, ĐBQH
là một thành viên trong bộ máy nhà nước.
1.1.2. Khái niệm hoạt động giám sát của ĐBQH
Trong Từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét
làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm
tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”[23]. Giám sát khác với
kiểm tra ở chỗ: giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài, còn kiểm tra có thể là
hoạt động thường xuyên từ bên trong của tổ chức. Điều 2 Luật Hoạt động giám
sát của Quốc hội năm 2003 đã giải thích về hoạt động giám sát rất rõ như sau:
“Giám sát là việc Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội,
Đoàn ĐBQH và ĐBQH theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH”. Như vậy, hoạt động giám
sát lúc nào cũng cần đến hai giai đoạn, giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và
giai đoạn đánh giá. Giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra là cơ sở thực hiện của
giai đoạn đánh giá; theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá sẽ đúng
đắn và chính xác, cuộc giám sát sẽ có kết quả tích cực và ngược lại.
Hoạt động giám sát của ĐBQH là hoạt động thực hiện một trong ba chức
năng quan trọng của Quốc hội đó là chức năng giám sát tối cao toàn bộ hoạt
động của bộ máy nhà nước. Với vai trò là thành viên của Quốc hội, ĐBQH giám
sát thông qua các hoạt động sau đây:
- Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng
VKSNDTC;
11
- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở
địa phương;
1.2.
Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trƣớc và sau
khi có Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
1.2.1. Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH trước khi có Luật
hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
Trước khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 được ban
hành, những quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH chủ yếu được
thể hiện qua các bản Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội tại thời điểm đó.
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, mặc dù trong Hiến pháp chưa có quy định nào trực tiếp đề cập tới
hoạt động giám sát của ĐBQH, song các quy định gián tiếp đều cho thấy Nghị
viện cũng có quyền giám sát và phê bình Chính phủ, chẳng hạn: “ Khi Nghị viện
không họp, Ban thường vụ có quyền… triệu tập Nghị viện; kiểm soát và phê bình
Chính phủ” (Điều thứ 36); “Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì
phải từ chức” (Điều thứ 54). Hoạt động giám sát chính của ĐBQH là chất vấn tại
kỳ họp: “Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều
chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ” (Điều thứ 55). Quy định này
cho thấy chủ thể của hoạt động chất vấn là tập thể Nghị viện và Ban thường vụ
chứ không phải là cá nhân các nghị viên. Do đó, nghị viên hay nói cách khác là
các ĐBQH theo Hiến pháp năm 1946 chưa được coi là chủ thể độc lập của hoạt
động giám sát mà phải thực hiện hoạt động của mình thông qua tập thể Nghị
viện và Ban thường vụ. Có thể nói, đây là những quy định đầu tiên về hoạt động
giám sát của ĐBQH. Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, toàn dân tộc tập trung
vào việc giữ nước nên những quy định về giám sát chỉ được quy định khái quát.
Hiến pháp năm 1959 quy định cụ thể hơn về hoạt động giám sát của Quốc
hội và ĐBQH. Theo đó, Quốc hội có quyền “giám sát việc thi hành Hiến pháp”
14
thực hiện hoạt động giám sát đó là: “ĐBQH phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, trả
lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem xét và giúp giải quyết những điều
khiếu nại và tố cáo của nhân dân. ĐBQH tuyên truyền, phổ biến pháp luật và
chính sách của Nhà nước, động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước”
(Điều 94). Thông qua mối liên hệ với cử tri, ĐBQH giám sát tình hình thi hành
pháp luật tại địa phương: “ĐBQH có quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước
về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và những vấn đề thuộc lợi
ích chung. Các cơ quan Nhà nước và những người có trách nhiệm phải nghiên
cứu và trả lời những kiến nghị đó của đại biểu” (Điều 63 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 1981). Thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của
mình và của Quốc hội, ĐBQH phải trả lời những kiến nghị của cử tri, giám sát
tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, có trách nhiệm gửi những
yêu cầu, khiếu nại đó đến các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải
quyết: “ĐBQH nhận được những điều khiếu nại và tố cáo của nhân dân, có
trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan Nhà nước hữu quan, theo dõi
việc giải quyết và báo cho đương sự biết kết quả” (Điều 62 Luật Tổ chức Quốc
hội năm 1981).
