Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở các số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh quảng ninh - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HI Lấ

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN VÊ ĐịA Vị PHáP Lý
CủA Bị CáO TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
- Trên cơ sở các số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HI Lấ

MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN VÊ ĐịA Vị PHáP Lý
CủA Bị CáO TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
- Trên cơ sở các số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS. TSKH. Lấ VN CM

H NI - 2015


HÌNH SỰ .............................................................................................. 9

1.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự .................. 9
1.1.2. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo
trong luật tố tụng hình sự ................................................................... 14
1.2.

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM
VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM ....................................................................... 16

1.2.1. Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trƣớc năm
2003 về địa vị pháp lý của bị cáo ....................................................... 16
1.2.2. Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của
bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 .................................. 24
1.3.

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI ..................... 25

1.3.1. Trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga.................................... 25
1.3.2. Trong tố tụng hình sự của Công hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa .. 29
1.3.3. Trong Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản...................................... 32


Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ............................ 35
2.1.

3.1.2. Sửa đổi quy định về quyền bào chữa của bị cáo ................................ 60
3.1.3. Bổ sung quy định liên quan đến các quyền dân sự của bị cáo ........... 64
3.1.4. Bổ sung quyền đƣợc bồi thƣờng ........................................................ 65
3.1.5. Bổ sung quyền liên lạc và gặp gỡ ngƣời thân .................................... 65
3.1.6. Bổ sung nghĩa vụ chấp hành các yêu cầu của cơ quan Tòa án, có
nghĩa vụ tuân theo nội quy phiên tòa ................................................. 66


3.1.7. Bổ sung nghĩa vụ chấp hành nội quy, quy chế của nơi tạm giam đối
với bị cáo bị tam giam cũng nhƣ chấp hành sự quản lý của chính
quyền địa phƣơng đối với những bị cáo đang đƣợc tại ngoại................. 66
3.1.8. Bổ sung nghĩa vụ tôn trọng và thi hành bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.......................................................... 67
3.2.

HOÀN THIỆN CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA TỐ TỤNG
HÌNH SỰ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO .... 69

3.2.1. Bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự ........................ 69
3.2.2. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chƣa có
bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” ............................ 70
3.2.3. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.................... 71
3.2.4. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa ..................... 72
3.3.

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ NHẰM ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN CÁC
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO ........................................... 73

3.3.1. Hoàn thiện các quy định về cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời


TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Số lƣợng vụ án hình sự và số lƣợng các bị cáo từ năm
2010 đến năm 2014

50


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua

phải có trong đời sống hằng ngày của con người” [8, tr.33]. Quyền con ngƣời
trong tố tụng hình sự chính “là sự ghi nhận và bảo đảm quyền của những
người yếu thế trong xã hội, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị
tình nghi phạm tội hoặc người bị kết án tránh sự lạm dụng của người tiến
hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án” [8, tr.34]. Do đó quyền con
ngƣời của bị cáo trong TTHS là một trong những nội dung quan trọng của
pháp luật TTHS. Quyền con ngƣời của bị cáo đƣợc ghi nhận và bảo đảm nhƣ
thế nào đƣợc thể hiện thông qua nội dung địa vị pháp lý của bị cáo.
Địa vị pháp lý của bị cáo không phải là một chế định lớn nhƣng nó lại
là một chế định vô cùng quan trọng xuyên suốt giai đoạn xét xử một vụ án
hình sự. Bởi lẽ chủ thể quan trọng nhất trong quá trình xét xử chính là bị cáo,
nếu không có bị cáo thì không có vụ án hình sự, không có ai bị xét xử thì
cũng không có cơ quan tiến hành tố tụng hay ngƣời tham gia tố tụng nào
khác. Mà bị cáo đƣợc làm gì hay phải làm gì trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự lại đƣợc thể hiện qua những quy định về địa vị pháp lý của bị cáo.
Tuy nhiên, trong thực tế sự thiếu đồng bộ và sự hiểu biết không rõ ràng về
những quy định này đang gây ảnh hƣởng đến quyền lợi của bị cáo chung và
những quyền con ngƣời tối thiếu nói riêng. Một câu hỏi lớn đƣợc đặt ra là làm
thế nào để quyền lợi và nghĩa vụ của bị cáo đƣợc đảm bảo, làm thế nào để
những quyền công dân tối thiểu đƣợc đáp ứng. Và câu hỏi này vẫn còn khiến
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả, nhiều nhà làm luật phải suy ngẫm
Nhƣ vậy, xuất phát từ chủ trƣơng, chính sách cải cách tƣ pháp; từ công
cuộc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, thống nhất; từ tầm quan trọng
của việc nghiên cứu chế định địa vị pháp lý của bị cáo, từ ý nghĩa tích cực cả

