Hoạt động của đại biểu Quốc Hội ở Việt Nam hiện nay (LA Tiến sĩ 2019) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

HO¹T §éNG CñA §¹I BIÓU QUèC HéI
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HOÀN

HO¹T §éNG CñA §¹I BIÓU QUèC HéI
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 9.38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ

HÀ NỘI - 2019


CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ........................................69
3.1. Khái quát thực trạng cơ cấu, chất lượng đại biểu Quốc hội và quy định
pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ...................69
3.2. Thực trạng hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ..............78
3.3. Thực trạng các điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở
Việt Nam hiện nay ..............................................................................................102
3.4. Về phương thức hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ........106
Kết luận Chương 3 ..............................................................................................111
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ..........................................112
4.1. Quan điểm bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay....112
4.2. Giải pháp bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay ......120
Kết luận Chương 4 ..............................................................................................147


KẾT LUẬN ............................................................................................................148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................152
PHỤ LỤC ...............................................................................................................163


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHLB:

Cộng hòa Liên bang

CHND:


QH:

Quốc hội

QPPL:

Quy phạm pháp luật

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TCQH:

Tổ chức Quốc hội

UBTVQH:

Ủy ban thường vụ Quốc hội

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân
VNCLP:

Viện Nghiên cứu lập pháp

VPQH:


92

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

94

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

94

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

95

Số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám
sát tại kỳ họp Quốc hội

95

Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt
động giám sát trên tổng số các phiên họp từ kỳ 1 đến kỳ 6
Quốc hội khóa XIII

95

Tỷ lệ phần trăm (%) các phiên họp toàn thể dành cho hoạt

định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của
Nhà nước. Để QH thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì yêu
cầu tất yếu đặt ra là các cơ quan của QH và nhất là ĐBQH phải hoạt động tốt, phát
huy được đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình.
Việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của QH và bảo đảm cho hoạt
động của ĐBQH nói riêng luôn được Đảng ta coi trọng. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX yêu cầu “nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, hoàn thiện
những quy định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội
trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ. Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách”
đồng thời phải “hoàn thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
chuyên trách”. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản
Việt Nam nêu: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội… hoàn thiện cơ
chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại
biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đại biểu Quốc hội”. Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu: “đổi mới tổ chức và hoạt
động của Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nhân dân. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số
lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt
chẽ và có trách nhiệm với cử tri” là một nhiệm vụ hàng đầu của việc phát huy dân
chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt
động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của
Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”; “Hoàn thiện thể chế để nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt động lập pháp của
1


Quốc hội, đại biểu Quốc hội…”. Những quan điểm nêu trên là những tư tưởng chỉ
đạo quan trọng có tính chất định hướng trong quá trình đổi mới, nâng cao chất
lượng, năng lực hoạt động của ĐBQH và QH nói chung.

của ĐBQH so với yêu cầu thực tiễn vẫn còn có khoảng cách nhất định.

