Hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay (Luận án tiến sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

HO¹T §éNG CñA §¹I BIÓU QUèC HéI
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

HO¹T §éNG CñA §¹I BIÓU QUèC HéI
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 9.38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ

HÀ NỘI - 2019


CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ........................................69
3.1. Khái quát thực trạng cơ cấu, chất lượng đại biểu Quốc hội và quy định
pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ...................69
3.2. Thực trạng hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ..............78
3.3. Thực trạng các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở
Việt Nam hiện nay ..............................................................................................102
3.4. Về phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ........106
Kết luận Chương 3 ..............................................................................................111
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ..........................................112
4.1. Quan điểm bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay....112
4.2. Giải pháp bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ......120
Kết luận Chương 4 ..............................................................................................147


KẾT LUẬN ............................................................................................................148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................152
PHỤ LỤC ...............................................................................................................163


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHLB:

Cộng hòa Liên bang

CHND:


QH:

Quốc hội

QPPL:

Quy phạm pháp luật

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TCQH:

Tổ chức Quốc hội

UBTVQH:

Ủy ban thường vụ Quốc hội

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân
VNCLP:

Viện Nghiên cứu lập pháp

VPQH:


92

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

94

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

94

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

95

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

95

Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt
động giám sát trên tổng số các phiên họp từ kỳ 1 đến kỳ 6
Quốc hội khóa XIII

95

Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt

định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của
Nhà nước. Để QH thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì yêu
cầu tất yếu đặt ra là các cơ quan của QH và nhất là ĐBQH phải hoạt động tốt, phát
huy được đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình.
Việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của QH và bảo đảm cho hoạt
động của ĐBQH nói riêng luôn được Đảng ta coi trọng. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX yêu cầu “nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, hoàn thiện
những quy định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội
trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ. Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách”
đồng thời phải “hoàn thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
chuyên trách”. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản
Việt Nam nêu: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội… hoàn thiện cơ
chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại
biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đại biểu Quốc hội”. Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu: “đổi mới tổ chức và hoạt
động của Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nhân dân. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số
lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt
chẽ và có trách nhiệm với cử tri” là một nhiệm vụ hàng đầu của việc phát huy dân
chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt
động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của
Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”; “Hoàn thiện thể chế để nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt động lập pháp của
1


Quốc hội, đại biểu Quốc hội…”. Những quan điểm nêu trên là những tư tưởng chỉ
đạo quan trọng có tính chất định hướng trong quá trình đổi mới, nâng cao chất
lượng, năng lực hoạt động của ĐBQH và QH nói chung.

của ĐBQH so với yêu cầu thực tiễn vẫn còn có khoảng cách nhất định.

2


Từ những lý do trên, NCS chọn chủ đề “Hoạt động của đại biểu Quốc hội ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ luật học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, kinh nghiệm của các nước
và thực tiễn hoạt động của ĐBQH Việt Nam, luận án có mục đích làm rõ khái niệm,
đặc điểm, vai trò, nội dung, yêu cầu hoạt động của ĐBQH; đánh giá những bất cập,
hạn chế trong hoạt động của ĐBQH, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp khoa
học, khả thi nhằm bảo đảm hơn nữa hoạt động của ĐBQH Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận án xác định rõ các nhiệm vụ nghiên
cứu chủ yếu sau:
- Thống kê, phân tích tình hình nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH của các
tác giả trong và nước ngoài chỉ ra các vấn đề xoay quanh ĐBQH để xác định các
nội dung đã thống nhất về hoạt động của ĐBQH.
- Xây dựng hệ thống kiến thức lý luận về ĐBQH và hoạt động của ĐBQH
Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu, nội dung hoạt động của ĐBQH,
những điều kiện bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH, nghiên cứu kinh nghiệm của các
nước về hoạt động của ĐBQH từ đó rút ra các giá trị cho Việt Nam.
- Nghiên cứu đánh giá khách quan, khoa học thực trạng quy định pháp luật
và thực trạng hoạt động của ĐBQH: ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân nhằm tạo cơ sở
thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm và đưa ra các giải pháp bảo đảm hoạt động của
ĐBQH trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi bảo đảm hoạt động của ĐBQH.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Rebekka Gohring (2003), Shapping The New Europe-Interest Representation in the
European Union, Doctor Thesis, Free University of Berlin, Berlin, tr.50; James
Madison với tác phẩm Người liên bang Nga A. Hamilton, J. Madison, J. Jay (2003),
The Federalist with the Letters of ‘Brutus’, Cambridge, tr.43-45);
+ Khảo cứu một số quan điểm nghiên cứu lý thuyết về tính đại diện của QH
(Hanna Pikin (1967), The Concept of Representation, Los Angeles University Press,
Los Angeles; v.v...)
Quá trình thực hiện Luận án dự kiến cũng sẽ nghiên cứu tham khảo những
kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động của ĐBQH ở QH các nước, rút ra những
liên hệ, bài học kinh nghiệm đặt trong thực tiễn của Việt Nam.
Tiếp cận hệ thống trong việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về
Quốc hội, hoạt động của ĐBQH, mối quan hệ giữa QH với cử tri thông qua hoạt động
của ĐBQH với cử tri; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của ĐBQH... vvv
Tiếp cận liên ngành để bảo đảm tính chính xác của các nhận định, đánh
giá về hoạt động của ĐBQH, luận án thực hiện tiếp cận liên ngành gồm: triết
học, luật học so sánh, xã hội học pháp luật, chính trị học ... kết hợp với nghiên
4