2


về mặt chính trị, kinh tế, xã hội của chế định này, tôi đã lựa chọn: “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố tụng

sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Kiểm sát, số 11 + 13;
Nguyễn Ngọc Chí (2008), Các nguyên tắc cơ bản trong Luật tố tụng hình sự Những đề xuất sửa đổi, bổ sung, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
Kinh tế - Luật số 24/2008; Nguyễn Chí Dũng (2014), Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
sơ thẩm hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 12; Nguyễn Đƣ́c Dũng (2010), Trao đổ i
về bài “Bi ̣ cáo có được quyề n đặt câu hỏi với những người tham gia tố tụng
khác tại phiên tòa không? Tạp chí TAND số 12; Nguyễn Thùy Dƣơng (2014),
Quyền thăm thân của người bị tạm giam, tạm giữ trước khi xét xử - Góc nhìn
từ pháp luật quốc tế, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 2; Hoàng Hùng Hải
(2012), Tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong phiên tòa xét xử hình
sự, Tạp chí TAND số 7; Đoàn Tạ Cửu Long và Nguyễn Tấn Hảo (2012), Một
số ý kiến hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ của người bị
tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo,Tạp chí Kiểm sát số 21; Nguyễn Đức Mai
(2008), Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành
nằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Tạp chí Luật học
số 7; Lƣơng Thị Mỹ Quỳnh, Hoàn thiện quy định về bảo đảm quyền có người
bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp; Bình Sơn (2014), Quyền im lặng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11;
Hồ Sỹ Sơn (2010), Quyề n kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình
sự Viê ̣t Nam - thực trạng và các giải pháp đảm bảo , Tạp chí TAND số 6; Chu
Thị Trang Vân (2009), Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về
quyền, nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm thực hiện, Tạp chí
Nghiên cứu luật pháp số 5.
2.3. Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ
2.3.1. Các luận án tiến sĩ
Nghiên cứu chuyên sâu về các quyền của bị cáo cũng nhƣ việc bảo đảm
4


các quyền của bị cáo phải kể đến: Lại Văn Trình (năm 2011), Bảo đảm quyền

3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu, phân tích tính hợp lý của các quy phạm pháp luật
tố tụng hình sự khi so sánh với yêu cầu của thực tiễn về vai trò của địa vị
pháp lý của bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác giả đƣa ra
những giải pháp, phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy phạm pháp luật hiện tại
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau
Một là: Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về địa vị pháp lý của bị cáo
Hai là: Đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện
hành về địa vị pháp lý của bị cáo
Ba là: Đề xuất những giải pháp, phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định
về địa vị pháp lý của bị cáo
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của bị cáo trong
pháp luật TTHS Việt Nam. Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và tình
hình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh, luận văn đã đƣa ra những phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế và hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
địa vị pháp lý của bị cáo
Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp của
một số nƣớc trên thế giới nhƣ Nhật Bản, Liên Bang Nga…
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luật chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác – xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, về

6




các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về địa vị pháp lý của bị
cáo. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng trƣớc yêu cầu của công cuộc cải cách
tƣ pháp, đồng thời với những đòi hỏi hoàn thiện hệ thống pháp luật hoàn
thiện, toàn diện, phù hợp với các quy định, các điều ƣớc quốc tế thì việc
nghiên cứu góp phần áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật trong thực tiễn,
tránh tình trạng tùy tiện và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến quyền lợi, nghĩa vụ
của bị cáo.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
không chỉ cho những nhà lập pháp, nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên quan
tâm đến lĩnh vực của đề tài mà nó còn cung cấp những kiến thức cần thiết,
chuyên sâu cho các cán bộ làm việc trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý của bị cáo trong luật
tố tụng hình sự
Chương 2: Thực trạng của các quy phạm về địa vị pháp lý của bị cáo
trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Hoàn thiện một số vấn đề có liên quan đến địa vị pháp lý
của bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành.

