Người làm chứng trong luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) - Pdf 38

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ VIT KIấN

NGƯờI LàM CHứNG TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ VIT KIấN

NGƯờI LàM CHứNG TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng Hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TH PHNG

H NI - 2015




Đặc điểm về người làm chứng .......... Error! Bookmark not defined.

1.2.

Vai trò của người làm chứng trong tố tụng hình sựError! Bookmark not de

1.3.

Quy định về người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình
sự một số nước trên thế giới ........... Error! Bookmark not defined.

1.3.1.

Quy định về người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự
của Cộng hòa liên bang Đức ............. Error! Bookmark not defined.

1.3.2.

Quy định về người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự
của Cộng hòa Pháp ............................ Error! Bookmark not defined.

1.3.3.

Quy định về người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự
của Liên bang Nga ............................. Error! Bookmark not defined.

1.3.4.

Quy định về người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự

Việt Nam về người làm chứng tại tỉnh Đắk LắkError! Bookmark not define
2.2.1.

Những kết quả đạt được và nguyên nhânError! Bookmark not defined.

2.2.2.

Những hạn chế và nguyên nhân ........ Error! Bookmark not defined.

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO

HIỆU QUẢ VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TẠI TỈNH ĐẮK LẮKError! Bookmar
3.1.

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về người
làm chứng ......................................... Error! Bookmark not defined.

3.2.

Giải pháp nâng cao hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố

tụng đối với người làm chứng tại tỉnh Đắk LắkError! Bookmark not define
KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 11


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS:

Viện kiểm sát


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Bảng 2.1:

Trang
Error!

Số liệu các vụ án hình sự thụ lý của TAND tỉnh Bookmark
Đắk Lắk từ năm 1999 đến năm 2013

not
defined.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đi đôi với quá trình hội nhập phát triển kinh tế là yêu cầu xây dựng một
xã hội có những thiết chế pháp luật chặt chẽ và cụ thể, trong đó quyền con
người phải được tôn trọng và bảo vệ. Người làm chứng được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 là cơ sở pháp lý quan trọng để
nâng cao vai trò, vị trí và bảo vệ người làm chứng - là một chủ thể trong vụ án
hình sự góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, là một chế định lâu đời
trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta và các nước khác trên thế giới, xuất
phát từ lời khai của người làm chứng là một trong những chứng cứ có vai trò

Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong nước, phù hợp với hội nhập quốc tế trong đó các quy định về
quyền, nghĩa vụ của người làm chứng là một dẫn chứng cụ thể.
Việc nghiên cứu người làm chứng trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt
Nam để có cái nhìn sâu hơn, đầy đủ hơn và có những giải pháp hoàn thiện
quy định của pháp luật về người làm chứng là hoàn toàn cần thiết.
Xuất phát từ thực tế cấp thiết đó tôi đã chọn đề tài: “Người làm chứng
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn
tỉnh Đắk Lắk)” làm cơ sở nghiên cứu khoa học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình khoa học có cấp độ
khác nhau quy định của pháp luật về người làm chứng trong luật Hình sự.
Trong đó có một số bài viết như: “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ
người làm chứng trong tố tụng hình sự” của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc,
trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (Tạp chí khoa học pháp lý số 3 năm
2007); “Lời khai của người làm chứng trong vụ án hình sự” của TS. Trần
Quang Tiệp, Tổng cục An ninh, Bộ công an (Tạp chí khoa học pháp lý số 4
năm 2005); “Hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo vệ người làm chứng
khi tham gia tố tụng” của Ths. Nguyễn Hải Ninh (Trường Đại học Luật Hà

2


Nội); “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ người tố giác, người làm chứng,
người bị hại trong vụ án hình sự” của PGS.TS Trần Đình Nhã (Phó chủ nhiệm
Ủy ban quốc phòng và an ninh của Quốc hội); “Một số vấn đề trong việc bảo
vệ người làm chứng” của tác giả Đinh Tuấn Anh (Học viện cảnh sát) trên tạp
chí kiểm sát số 7/2008; “Quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp
Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Văn Động, Nxb khoa học xã hội 2005; đề tài
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Các quyền cơ bản hiến định của công dân