2


Từ những lý do trên, NCS chọn chủ đề “Hoạt động của đại biểu Quốc hội ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án Tiến sĩ luật học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, kinh nghiệm của các nước
và thực tiễn hoạt động của ĐBQH Việt Nam, luận án có mục đích làm rõ khái niệm,
đặc điểm, vai trò, nội dung, yêu cầu hoạt động của ĐBQH; đánh giá những bất cập,
hạn chế trong hoạt động của ĐBQH, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp khoa
học, khả thi nhằm bảo đảm hơn nữa hoạt động của ĐBQH Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận án xác định rõ các nhiệm vụ nghiên
cứu chủ yếu sau:
- Thống kê, phân tích tình hình nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH của các
tác giả trong và nước ngoài chỉ ra các vấn đề xoay quanh ĐBQH để xác định các
nội dung đã thống nhất về hoạt động của ĐBQH.
- Xây dựng hệ thống kiến thức lý luận về ĐBQH và hoạt động của ĐBQH
Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu, nội dung hoạt động của ĐBQH,
những điều kiện bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH, nghiên cứu kinh nghiệm của các
nước về hoạt động của ĐBQH từ đó rút ra các giá trị cho Việt Nam.
- Nghiên cứu đánh giá khách quan, khoa học thực trạng quy định pháp luật
và thực trạng hoạt động của ĐBQH: ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân nhằm tạo cơ sở
thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm và đưa ra các giải pháp bảo đảm hoạt động của
ĐBQH trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi bảo đảm hoạt động của ĐBQH.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Rebekka Gohring (2003), Shapping The New Europe-Interest Representation in the
European Union, Doctor Thesis, Free University of Berlin, Berlin, tr.50; James
Madison với tác phẩm Người liên bang Nga A. Hamilton, J. Madison, J. Jay (2003),
The Federalist with the Letters of ‘Brutus’, Cambridge, tr.43-45);
+ Khảo cứu một số quan điểm nghiên cứu lý thuyết về tính đại diện của QH
(Hanna Pikin (1967), The Concept of Representation, Los Angeles University Press,
Los Angeles; v.v...)
Quá trình thực hiện Luận án dự kiến cũng sẽ nghiên cứu tham khảo những
kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động của ĐBQH ở QH các nước, rút ra những
liên hệ, bài học kinh nghiệm đặt trong thực tiễn của Việt Nam.
Tiếp cận hệ thống trong việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về
Quốc hội, hoạt động của ĐBQH, mối quan hệ giữa QH với cử tri thông qua hoạt động
của ĐBQH với cử tri; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của ĐBQH... vvv
Tiếp cận liên ngành để bảo đảm tính chính xác của các nhận định, đánh
giá về hoạt động của ĐBQH, luận án thực hiện tiếp cận liên ngành gồm: triết
học, luật học so sánh, xã hội học pháp luật, chính trị học ... kết hợp với nghiên
4


cứu lý luận, khảo sát và kết hợp giữa đánh giá định tính với định lượng. Với cách
tiếp cận liên ngành, từ đó có thể nhận định đúng đắn, khách quan toàn diện về
hoạt động của ĐBQH.
Thứ ba, NCS xác định nền tảng xuyên suốt trong quá trình thực hiện Luận án
là đề cao vị trí, vai trò, trách nhiệm hoạt động của ĐBQH trong hoạt động của QH,
phù hợp với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của QH nói chung.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ luận án,
nhằm đặt toàn bộ các nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các tư liệu, thông
tin liên quan trong quá trình hoạt động của ĐBQH trong một chỉnh thể thống nhất
(Chương 3, Chương 4).

Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoạt
động của ĐBQH Việt Nam đặc biệt sau khi Hiến pháp 2013 được ban hành và có
hiệu lực. Qua kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới sau đây:
- Về lý luận, Luận án tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận
về hoạt động của ĐBQH như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu và nội dung
hoạt động của ĐBQH, các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH, giá trị kinh
nghiệm hoạt động của ĐBQH một số quốc gia và vận dụng phù hợp với điều kiện
hoạt động của ĐBQH Việt Nam đáp ứng yêu cầu về dân chủ và pháp quyền trong
kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Về thực tiễn, Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động của
ĐBQH trong các lĩnh vực hoạt động của QH về lập pháp, giám sát, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước; kết hợp với việc phân tích những ưu điểm, nhược điểm tồn
tại đã và đang xảy ra trong thực tiễn hoạt động của ĐBQH trong thời gian vừa qua. Việc
nghiên cứu, hoàn thiện hoạt động của ĐBQH dựa trên những cơ sở thực tiễn này.
- Luận án luận chứng những quan điểm và các nhóm giải pháp nhằm bảo đảm
hoạt động của ĐBQH, Những giải pháp được tiếp cận trên các khía cạnh cơ bản như:
(i) Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của ĐBQH trên các lĩnh vực lập pháp,
giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, mối quan hệ với cử tri;
(ii) Xây dựng, ban hành văn bản về bộ quy tắc ứng xử của ĐBQH; phát huy
vai trò hạt nhân của ĐBQH trong hoạt động của QH; tăng cường tính chuyên môn,
chuyên trách của ĐBQH; v.v...
(iii) Hoàn thiện hoạt động của ĐBQH, tập trung vào việc hoàn thiện các quy
trình, thủ tục về trách nhiệm, sự tham gia của ĐBQH trong hoạt động của các cơ
quan của QH, hoạt động tại các Đoàn ĐBQH; hay khi tham gia vào các hình thức
làm việc khác của QH, các cơ quan của QH...
(iv) Đảm bảo tính đại diện khi làm nhiệm vụ đại biểu; phát huy trình độ, trí
tuệ, năng lực, kỹ năng hoạt động của ĐBQH; mối quan hệ giữa các ĐBQH, các cơ
quan của QH và các cơ quan hữu quan khác.
(v) Luận án cũng đề xuất cơ chế tăng cường sự giám sát của Nhân dân đối với hoạt
động của ĐBQH; cơ chế về vấn đề ĐBQH chịu trách nhiệm trước cử tri; v.v...

Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội
ở Việt Nam hiện nay.

7


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1. Những công trình nghiên cứu trong nước về tổ chức và hoạt động
của Quốc hội Việt Nam
Việc nghiên cứu nhằm kiện toàn, đổi mới về cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của QH là yêu cầu thực tế khách quan đặt ra. Trong thời
gian vừa qua, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về tổ
chức và hoạt động của QH, trong đó có đề cập ở những khía cạnh nhất định liên
quan đến hoạt động của ĐBQH.
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đã in thành sách.
+ Sách “Quốc hội Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn” [11]. Cuốn
sách đã tập hợp một số bài viết của nhiều tác giả đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp đề cập tới những vấn đề lý luận chung về QH và lịch sử Quốc hội, tổ chức
bộ máy và hoạt động của QH, trong đó một số nét về vị trí, vai trò ĐBQH; quy định
pháp luật về ĐBQH.
+ Sách “Một số vấn đề đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội” [102]. Trong
cuốn sách, tác giả dành hai chương (Chương III: ĐBQH và Đoàn ĐBQH; Chương V:
Một số kỹ năng cần thiết của ĐBQH trong hoạt động lập pháp) để trình bày về vị trí,
cơ sở pháp lý, xác định vai trò của ĐBQH; các quy định về ĐBQH; những vấn đề lý
luận, thực trạng và phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của ĐBQH chuyên trách và một số kiến nghị về chế độ, chính sách đối với ĐBQH.
Kỹ năng và vai trò của kỹ năng cá nhân của ĐBQH trong hoạt động lập pháp...

và thực tiễn về cơ chế giám sát quyền lực nhà nước và hoạt động giám sát của QH
Việt Nam, phân tích những ưu điểm, hạn chế, thuận lợi và thách thức đặt ra đối với
việc giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở đó kiến
nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế này. Trong đó, có đề cập đến hoạt
động giám sát của ĐBQH với các loại hình hoạt động cụ thể: chất vấn, kiến nghị
QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn. Các
tác giả cũng đã có những kiến nghị sơ bộ về việc đổi mới hình thức chất vấn của
ĐBQH; về nâng cao năng lực của ĐBQH
+ Sách: “Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải
pháp” [7]. Các tác giả có đề cập đến hoạt động giám sát của ĐBQH, chủ yếu dưới
hình thức hoạt động chất vấn, đồng thời, có nêu một số kiến nghị liên quan đến hoạt
động giám sát của ĐBQH.
+ Sách “Quốc hội Mỹ hoạt động như thế nào?”. Cuốn sách tìm hiểu hoạt
động của QH Mỹ, trong đó có đề cập ở một mức độ nhất định về hoạt động của cá
nhân nghị sỹ của QH Hoa Kỳ…
+ Sách “Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền Cộng hòa liên bang Đức” [87].
Cuốn sách đã khái quát về đất nước, con người, Nhà nước Cộng hòa LB Đức; giới
thiệu về tổ chức và hoạt động của QH liên bang, trong đó có đề cập một số nét về
hoạt động của nghị sĩ QH liên bang Đức; so sánh tổ chức hoạt động giữa QH Việt
Nam và CHLB Đức.