cứu lý luận, khảo sát và kết hợp giữa đánh giá định tính với định lượng. Với cách
tiếp cận liên ngành, từ đó có thể nhận định đúng đắn, khách quan toàn diện về
hoạt động của ĐBQH.
Thứ ba, NCS xác định nền tảng xuyên suốt trong quá trình thực hiện Luận án
là đề cao vị trí, vai trò, trách nhiệm hoạt động của ĐBQH trong hoạt động của QH,
phù hợp với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của QH nói chung.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ luận án,
nhằm đặt toàn bộ các nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các tư liệu, thông
tin liên quan trong quá trình hoạt động của ĐBQH trong một chỉnh thể thống nhất
(Chương 3, Chương 4).

Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoạt
động của ĐBQH Việt Nam đặc biệt sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành và có
hiệu lực. Qua kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới sau đây:
- Về lý luận, Luận án tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận
về hoạt động của ĐBQH như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu và nội dung
hoạt động của ĐBQH, các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH, giá trị kinh
nghiệm hoạt động của ĐBQH một số quốc gia và vận dụng phù hợp với điều kiện
hoạt động của ĐBQH Việt Nam đáp ứng yêu cầu về dân chủ và pháp quyền trong
kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Về thực tiễn, Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động của
ĐBQH trong các lĩnh vực hoạt động của QH về lập pháp, giám sát, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước; kết hợp với việc phân tích những ưu điểm, nhược điểm tồn
tại đã và đang xảy ra trong thực tiễn hoạt động của ĐBQH trong thời gian vừa qua. Việc
nghiên cứu, hoàn thiện hoạt động của ĐBQH dựa trên những cơ sở thực tiễn này.
- Luận án luận chứng những quan điểm và các nhóm giải pháp nhằm bảo đảm
hoạt động của ĐBQH, Những giải pháp được tiếp cận trên các khía cạnh cơ bản như:
(i) Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ĐBQH trên các lĩnh vực lập pháp,
giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, mối quan hệ với cử tri;
(ii) Xây dựng, ban hành văn bản về bộ quy tắc ứng xử của ĐBQH; phát huy
vai trò hạt nhân của ĐBQH trong hoạt động của QH; tăng cường tính chuyên môn,
chuyên trách của ĐBQH; v.v...
(iii) Hoàn thiện hoạt động của ĐBQH, tập trung vào việc hoàn thiện các quy
trình, thủ tục về trách nhiệm, sự tham gia của ĐBQH trong hoạt động của các cơ
quan của QH, hoạt động tại các Đoàn ĐBQH; hay khi tham gia vào các hình thức
làm việc khác của QH, các cơ quan của QH...
(iv) Đảm bảo tính đại diện khi làm nhiệm vụ đại biểu; phát huy trình độ, trí
tuệ, năng lực, kỹ năng hoạt động của ĐBQH; mối quan hệ giữa các ĐBQH, các cơ
quan của QH và các cơ quan hữu quan khác.
(v) Luận án cũng đề xuất cơ chế tăng cường sự giám sát của Nhân dân đối với hoạt
động của ĐBQH; cơ chế về vấn đề ĐBQH chịu trách nhiệm trước cử tri; v.v...

Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội
ở Việt Nam hiện nay.