và tìm hiểu nhiều nguồn thông tin khác nhau tác giả nhận thấy chưa có Luận
văn thạc sỹ, Luận án tiến sỹ nào nghiên cứu về đề tài “Người làm chứng trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk”
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích: Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
quy định quyền và nghĩa vụ người làm chứng, đánh giá những ưu điểm và hạn
chế trong các quy định pháp luật về vấn đề này, từ đó tìm ra những nguyên nhân
và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về người làm chứng trong TTHS.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò, ý nghĩa
cũng như quyền và nghĩa vụ của người làm chứng theo quy định của
BLTTHS năm 2003. Phân tích đánh giá tính khả thi của pháp luật về người
làm chứng trong từ đó nêu lên những bất cập tồn tại trong quy định của Luật
cũng như trong quá trình áp dụng pháp luật. Phân tích quy định về địa vị pháp
lý của người làm chứng trên cơ sở làm rõ yếu tố tâm lý người làm chứng, vai
trò của họ trong giải quyết vụ án hình sự. Tìm ra những giải pháp, phương
thức hoàn thiện các quy định pháp luật và việc áp dụng thống nhất pháp luật,
đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người làm chứng. Nghiên cứu số
liệu trên cơ sở tổng kết công tác năm 2013 của ngành Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk về người làm chứng trong tố tụng hình sự và đề ra những giải pháp,
kiến nghị để hoàn thiện các quy định về người làm chứng.
Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích quy định của
BLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ người làm chứng trên cơ sở lý luận
và thực tiễn thực hiện những quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền của người làm chứng.
4


4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước và quy định trong Hiến pháp

LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm về người làm chứng
1.1.1. Khái niệm người làm chứng
Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức là bộ luật đầu tiên
quy định về người làm chứng, Điều 714 quy định:
Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày
thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì
không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ấy giấu giếm ra
làm chứng, thì khép vào tội không nói đúng sự thật. Hình quan,
ngục biết mà dung túng việc đó đều bị tội [40].
Trong Bộ luật tố tụng áp dụng tại Bắc kỳ thời Pháp thuộc người làm
chứng được quy định cụ thể tại Điều 20 như sau: "Phàm người chứng đã liệt
danh trong đơn khống chế và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến
chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến TA để chất vấn".
Ngoài việc quy định chủ thể nào là người làm chứng, bộ luật còn quy định về
nghĩa vụ của người làm chứng tại Điều 22 như sau:
Phàm người chứng đã bị chiếu lệ đòi gọi, không có gì hợp lẽ
mà tự ý không đến hầu trước Tòa sơ cấp nghĩ xử việc vi cảnh, hoặc
trước TA tỉnh, hoặc Tòa đệ tam cấp hoặc trước quan thẩm cứu thì
có thể bị ép bắt phải đến hầu và vì cớ không đến hầu phải bị xử phạt
từ 1 đồng đến 5 đồng và phạt giam từ 1 ngày đến 5 ngày, hoặc hai
thứ phải chịu một [12].
Trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời, trong pháp luật TTHS Việt Nam
đã có những văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, công văn số 98-

6


NCPL ngày 2/3/1974 gửi Tòa án nhân dân địa phương đề cập việc thu thập,
kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng. Công văn nêu

sự việc như họ đã khai không? [33].
- Họ có quan hệ thân thuộc, bạn bè hoặc có mâu thuẫn gì với bị cáo, với
người bị hại không? Quyền lợi của họ có liên quan đến vụ án không?
Như vậy, vấn đề người làm chứng, cũng như việc quy định về quyền,
nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp Việt Nam.
Pháp luật hầu hết các quốc gia đều có những quy định về người làm chứng
vì lời khai của người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải
quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, không làm oan người vô tội,
không bỏ lọt tội phạm, tăng niềm tin của nhân dân vào pháp luật. Với những
ý nghĩa trên, BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận người làm chứng là người
tham gia tố tụng hình sự tại Điều 55, có sự bổ sung, kế thừa các quy định
của BLTTHS năm 1988.
BLTTHS năm 2003 quy định:
Người nào biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đều có
thể được triệu tập đến làm chứng.
Những người sau đây không được làm chứng:
a) Người bào chữa của bị can, bị cáo;
b) Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà
không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc
không có khả năng khai báo đúng đắn [18, Điều 55].
Như vậy theo quy định của pháp luật có thể hiểu như sau về người
làm chứng:
+ Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ
án. Nhận thức của người làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp (trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hay được người khác kể lại).
Những tình tiết mà người làm chứng biết được có thể liên quan đến đối