9


Thứ hai, những đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Quốc hội.
+ Đề tài “Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong thời
kỳ đổi mới đất nước” [76] (2002 – 2004), do VPQH thực hiện. Đây là đề tài nhánh
của đề tài cấp Nhà nước về “Luận cứ khoa học để xây dựng và hoàn thiện mô hình
tổ chức và hoạt động của Quốc hội”. Đề tài hướng tới nghiên cứu làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động của QH; những yếu

10


luận của việc quy định thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình của HĐDT, các Ủy
ban; đánh giá, phân tích về hệ thống các quy định pháp luật về thẩm quyền yêu cầu
báo cáo, giải trình tại Hội đồng, Ủy ban; thực tiễn thực hiện hoạt động yêu cầu báo
cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của QH nước ta trong những năm gần đây.
Công trình này tập trung nhiều vào các nội dung có liên quan đến hoạt động yêu cầu
báo cáo, trình bày (hay còn gọi là giải trình) tại Hội đồng, Ủy ban và giới hạn trong
phạm vi này, mà chưa đề cập đến các hoạt động khác của HĐDT, các Ủy ban. Cách
tiếp cận chủ đạo của các tác giả quan niệm HĐDT, các Ủy ban với vị trí là các cơ
quan của QH mới là chủ đề nghiên cứu chính. Mặc dù vậy, các hoạt động của cụ thể
của ĐBQH là thành viên HĐDT, các Ủy ban trong hoạt động giải trình cũng đã
được tập trung phân tích, đánh giá ở một mức độ nhất định.
Thứ ba, các luận văn, luận án liên quan đến Quốc hội.
+ Luận án tiến sĩ Luật “Cơ sở lý luận của việc đổi mới cơ cấu tổ chức và
phương thức hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” [101]. Luận án nghiên
cứu cơ sở lý luận về quyền lực nhà nước, vị trí, tính chất của QH, cơ cấu tổ chức,
phương thức hoạt động và vai trò của QH trong thực hiện chức năng lập pháp, giám
sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Nội dung trọng tâm
của Luận án đã đi vào hệ thống hóa các quy định của pháp luật và đánh giá thực tiễn
về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của QH qua các thời kỳ, từ đó, đề xuất
phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện trên thực
tế; trong đó, tác giả có nêu một số kiến nghị liên quan đến hoàn thiện pháp luật về
nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH.
+ Luận án Tiến sĩ Luật “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [48]. Luận án nghiên cứu làm rõ
khái niệm “chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội”, tiêu chí đánh giá, các yếu
tố tạo thành và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động lập pháp của QH,
trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” [18]. Luận án tập
trung làm rõ vấn đề lý luận về tính đại diện và bảo đảm tính đại diện của QH, các
giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tính đại diện của QH như: hoàn thiện chế độ
bầu cử, hoàn thiện quy trình, thủ tục làm việc của QH, nâng cao vị thế của ĐBQH.
+ Luận án tiến sĩ “Quốc hội-cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân – những
vấn đề lý luận và thực tiễn” [19]. Luận án tập trung khai thác làm rõ tính đại diện của
QH với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân: Khái niệm, vai trò của
QH; các bảo đảm và các hình thức thể hiện tính đại diện của QH, từ đó làm cơ sở
đánh giá thực trạng về tính đại diện của QH. Tác giả đã đưa ra phương hướng xây
dựng QH là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Khi trình bày về các nội dung
trên, hoạt động của ĐBQH cũng đã được tác giả phân tích ở một số khía cạnh đặt trong
bối cảnh nghiên cứu về chủ đề chính là tính đại diện Nhân dân cao nhất của QH.
+ Luận án tiến sĩ “Hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam” [77]. Luận án tập trung phân tích vào vị trí, vai trò,
đặc điểm hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của QH; về phương thức và yêu cầu
hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của QH; đánh giá thực trạng hoạt động của
HĐDT và các Ủy ban của QH, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động của

12


HĐDT và các Ủy ban của QH. Luận án có đề cập đến một số nội dung về hoạt động
của ĐBQH với vai trò, trách nhiệm là thành viên HĐDT, các Ủy ban của QH.
+ Luận án tiến sĩ “Đổi mới hoạt động ban hành và giám sát thực hiện nghị
quyết của Quốc hội ở nước ta hiện nay” [17]. Luận án tập trung phân tích làm rõ
khái niệm, tính chất pháp lý của nghị quyết của QH và hoạt động giám sát thực hiện
nghị quyết của QH; đánh giá thực trạng đổi mới hoạt động ban hành và giám sát
thực hiện nghị quyết của QH...Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới
hoạt động ban hành và giám sát nghị quyết của QH. Trong luận án, tác giả đã đề cập
đến năng lực hoạt động của QH phụ thuộc vào năng lực hoạt động các cơ quan của