7


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1. Những công trình nghiên cứu trong nước về tổ chức và hoạt động
của Quốc hội Việt Nam
Việc nghiên cứu nhằm kiện toàn, đổi mới về cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của QH là yêu cầu thực tế khách quan đặt ra. Trong thời
gian vừa qua, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về tổ
chức và hoạt động của QH, trong đó có đề cập ở những khía cạnh nhất định liên
quan đến hoạt động của ĐBQH.
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đã in thành sách.
+ Sách “Quốc hội Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn” [11]. Cuốn
sách đã tập hợp một số bài viết của nhiều tác giả đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp đề cập tới những vấn đề lý luận chung về QH và lịch sử Quốc hội, tổ chức
bộ máy và hoạt động của QH, trong đó một số nét về vị trí, vai trò ĐBQH; quy định
pháp luật về ĐBQH.
+ Sách “Một số vấn đề đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội” [102]. Trong
cuốn sách, tác giả dành hai chương (Chương III: ĐBQH và Đoàn ĐBQH; Chương V:
Một số kỹ năng cần thiết của ĐBQH trong hoạt động lập pháp) để trình bày về vị trí,
cơ sở pháp lý, xác định vai trò của ĐBQH; các quy định về ĐBQH; những vấn đề lý
luận, thực trạng và phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của ĐBQH chuyên trách và một số kiến nghị về chế độ, chính sách đối với ĐBQH.
Kỹ năng và vai trò của kỹ năng cá nhân của ĐBQH trong hoạt động lập pháp...

và thực tiễn về cơ chế giám sát quyền lực nhà nước và hoạt động giám sát của QH
Việt Nam, phân tích những ưu điểm, hạn chế, thuận lợi và thách thức đặt ra đối với
việc giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở đó kiến
nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế này. Trong đó, có đề cập đến hoạt
động giám sát của ĐBQH với các loại hình hoạt động cụ thể: chất vấn, kiến nghị
QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn. Các
tác giả cũng đã có những kiến nghị sơ bộ về việc đổi mới hình thức chất vấn của
ĐBQH; về nâng cao năng lực của ĐBQH
+ Sách: “Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải
pháp” [7]. Các tác giả có đề cập đến hoạt động giám sát của ĐBQH, chủ yếu dưới
hình thức hoạt động chất vấn, đồng thời, có nêu một số kiến nghị liên quan đến hoạt
động giám sát của ĐBQH.
+ Sách “Quốc hội Mỹ hoạt động như thế nào?”. Cuốn sách tìm hiểu hoạt
động của QH Mỹ, trong đó có đề cập ở một mức độ nhất định về hoạt động của cá
nhân nghị sỹ của QH Hoa Kỳ…
+ Sách “Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền Cộng hòa liên bang Đức” [87].
Cuốn sách đã khái quát về đất nước, con người, Nhà nước Cộng hòa LB Đức; giới
thiệu về tổ chức và hoạt động của QH liên bang, trong đó có đề cập một số nét về
hoạt động của nghị sĩ QH liên bang Đức; so sánh tổ chức hoạt động giữa QH Việt
Nam và CHLB Đức.

9


Thứ hai, những đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Quốc hội.
+ Đề tài “Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong thời
kỳ đổi mới đất nước” [76] (2002 – 2004), do VPQH thực hiện. Đây là đề tài nhánh
của đề tài cấp Nhà nước về “Luận cứ khoa học để xây dựng và hoàn thiện mô hình
tổ chức và hoạt động của Quốc hội”. Đề tài hướng tới nghiên cứu làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động của QH; những yếu

gian tới được thực hiện trên cơ sở nền tảng xác định ĐBQH là hạt nhân trong toàn
bộ hoạt động của QH, phù hợp với điều kiện cụ thể cũng như các nguyên tắc căn
bản trong hoạt động của QH ở nước ta hiện nay.