8




có khả năng khai báo đúng đắn thì không được làm chứng. Theo quy định của
pháp luật thì người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan tới vụ
án, những người có nhược điểm về thể chất biết được các tình tiết theo cách
riêng của họ. Người điếc không nghe thấy được nhưng có thể nhìn thấy,
người mù không thể nhìn thấy được nhưng có thể nghe thấy. Vì vậy, nếu vào
thời điểm nhận thức hoặc khai báo sự việc mà do có nhược điểm về thể chất
hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận thức hoặc khai báo đúng đắn thì
không được làm chứng. Nếu các nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không
làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và khai báo thì có thể tham gia tố
tụng với tư cách người làm chứng.
+ Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án chỉ có thể trở
thành người làm chứng khi được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập.
Trong thực tiễn điều tra có nhiều người biết tình tiết của vụ án đang điều tra
nhưng không trở thành người làm chứng bởi luật quy định những trường hợp
này không được làm chứng (người bào chữa của bị can, bị cáo; người có
nhược điểm tâm thần, thể chất mà không có khả năng nhận thức và khai báo
đúng đắn - khoản 2 Điều 55 BLTTHS năm 2003) hoặc do cơ quan có thẩm
quyền xét thấy không cần thiết phải triệu tập họ để lấy lời khai với tư cách
người làm chứng trong vụ án. Trường hợp có nhiều người biết các thông tin
liên quan đến vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải có sự lựa chọn.
Những người biết được nhiều tin tức quan trọng, biết được các tình tiết một
cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ; những người có khả năng mô tả lại một
cách tốt nhất những hiểu biết của họ mà cơ quan điều tra đang cần; những
người có thiện chí, có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ người làm chứng
thường được các cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn. Việc lựa chọn triệu tập
ai là người làm chứng sẽ làm giảm được khối lượng công việc, tránh tình
trạng lan man trong thu thập chứng cứ.

10

lệnh số 33c ngày 13/9/1945 về việc thiết lập các tòa án quân sự, Hà Nội.

6.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị
ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong
thời gian tới, Hà Nội.

7.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị
ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.

8.

Nguyễn Văn Động (2005), Quyền con người, quyền công dân trong
hiến pháp Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.

9.

Tô Văn Hòa (2011), Các quyền cơ bản hiến định của công dân trong
lĩnh vực tố tụng hình sự, Trường đại học Luật Hà Nội.

10.

Phạm Mạnh Hùng (2012), “Vấn đề bảo vệ nhân chứng, người tố giác
và những người tham gia tố tụng khác”, Tạp chí kiểm sát, (7), Trường
đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.

11

quốc gia, Hà Nội.

17.

Quốc hội (2003), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992, Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội.

18.

Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19.

Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Nxb Thống kê - Hà Nội.

20.

Quốc hội (2007), Luật Công an nhân dân năm 2005, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.

21.

Quốc hội (2009), Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.

22.

Quốc hội (2010), Luật Cán bộ công chức năm 2008, Nxb Chính trị


TAND tỉnh Đắk Lắk (2012), Báo cáo chuyên đề về Hình sự, Đắk Lắk.

29.

TAND tỉnh Đắk Lắk (2013), Báo cáo công tác xét xử năm 2009 đến
năm 2013, Đắk Lắk.

30.

TANDTC-VKSNDTC-BNV-BTC-BQP-BTP (2007), Thông tư liên
tịch số 01/2007/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV-BTC-BQP-BTP ngày
31/01/2007 hướng dẫn thực hiện Quyết định 241/2006/QĐ-TTg ngày
25/10/2006, Hà Nội.

31.

Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định 241/2006/QĐ-TTg ngày
25/10/2006 quy định về chế độ bồi dưỡng phiên tòa, Hà Nội.

32.

Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày
5/10/2012 quy định về chế độ bồi dưỡng phiên tòa, Hà Nội.

33.

Trần Quang Tiệp (2012), Về lời khai người làm chứng trong vụ án hình
sự, Tổng Cục An ninh Bộ Công an, Hà Nội.



Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Bộ
luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Nga, (Tài liệu dịch), Hà Nội.

40.

Viện Sử học (1995), Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Trang Web
41.

http://vnexpress.net., Khởi tố bắt giam Nguyễn Việt Tiến.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status