quyền và nghĩa vụ người làm chứng trong luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 33
(2007 -2011)

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƢỜI LÀM CHỨNG
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN CHÍ HIẾU

TRẦN VĂN Ý
MSSV: 5075163
Lớp : 0765A2 – Tƣ pháp 2 K33

Cần Thơ 2011


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................


SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

Mục Lục

Trang

MỞ ĐẦU................................................................................................................................... 5
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƢỜI LÀM CHỨNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM .... 8
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGƢỜI LÀM CHỨNG VÀ LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CHẾ
ĐỊNH NGƢỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT VIỆT NAM.................................................. 8
1.1.1 Khái niệm ngƣời làm chứng ............................................................................................ 8
1.1.1.1. Theo quan điểm của một số nước trên thế giới............................................................. 8
1.1.1.2. Theo quan điểm của pháp luật Việt Nam..................................................................12
1.1.2.Đặc điểm ngƣời làm chứng theo pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành .......................12
1.1.2.1. Điều kiện để trở thành người làm chứng ....................................................................12
1.1.2.2

Trường hợp không được xem là người làm chứng ...................................................13

1.2 VAI TRÒ NGƢỜI LÀM CHỨNG VÀ LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN QUY ĐỊNH NGƢỜI
LÀM CHỨNG .........................................................................................................................15
1.2.1.
Vai trò của ngƣời làm chứng trong việc giải quyết vụ án hình sự .........................15
1.2.2.

2.1.2.3. Một số quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự không được thực hiện một cách triệt
để đảm bảo quyền và lợi ích của người làm chứng khi tham gia tố tụng. ................................37
2.1.2.4. Những quy định về bảo vệ người làm chứng còn quy định ở nhiều văn bản không
thống nhất: ...............................................................................................................................39
2.2. NGHĨA VỤ VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI LÀM
CHỨNG ...................................................................................................................................40
2.2.1. Nghĩa vụ của ngƣời làm chứng theo quy định pháp luật ............................................40
2.2.1.1. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng: ................................41
2.2.1.2. Khai báo trung thực tất cả các tình tiết mình biết về vụ án: .......................................43
2.2.2. Thực trạng thực hiện nghĩa vụ của ngƣời làm chứng ..................................................44
2.2.2.1. Không có sự tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ của người làm chứng theo quy định
của pháp luật Tố tụng hình sự: ................................................................................................44
2.2.2.2. Người làm chứng tham gia tố tụng chưa thật sự được đảm bảo .................................45
Chƣơng 3
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
NGƢỜI LÀM CHỨNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUY ĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA
VỤ CỦA NGƢỜI LÀM CHỨNG ...........................................................................................49
3.1. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
NGƢỜI LÀM CHỨNG...........................................................................................................49
3.1.1. Nguyên nhân khách quan dẫn đến hạn chế những quy định về ngƣời làm chứng. ....49
3.1.2. Nguyên nhân chủ quan dẫn đến hạn chế các quy định về ngƣời làm chứng. ..............51
3.2. GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO QUY ĐINH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
NGƢỜI LÀM CHỨNG...........................................................................................................52
3.2.1. Theo mô hình của một số nƣớc trên thế giới đã áp dụng. ............................................53
3.2.1.1 Hoa Kỳ (United States of America) ...............................................................................53
3.2.1.2. Australia ......................................................................................................................55
3.2.1.3. Colombia ......................................................................................................................56
3.2.1.4. Đức (Germany) ............................................................................................................57
3.2.1.5. Bảo vệ nhân chứng ở Tòa án hình sự quốc tế. ............................................................59
3.2.2. Theo tình hình kinh tế xã hội và trình độ lập pháp của nƣớc ta..................................64

ngày càng tinh vi và nguy hiểm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức. Hoạt động xét xử
nước ta cũng như ở một số nước trên thế giới hiện nay đang gặp phải những trở ngại
to lớn vì sự tác động của giới tội phạm đối với người làm chứng và thân nhân của họ.
Các hình thức cưỡng bức người làm chứng để họ không hợp tác với các Cơ quan tiến
hành tố tụng thông qua việc trình bày lời khai gian dối, phản cung, không khai báo,…
ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Đứng trước tình hình đó, vấn đề không còn trong
phạm vi một quốc gia, khu vực mà đòi hỏi cả thế giới phải đặt ra vấn đề giải quyết.
Một số nước tiên tiến họ đã ban hành văn bản quy định cũng như chương trình để bảo
vệ người làm chứng, một số nước do điều kiện khách quan cũng như chủ quan nên
việc ban hành các quy định về người làm chứng còn nhiều bất cập, trong công tác áp
dụng pháp luật vào thực tiễn thì còn chưa nghiêm chỉnh. Đòi hỏi cấp thiết đặt ra phải
xây dựng một quy định về người làm chứng cụ thể hơn, hoàn thiện hơn. Đây là vấn đề
cấp thiết cần nghiên cứu và tìm hiểu để góp phần nâng cao địa vị pháp lý người làm
chứng đã hình thành và tồn tại trong xã hội và pháp lý.
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề, khía cạnh trong quy định của pháp luật về
người làm chứng trong giai đoạn từ năm 1945 đến nay và tiêu biểu là từ những quy