147


KẾT LUẬN
1. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động của
ĐBQH và quy định pháp luật về hoạt động của ĐBQH, Luận án đã làm rõ những
vấn đề lý luận về hoạt động của ĐBQH như: khái niệm ĐBQH; khái niệm hoạt
động của ĐBQH, khái niệm phương thức hoạt động của ĐBQH; đặc điểm hoạt
động của ĐBQH, nội dung, yêu cầu đối với hoạt động của ĐBQH, các điều kiện
bảo đảm hoạt động của ĐBQH. Trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, Luận án cũng khảo cứu, rút ra một số kinh nghiệm hoạt động của
ĐBQH ở một số nước trên thế giới và những khả năng có thể nghiên cứu, tham
khảo có chọn lọc phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
2. Bên cạnh việc Luận án đã tập trung làm rõ, xác lập, hệ thống những vấn đề
lý luận về hoạt động của ĐBQH, đồng thời Luận án cũng tập trung đánh giá tương
đối toàn diện về các mặt hoạt động của ĐBQH qua một số nhiệm kỳ QH gần đây
(đặc biệt là từ nhiệm kỳ QH khóa XIII, XIV).
Thực tiễn đã cho thấy hoạt động của QH được định tính, định lượng rất nhiều
bằng hiệu quả hoạt động của hai trụ cột chính trong tổ chức và hoạt động của QH là
các cơ quan của QH và ĐBQH. Trong đó, về bản chất, ĐBQH mới thực sự là trung
tâm trong hoạt động của QH (QH tổ chức và hoạt động hiệu lực, hiệu quả không thể
thiếu vắng ĐBQH; để thực hiện tốt các chức năng của mình, QH không thể thiếu
vắng vai trò ĐBQH đồng hành cùng với các cơ quan của QH; ....). Cho đến nay,
thực tế nhìn nhận chất lượng ĐBQH và hoạt động của ĐBQH đã nâng lên rõ rệt,
quy định pháp luật về ĐBQH có nhiều thay đổi phù hợp tạo điều kiện cho ĐBQH
hoạt động bao quát hầu hết trong mọi hoạt động trên các lĩnh vực giám sát, lập pháp

quan hệ giữa ĐBQH và cử tri có lúc, có nơi còn lơi lỏng làm ảnh hưởng đến quá trình
giám sát của Nhân dân đối với các đại diện cho mình, hơn nữa còn thiếu vắng cơ chế
giám sát của cử tri đối ĐBQH. Một thực tế chung là nước ta đang trong quá trình xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCN, đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các quan hệ KT-XH
được pháp luật điều chỉnh biến đổi thường xuyên, khó lường dẫn đến hệ thống
VBQPPL phải sửa đổi, bổ sung do chưa thể dự liệu trong quá trình xây dựng pháp
luật, trong đó có các quy định pháp luật về hoạt động của ĐBQH.
Bên cạnh đó, các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH dù được tăng
cường đáng kể (chính trị, kinh tế, pháp luật) nhưng vẫn còn những điều kiện đảm bảo
phải được quan tâm hơn nữa (thiếu cơ chế và hệ thống bộ máy giúp việc thật sự hữu
hiệu cho ĐBQH); cung cấp thông tin cho đại biểu mới chỉ dừng lại ở dạng “nguyên
liệu” hay đại biểu còn chưa có văn phòng làm việc riêng, nguồn tài chính hỗ trợ cá
nhân đại biểu sử dụng thuê khoán chuyên gia, nhà khoa học còn khiêm tốn; một bộ
phận đại biểu chưa thực sự chủ động tiếp cận và xử lý thông tin phục vụ cho hoạt
động đại biểu...Bên cạnh đó, phương thức hoạt động của ĐBQH được quy định khá
rõ, đại biểu thực hiện các phương thức hoạt động có nhiều chuyển biến tích cực
nhưng thực tế cho thấy không ít phiện họp có tỷ lệ “ghế trống” nhất định; việc tham
gia hoạt động của các cơ quan của QH mà đại biểu là thành viên đôi khi chưa thực sự
hài hòa, nhất là đại biểu chuyên trách nhưng vừa là lãnh đạo của các cơ quan, tổ chức
hữu quan; không ít quy định về nguyên tắc hoạt động của ĐBQH còn mang tính hình
thức; đại biểu tham gia hoạt động ở đoàn ĐBQH mà đại biểu là thành viên và cá nhân
đại biểu cũng còn những bật cập cần nghiên cứu điều chỉnh thấu đáo hơn.
149


3. Từ kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hoạt động của ĐBQH ở Việt
Nam hiện nay, Luận án đã nêu quan điểm và giải pháp khoa học, tiếp cận từ khía cạnh cơ
sở pháp lý và thực tiễn hoạt động của ĐBQH, nhằm bảo đảm hoạt động của ĐBQH thực
sự có những chuyển biến căn bản, ĐBQH phải xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri, là

hoạt động của ĐBQH, đổi mới tổ chức và hoạt động của QH tiếp tục đi vào chiều
sâu, phúc đáp những yêu cầu thực tiễn đặt ra, đặc biệt trong giai đoạn đẩy mạnh xây
dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân
dân và thực hiện dân chủ XHCN sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội./.