- “Những bước đổi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn đề
tăng cường tổ chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay” [12]. Bài viết đã trình
bày khái lược quá trình hình thành và phát triển của HĐDT, Ủy ban trong lịch sử lập
hiến Việt Nam qua 4 bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992; trong đó có gợi mở về
việc tăng số lượng và thẩm quyền của các Ủy ban; về vai trò, chất lượng ĐBQH.
- “Quốc hội trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
[sửa đổi]” [73]. Bài viết tập trung phân tích những điểm kế thừa và phát triển vị trí,
vai trò của QH, làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH trong bản hiến
pháp mới nhằm phúc đáp kịp thời yêu cầu của thực tiễn.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu trong nước về đại biểu Quốc hội và
hoạt động của đại biểu Quốc hội
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đã in thành sách
+ Sách “Cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội” [86]. Cuốn sách phân tích những
vấn đề lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò của ĐBQH trong việc thực hiện quyền
trình sáng kiến pháp luật và cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật,
từ đó nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền trình
sáng kiến pháp luật của ĐBQH.
+ Sách “Điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội” [69]. Cuốn sách tập hợp
những bài viết liên quan đến điều kiện hoạt động của ĐBQH - một trong những yếu
tố bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ĐBQH. Trên thực tế, đây
là tập hợp những bài viết được đúc rút từ trải nghiệm thực tế của tác giả về điều
kiện hoạt động của ĐBQH trên các khía cạnh: các nhóm điều kiện do luật định; các
nhóm về điều kiện vật chất bảo đảm cho hoạt động của ĐBQH; tác giả cũng phân
tích những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và phương hướng khắc phục
trong những lĩnh vực này.
Thứ hai, các đề tài nghiên cứu về đại biểu Quốc hội.
+ Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng hoạt động
của đại biểu Quốc hội và tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách” [36]. Đề tài
tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, đánh giá thực trạng
hoạt động, đưa ra những vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện để tiếp tục nâng cao

lực đại diện của đại biểu qua số liệu hoạt động của QH khóa X, XI. Những vấn đề
lý luận đại diện, cơ sở pháp lý của việc nâng cao năng lực đại diện, tiêu chí đánh giá
năng lực ĐBQH còn mang tính khái lược. Tuy nhiên, công trình có ý nghĩa cho việc
nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH ở Việt Nam hiện nay với tầm vóc của một
Luận án với phạm vi nghiên cứu rộng và toàn diện hơn về ĐBQH.
+ Luận án Tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt
Nam hiện nay” [61]. Luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về
ĐBQH; thực trạng pháp luật về ĐBQH Việt Nam, từ đó, đưa ra yêu cầu, quan điểm
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐBQH. Đây là công trình nghiên cứu toàn
diện, tập trung nhất trên phương diện pháp luật về ĐBQH. Bên cạnh đó, cũng phải
thấy rằng sau thời điểm công trình nghiên cứu được hoàn thành, Hiến pháp năm
2013, Luật TCQH năm 2014, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, Luật hoạt
động giám sát của QH và HĐND năm 2015... được ban hành, theo đó khuôn khổ
pháp lý làm nền tảng cho hoạt động của ĐBQH đã có những điều chỉnh quan trọng.

15


Thứ tư, các bài viết tiêu biểu về đại biểu Quốc hội đăng trên các tạp chí
khoa học
+ Bài viết “Một số yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của đại biểu
Quốc hội” [33] Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3 (14) tháng 3 năm 2002. Tác giả
đề cập đến trong bài viết về yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của ĐBQH. Đó
là năng lực, trình độ của ĐBQH; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH, sự
tham gia của ĐBQH đối với các hoạt động của QH; mức độ quan tâm, đánh giá của
cử tri đối với hoạt động của ĐBQH và các điều kiện bảo đảm hoạt động của ĐBQH.
Tác giả đưa ra một số kiến nghị về cơ cấu, thành phần ĐBQH, năng lực, trình độ
của ĐBQH, tỉ lệ ĐBQH hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của QH.
+ Bài viết “Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp” [5]. Bài viết
phân tích, đánh giá những vấn đề liên quan đến ĐBQH hoạt động chuyên trách thông