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 5

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đến nay. Phân tích hạn chế trong từng
điều luật về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, mang so sánh giữa quyền và

5. Kết cấu nghiên cứu đề tài

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 6

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

Đề tài nghiên cứu tổng thể từ những quy định chung nhất về người làm chứng đến
từng quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng hình sự. Nghiên
cứu ở gốc độ xã hội từ việc áp dụng các quy định tiến bộ về người làm chứng vào
thực tiễn. Tìm hiểu và nghiên cứu một số quy định tiến bộ trên thế giới để đúc kết
kinh nghiệm cho việc xây dựng một quy định độc lập về người làm chứng ở Việt
Nam.
Nội dung nghiên cứu bao gồm ba chương:
-

Chương 1: Khái quát chung về người làm chứng trong pháp luật Việt Nam

-

Chương 2: Quyền, nghĩa vụ và thực trạng bảo vệ quyền và thực hiện nghĩa vụ của
người làm chứng

-


định thành một chương riêng (Chương VI ) trong Bộ luật Tố tụng hình sự Đức. Bất kỳ ai
cũng có thể là nhân chứng, trừ bị cáo và đồng phạm. Chứng cứ nghe nói lại có thể thừa
nhận nhưng phải được thẩm tra một cách thận trọng. Người làm chứng có ba nghĩa vụ
chính: Ra trình diện trước Công tố viên hoặc Thẩm phán; Làm chứng một cách trung
thực (nếu không có đặc quyền từ chối làm chứng) và xác nhận lời làm chứng của mình
bằng cách tuyên thệ trước Thẩm phán (nếu không thuộc trường hợp ngoại lệ không phải
tuyên thệ). Nếu người làm chứng vắng mặt không có lý do chính đáng, họ phải chịu trách
nhiệm trước pháp luât1. Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định hậu quả của việc
người làm chứng vắng mặt. Họ sẽ phải chịu trách nhiệm đối với chi phí do vắng mặt gây
ra, đồng thời phải chịu một khoản tiền phạt bắt buộc. Tùy từng trường hợp mà họ có thể
bị tạm giam hoặc cưỡng chế ra làm chứng lần thứ hai trước Tòa.
Người làm chứng được bảo vệ một số quyền nhất định. Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định nguyên tắc không được phép suy luận bất lợi đối với việc từ chối khai báo của người
1

Bộ Luật Tố tụng hình sự Liên bang Đức – />
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 8

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

làm chứng. Người làm chứng có quyền từ chối làm chứng trong một số trường hợp sau:
Người thân hoặc họ hàng của bị cáo có thể từ chối đưa ra chứng cứ nếu thấy rằng việc đó
có thể dẫn đến xung đột, ảnh hưởng tới việc thực hiện bổn phận đạo đức của họ. Đó là vợ
chồng (kể cả khi hôn nhân không còn tồn tại), vợ chồng chưa cưới và những người trong

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

nhân chứng thường không khước từ việc đưa ra chứng cứ nói chung mà chỉ từ chối trả lời
một số các câu hỏi cụ thể. Trong trường hợp này, việc từ chối trả lời câu hỏi có thể dẫn
đến suy đoán bất lợi cho họ. Do đó, họ phải được thông báo trước về điều đó.
Các nhân chứng phải được thông báo về quyền không khai báo khi bị thẩm vấn và có
thể tự quyết định từ bỏ quyền này, đưa ra chứng cứ. Nếu nhân chứng không được thông
báo về quyền này thì lời khai của họ không được thừa nhận là chứng cứ, trừ khi nhân
chứng biết quyền này và họ quyết định từ chối khai báo. Quyền từ chối khai báo có thể
thực hiện bất cứ thời điểm nào và nhân chứng có thể rút lại quyết định của mình trong
quá trình thẩm tra, khai báo. Những lời khai đưa ra trong giai đoạn xét xử sau khi đã
được cảnh báo trước vê quyền từ chối có thể được sử dụng làm chứng cứ. Tuy nhiên, nếu
tại tòa nhân chứng lại thực hiện quyền từ chối khai báo thì những lời khai trước đó của
nhân chứng với cảnh sát, Thẩm phán tiền xét xử, giám định viên hay tại một phiên xử
trước không được đọc lên tại Tòa (Điều 252). Luật pháp cấm người đã thẩm vấn nhân
chứng vào thời điểm trước đó cung cấp chứng cứ về vấn đề đã hỏi, ngoại trừ Thẩm phán
đã tiến hành thẩm vấn nhân chứng có thể được gọi đến cung cấp chứng cứ về những vấn
điều nhân chứng đó đã khai. Nếu một nhân chứng chỉ từ chối đưa ra chứng cứ tại phiên
tòa thì các lời khai chính thức trước đó của họ được chấp nhận cho dù họ không được
cảnh báo trước về điều đó trong các cuộc thẩm vấn trước đây. Trong trường hợp này,
người đã thẩm vấn nhân chứng có thể được gọi đến Tòa án để cung cấp chứng cứ. Bản
sao biên bản các lời khai trước đó của nhân chứng có thể đọc lên trước Tòa.
Trong quy định người làm chứng của Đức quyền của họ được hưởng rộng hơn so với
quy định của nước ta. Có hai điểm đặc biệt cần lưu ý về người làm chứng trong luật Đức.
Thứ nhất, mọi nhân chứng có nghĩa vụ pháp lý tuyên thệ khi đưa ra chứng cứ, trừ trường
hợp người đó là vị thành niên dưới 16 tuổi, hoặc những người không hiểu hết tầm quan