Bên cạnh đó, hình thức giám sát bằng hoạt động chất vấn của ĐBQH
cũng được mở rộng hơn, Điều 95 Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “ĐBQH có
quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng,
Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC”. Đây là một điểm mới so với
Hiến pháp năm 1959, quyền chất vấn của ĐBQH được kế thừa và hoàn thiện
hơn; đối tượng chất vấn được mở rộng hơn, ĐBQH không chỉ có quyền chất vấn
Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng mà còn chất vấn
Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC - những chức danh do Quốc hội
bầu. Hoạt động chất vấn của ĐBQH sẽ là tiền đề cho việc xác định trách nhiệm
quyết. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang nhân dân hoặc của công dân, ĐBQH có quyền yêu cầu cá nhân, cơ
16
quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời
chấm dứt hành vi trái pháp luật đó. (Điều 52, Điều 53 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2001)
Ngoài các văn bản nói trên, Quốc hội còn ban hành các Nghị quyết quy
định hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH; Nghị quyết về nội dung kỳ họp của
Quốc hội. Có thể nói, từ khi Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2001 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội nói chung, hoạt động giám sát
của ĐBQH nói riêng được nâng cao một cách rõ rệt. Đưa giám sát lên một tầm
cao mới, hoạt động giám sát của ĐBQH đã có những điểm tiến bộ đáng kể. Các
văn bản quy định về hoạt động giám sát được sửa đổi, bổ sung đảm bảo cho phù
hợp với việc nâng cao hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội và chất lượng hoạt
động của ĐBQH.
1.2.2. Quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH sau khi có Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
Trước yêu cầu bức thiết cần phải nâng cao chất lượng thực hiện chức năng
giám sát tối cao của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của ĐBQH và các
Đoàn ĐBQH, tháng 6 năm 2003 Quốc hội đã ban hành Luật hoạt động giám sát
của Quốc hội. Luật một mặt hệ thống hóa và hoàn thiện các quy định của pháp
luật về nhiệm vụ, quyền hạn giám sát của Quốc hội. Đồng thời cũng xác định
quyền và trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự
giám sát và các biện pháp bảo đảm cho hiệu quả của hoạt động giám sát.
Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành cũng đã quy định một số điều về công
tác giám sát và những chế tài kèm theo nhưng chưa thật thỏa đáng, chưa cụ thể,
làm cơ sở cho ĐBQH thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình khi
tham gia giám sát.
Khi chưa có Luật Hoạt động giám sát thì cũng chưa có những quy định cụ
thể tạo cơ sở thực hiện tốt hoạt động này, do vậy đã ảnh hưởng tới chất lượng và
kết quả của hoạt động giám sát. Ngay cả đối với hình thức giám sát thông qua
18
hoạt động chất vấn của ĐBQH, khi trả lời chất vấn trước Quốc hội, nhiều vị Bộ
trưởng đã không trả lời thẳng vào vấn đề và nếu có hứa hẹn thì việc thực hiện
cũng chưa nghiêm túc. Do đó, để giám sát có hiệu quả hơn, Luật hoạt động giám
sát năm 2003 đã có những quy định cụ thể về quy trình chất vấn và trả lời chất
vấn tại kỳ họp của Quốc hội cũng như tại phiên họp của UBTVQH, về trách
nhiệm của người trả lời chất vấn. Trong buổi chất vấn, các đại biểu có thể biết
được thành viên của Chính phủ có nắm và giải quyết được vấn đề hay không. Từ
đó, có những kiến nghị với thành viên đó của Chính phủ. Nếu thấy cần thiết,
ĐBQH có thể bỏ phiếu tín nhiệm làm căn cứ để xem xét việc cách chức, miễn
nhiệm hoặc cho thôi làm nhiệm vụ đối với những người giữ các chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn - đây là quy định hoàn toàn mới của Luật hoạt
động giám sát năm 2003 (Điều 13).
Trước khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 được ban
hành, các ĐBQH gặp nhiều lúng túng khi thực hiện việc giám sát văn bản, giám
sát tình hình thi hành pháp luật tại địa phương và giải quyết khiếu nại tố cáo của
công dân. Nhưng từ khi thông qua, Luật đã tạo được hành lang pháp lý cho các
đại biểu hoạt động. Trong quá trình giám sát, ĐBQH có nhiều quyền hạn để thực
hiện tốt hơn hoạt động của mình. Ví dụ như: khi tiến hành giám sát tại địa
phương, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thì
“ĐBQH trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan,
thập thông tin hay số liệu, mà nhằm làm rõ trách nhiệm của cá nhân có trách
nhiệm đối với một số vấn đề nào đó. Đây chính là điểm cơ bản để phân biệt chất
vấn với câu hỏi thường. Trên thực tế, chất vấn cũng có thể được thể hiện dưới
dạng câu hỏi nhưng mục đích của chất vấn và câu hỏi thường khác nhau. Việc
hỏi và yêu cầu trả lời những vấn đề mà ĐBQH quan tâm (hay còn gọi là câu hỏi
thường) nhằm thu thập thông tin, số liệu về các vấn đề nào cần biết, trước khi đặt
câu hỏi người hỏi hầu như chưa có thông tin về vấn đề mà mình hỏi. Loại câu
hỏi thường phụ thuộc vào nhu cầu nắm bắt thông tin của ĐBQH chứ không được
quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào và cũng không bị hạn chế đối với
bất kỳ đối tượng nào. Còn đối với chất vấn, trước khi nêu vấn đề, ĐBQH phải
tìm hiểu rất kỹ và nắm thông tin về vấn đề mà mình cần chất vấn để làm rõ trách