8


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hết thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 176 BLTTHS năm 2003,
thẩm phán đƣợc phân công chủ tọa phiên tòa sẽ phải ra một số các quyết
định và nếu thấy những chứng cứ, tình tiết rõ ràng, hành vi của bị can bị
VKS cùng cấp truy tố có dấu hiệu tôi phạm thì tiến hành đƣa vụ án ra xét
xử. Khi đó bị can (ngƣời bị tình nghi đã thực hiện hành vi phạm tội) trở
thành bị cáo, tức là bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đƣa vụ
án ra xét xử cho đến khi bản án hay quyết định của tòa án có hiệu lực pháp
luật. Lƣu ý rằng khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể
của tội phạm hoặc ngƣời có tội.
Liên quan đến khái niệm địa vị pháp lý: Hiện nay có rất nhiều các tài
liệu đƣa ra các khái niệm khác nhau về địa vị pháp lý. Theo sách Thuật ngữ
pháp lý thì “Địa vị pháp lý: Tổng thể các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật
xác định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách
độc lập” [68, tr. 103]. Theo từ điển Luật học thì:
Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan
hệ với chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật. Địa vị pháp
lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng nhƣ giới hạn khả
năng của chủ thể trong hoạt động của mình [4, tr. 244].
Theo bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia thì:
Tƣ cách pháp lý là tƣ cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay
các chủ thể khác khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật
nhất định. Tƣ cách pháp lý cũng chính là địa vị pháp lý thể hiện vị trí,
vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là
quyền lợi, nghĩa vụ cũng nhƣ trách nhiệm pháp lý phát sinh. Tƣ cách

10


pháp lý là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi ngƣời

nghĩa vụ là nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức [68, tr.208]. Có tác giả lại
cho rằng: Nghĩa vụ là xử sự bắt buộc của chủ thể, nghĩa vụ là sự áp đặt.
Theo quan điểm của tác giả, nghĩa vụ là trách nhiệm mà một ngƣời phải
thực hiện và nghĩa vụ của bị cáo là trách nhiệm mà bị cáo phải thực hiện
trƣớc cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng và các ngƣời tham
gia tố tụng khác.
Quyền của bị cáo, nghĩa vụ của bị cáo hay gọi chung là địa vị pháp lý
của bị cáo có các đặc điểm chung cơ bản sau:
Thứ nhất: Quyền và nghĩa vụ của bị cáo đƣợc quy định bởi pháp luật.
Không một quyền hay nghĩa vụ nào của bị cáo không đƣợc quy định bởi các
quy định pháp luật nói chung hoặc các quy định pháp luật tố tụng hình sự nói
riêng. Trong BLTTHS năm 2003 ngoài việc quy định chung về quyền và
nghĩa vụ của bị cáo tại khoản 2, 3 Điều 50 BLTTHS thì còn có rất nhiều các
quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo nhƣ đƣợc quyền tôn
trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 BLTTHS), quyền
bình đẳng (Điều 5 BLTTHS), quyền bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tài sản (Điều 7 BLTTHS), quyền xem biên bản phiên tòa, đƣợc
yêu cầu sửa đổi, bổ sung biên bản phiên tòa (Điều 200 BLTTHS)…., nghĩa vụ
thi hành và tôn trọng bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
(Điều 22 BLTTHS), nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa
án (Điều 187 BLTTHS)… Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của bị cáo không tách
rời khỏi quyền, nghĩa vụ công dân của bị cáo và quyền con ngƣời của bị cáo
do đó bên cạnh việc thể hiện tại BLTTHS năm 2003, quyền và nghĩa vụ của bị
cáo còn đƣợc thể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 2013.
Thứ hai: Các quy định về địa vị pháp lý của bị cáo áp dụng chung,
thống nhất đối với tất cả các bị cáo không phân biệt địa vị, giới tính, tuổi tác,
hoàn cảnh gia đình. Nếu đã là bị cáo thì sẽ đƣợc hƣởng các quyền và chịu