chủ đại diện, cơ chế ra quyết định, mối quan hệ cử tri, Đảng, CP, địa phương, tâm lý
đám đông… Tác giả đánh giá tầm quan trọng và phạm vi các quyết định của ĐBQH
bao trùm cả ba chức năng của QH trong không gian quốc gia, địa phương và liên
quan đến nhiều lợi ích. Tác giả đưa ra một số giải pháp về việc thiết kế lại quá trình
ra quyết định, củng cố và dựa vào các quyền được trao, tăng cường và dựa vào các
điều kiện hỗ trợ, nâng cao năng lực của ĐBQH.
+ Bài viết “Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện sáng quyền lập pháp
của đại biểu Quốc hội” [42]. Bài viết đề cập đến quy định pháp luật về thực hiện
sáng quyền lập pháp của ĐBQH và những yếu tố tác động đến việc thực hiện sáng
quyền lập pháp của ĐBQH, từ đó đề xuất kiến nghị góp phần làm cho hoạt động
sáng quyền lập pháp của ĐBQH có tính khả thi.
+ Bài viết “Nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực
hiện sáng quyền lập pháp” [43]. Bài viết bàn đến thực tiễn hỗ trợ ĐBQH thực hiện
sáng quyền lập pháp: quy định pháp luật, thông tin, nhân lực, tài chính hỗ trợ
ĐBQH, từ đó gởi mở hướng nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ ĐBQH thực hiện
sáng quyền lập pháp.
+ Bài viết “Quy trình lập pháp và vai trò của đại biểu Quốc hội” [63]. Bài
viết đi vào xác định QH là cơ quan nắm trọn quyền lập pháp; quy trình lập pháp và
vai trò, kỹ năng của ĐBQH trong hoạt động lập pháp.
+ Bài viết “Kỹ năng thảo luận về các dự án luật” [62]. Bài viết phân tích về
kỹ năng thảo luận của ĐBQH đối với các dự án luật, trách nhiệm của ĐBQH trong
thảo luận nhằm đánh giá chất lượng, năng lực hoạt động đại biểu từ tham gia thảo
luận tại tổ, tại hội trường cần rõ về thời gian, việc đăng ký phát biểu đến quy trình,
thủ tục tiến hành thảo luận; đổi mới cung cấp thông tin, dữ liệu về các dự án luật
cho ĐBQH và giải pháp nâng cao kỹ năng thảo luận của ĐBQH.
+ Bài viết “Bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội” [70]. Bài
viết phân tích về bảo đảm điều kiện hoạt động của ĐBQH như về: chế độ làm việc,
nơi làm việc, cơ quan làm việc của ĐBQH; những bảo đảm về an ninh, an toàn cho
ĐBQH; bảo đảm về vật chất, thù lao làm việc cho ĐBQH và một số nhận xét, kiến
nghị góp phần vào việc bảo đảm điều kiện hoạt động của ĐBQH.

cấu và hoạt động của QH Mỹ như: chức năng, nhiệm vụ của hai Viện và các Ủy ban
của QH; quá trình thông qua các dự án luật; quan hệ giữa QH với các cơ quan
quyền lực khác của chính quyền liên bang Mỹ... Trong đó, có đề cập đến vai trò và
hoạt động của ĐBQH.
+ Công trình “Representation: Key Concepts” [115]. Công trình này có nội
dung tập trung vào làm rõ các khái niệm đại diện, quan hệ đại diện của cá nhân, quan
hệ đại diện đối với tập thể và đại diện cho một quốc gia. Đặc biệt công trình này tuy
bàn đến đại diện của các đại biểu QH/nghị sỹ đại diện cho quốc gia, cho cử tri nhưng
chưa làm rõ thực tế về mức độ đại diện của QH trong mối quan hệ với cử tri thông
qua vai trò đại điện và các hoạt động của ĐBQH nhằm biểu hiện rõ cho tính đại diện.
+ Bài viết “Power and Representation at the Vietmese National Asembly:
The Scope and Limits of Political Doi Moi” [114]. Bài viết đã phân tích, đánh giá
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status