150


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.

Đinh Xuân Thảo, Nguyễn Thị Hoàn (2014), “Quốc hội trong Hiến pháp
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (sửa đổi)”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
(2 và 3) tháng 1, tr.19-24.

2.

Nguyễn Thị Hoàn (2015), “Vai trò và đặc điểm của đại biểu Quốc hội”, Tạp
chí Tổ chức Nhà nước, (2).

3.

Nguyễn Thị Hoàn (2016), “Một vài suy nghĩ về tiêu chuẩn đại biểu Quốc
hội”, Tạp chí Khoa học Nội vụ, (14), tr. 28-34.

4.

Nguyễn Thị Hoàn (2018), “Hoạt động của ĐBQH tại Hội đồng dân tộc và
các Ủy ban của Quốc hội”, Tạp chí Khoa học Nội vụ, (23), tr. 6-12.

Cộng hòa Pháp (1958), Hiến pháp.

4.

Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước
pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

5.

Nguyễn Sỹ Dũng (2003), “Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên
nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 3(26) tháng 3.

6.

Nguyễn Sỹ Dũng (2017), Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái
niệm, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7.

Nguyễn Sỹ Dũng và Vũ Công Giao (đồng chủ biên) (2015), Hoạt động giám sát
của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

8.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia.

9.

Bùi Xuân Đức (2008), “Nhận thức về chức năng đại diện và thực hiện chức


Trần Ngọc Đường (2009), “Một số suy nghĩ về nâng cao hiệu quả hoạt động
giám sát của Quốc hội”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 7(144), tr. 5-14.

15.

Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng
giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

16.

Trương Thị Hồng Hà (chủ biên) (2015), Hoạt động giám sát của Quốc hội
Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, Nxb Chính trị Quốc
gia-Sự thật, Hà Nội.

17.

Vũ Thị Thu Hằng (2017), Đổi mới hoạt động ban hành và giám sát thực hiện
nghị quyết của Quốc hội ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

18.

Hoàng Minh Hiếu (2014), Bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêu
cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay,
Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

19.

Nguyễn Thúy Hoa (2015), Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của nhân

Phạm Văn Hùng (2009), Quốc hội và những thiết chế trong Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động.

153


26.

Nguyễn Quang Hương (2006), Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại
diện của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện
Nhà nước và pháp luật, Viện Khoa học – xã hội Việt Nam.

27.

John Stuart Mill (2008), Chính thể đại diện (Representative Government, 1861),
do Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích, Nxb
Tri thức, Hà Nội 2012.

28.

Trần Thị Quốc Khánh (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và
hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đề tài khoa học
cấp Bộ.

29.

Vũ Đức Khiển (1999) “Đổi mới công tác xây dựng pháp luật”, Báo Nhân
dân, (16217), ngày 01/12.

30.


Phan Trung Lý (2009), “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu
Nhà nước pháp quyền XHCN”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2+3,
(139+140), tr.31-38.

36.

Phan Trung Lý (chủ nhiệm đề tài) (1996), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu Quốc hội và tăng cường đại
biểu Quốc hội chuyên trách, Văn phòng Quốc hội thực hiện.

154


37.

Phan Trung Lý (chủ nhiệm đề tài) (1996-1998), Đại biểu Quốc hội: Địa vị pháp
lý, các mối quan hệ và hiệu quả hoạt động, Văn phòng Quốc hội.

38.

Phan Trung Lý (chủ nhiệm đề tài) (2000-2002), Đại biểu Quốc hội và bầu cử
đại biểu Quốc hội, Văn phòng Quốc hội.

39.

Phan Trung Lý (chủ biên) (2010), Quốc hội Việt Nam: Tổ chức, hoạt động
và đổi mới, (sách chuyên khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

40.

Mark J. Green, James M.Fallows, David R.Zwick (2001), Ai chỉ huy Quốc
hội? (Anh Thư dịch), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

46.

Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

47.

Nguyễn Quang Minh (2012), Quy trình lập hiến trong nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội.

48.

Trần Hồng Nguyên (2007), Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học,
Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

49.

Vũ Văn Nhiêm (2009), Chế độ bầu cử ở nước ta: những vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

155



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status