12




1.1.2. Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo
trong luật tố tụng hình sự
1.1.2.1. Cơ sở của việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong luật tố
tụng hình sự
Việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự xuất phát
từ nhiều những lý do khác nhau:
Thứ nhất là việc quy định về địa vị pháp lý bắt nguồn từ việc bảo đảm
thực hiện quyền con ngƣời:
Quyền con ngƣời trong TTHS là quyền của nhóm ngƣời dễ bị
tổn thƣơng trong xã hội, những ngƣời này dù tham gia với tƣ cách
là ngƣời bị buộc tội hay là ngƣời bị hại, ngƣời tham gia trong các
vụ án hình sự thì họ vẫn đƣợc pháp luật bảo vệ và tôn trọng những
quyền cơ bản thiết thân của con ngƣời [8, tr. 34-35].
Hơn thế nữa trong quan hệ tố tụng hình sự, một bên là những ngƣời
tham gia tố tụng còn bên kia là cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố
tụng, một bên đƣợc giao quyền lực nhà nƣớc để giải quyết vụ án còn một bên
là các đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng bởi các hành vi tố tụng của bên kia, chính vì
thế việc quy định rõ ràng địa vị pháp lý của bị cáo giúp đảm bảo quyền con
ngƣời của các bị cáo
Thứ hai là việc quy định thể hiện sự công bằng, bình đẳng cho tất cả
mọi ngƣời. Bởi lẽ, khi có một quy định cụ thể, rõ ràng thì đó chính là kim chỉ
nam áp dụng cho tất cả các đối tƣợng thuộc quy định. Chính vì vậy, khi có
quy định cụ thể về địa vị pháp lý của bị cáo, nó sẽ là một chuẩn mực chung áp
dụng cho tất cả các bị cáo, điều này thể hiện sự công bằng, bình đẳng cho tất
cả bị cáo, quy định nhƣ vậy giúp loại trừ trƣờng hợp áp dụng tùy tiện, đối xử
thiếu công bằng giữa các bị cáo
Thứ ba là bảo đảm chất lƣợng, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự.



15


nhân mặc dù họ có thể bị áp dụng những biện pháp trừng trị nghiêm khắc nhất
của nhà nƣớc những vẫn đảm bảo cho họ những quyền lợi nhất định. Những
quyền lợi vừa thể hiện chủ trƣơng nhân đạo của pháp luật vừa phù hợp với
những quy định chung của pháp luật quốc tế về quyền con ngƣời và các công
ƣớc chống tra tấn
Ý nghĩa về mặt pháp lý: Việc quy định địa vị pháp lý của bị cáo cung
cấp chuẩn mực cho các hoạt động tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng sẽ dựa vào
các quy định của pháp luật để làm kim chỉ nam cho mình, là thƣớc đo để
khẳng định một hoạt động là đúng hay sai, là căn cứ pháp lý cho mọi hoạt
động tố tụng.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Những quy định về địa vị pháp lý của bị cáo
có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn. Bất cứ một vụ án hình sự nào cũng
phải có bị cáo và họ phải đƣợc áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ.
Những quy đinh này có giá trị cao trong thực tiễn bởi tính ứng dụng trong
thực tế và giá trị cao trong thực tế.
1.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA
VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước
năm 2003 về địa vị pháp lý của bị cáo
1.2.1.1. Các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý
của bị cáo trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng
hình sự năm 1988 (trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên)
Sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, ngày 02/9/1945, tại quảng
trƣờng Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai

sự…Để bảo đảm quyền bào chữa, ngoài việc thực hiện quyền tự bào chữa của
bị cáo, chúng ta cần phải xây dựng tổ chức luật sƣ và phát triển chế độ ngƣời
bào chữa nhân dân [11, tr.36]. “Các tòa án cần phải thực sự tôn trọng quyền

17


Trích đoạn HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP Lí CỦA Sửa đổi quy định về quyền bào chữa của bị cỏo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status