bởi trát hầu tòa khi đó họ là nhân chứng.
Tìm hiểu pháp luật của nước Cộng hòa Montenegro (Republic of Montenegro), trong
luật Bảo vệ người làm chứng (LAW ON WITNESS PROTECTION) ban hành ngày 25
tháng 10 năm 2004 họ đưa ra khái niệm người làm chứng như sau: Nhân chứng (Witness)
có nghĩa là bất kỳ người nào, bất kỳ điều gì của mình hoặc quan hệ pháp lý trong luật tố
tụng hình sự, họ biết những thông tin về tội phạm hình sự và thủ phạm và tình tiết quan
trọng khác, hoặc khả năng hiểu biết hoặc thông tin quan trọng và cần thiết cho việc
chứng minh các tội phạm hình sự, khi đó sự việc sẽ được phơi bày đặt họ chổ nguy hiểm
cho đời sống, sức khỏe, quyền tự do cá nhân, tự do hoặc tài sản trên quy mô lớn 3. Trong
quan điểm của pháp luật Montenegro họ cũng thừa nhận rằng nhân chứng là người biết
được tình tiết liên quan đến vụ án và cũng không phân biệt về chủ thể “Bất kỳ người
nào”. Đây là điểm chung nhất của các nước về quan điểm người làm chứng trong vụ án
hình sự. Xét trong quan điểm này thì pháp luật nước ta về người làm chứng đã xích gần
2
3

/>Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ nhân chứng của nước Cộng hòa Montenegro năm 2004

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 11

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

với quan điểm chung của thế giới nhưng điều kiện mỗi nước khác nhau nên quyền và
nghĩa vụ của người làm chứng cũng được quy định khác nhau và điều này mang ý nghĩa

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 12

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

Từ khoản 1 điều 55, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, ta thấy, để trở thành người làm
chứng phải có đủ hai điều kiện: phải biết được tình tiết liên quan đến vụ án và phải có
giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này có nghĩa, người làm chứng không
phân biệt giới tính, độ tuổi, không nhất thiết phải là người chứng kiến toàn bộ quá trình
gây án, không nhất thiết phải ở hiện trường vụ án mà chỉ cần biết những tình tiết liên
quan đến vụ án. Vấn đề đặt ra là những tình tiết liên quan đến vụ án là những tình tiết gì,
liên quan như thế nào đến vụ án, hay nói khác hơn những tình tiết gì thì được xem là liên
quan đến vụ án, để làm điều kiện cần để trở thành người làm chứng trong pháp luật Tố
tụng hình sự Việt Nam. Theo tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định những
tình tiết liên quan mà người làm chứng phải trình bày trước cơ quan tiến hành tố tụng
như: trình bày về những gì họ biết về vụ án, nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo,
người bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra.
Tóm lại: Để trở thành người làm chứng phải hội đủ hai điều kiện, điều kiện cần là
phải biết những tình tiết liên quan đến vụ án và điều kiện đủ là phải có giấy triệu tập của
cơ quan tiến hành tố tụng. Một khi hội đủ hai điều kiện trên thì họ được pháp luật công
nhận với tư cách người làm chứng cho vụ án. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ
được pháp luật quy định, tuy họ hội đủ hai điều kiện cần và đủ nêu trên nhưng họ vẫn
không được xem là người làm chứng.
1.1.2.2 Trường hợp không được xem là người làm chứng

chứng khi họ có đủ điều kiện thì liệu lời khai của họ có tính khách quan không, họ
có hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan không hay họ chỉ hướng tới những
gì có lợi cho thân chủ của họ mà thôi.

-

Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận
thức được những tình tiết vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn. Đây
là quy định mà trong nó bao hàm nhiều đối tượng không được pháp luật thừa nhận
họ với tư cách người làm chứng. Đối tượng đầu tiên được luật đề cập đến là người
không có năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng luật hành vi dân sự, mà theo
câu chữ của luật là “người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không
có khả năng nhận thức được những tình tiết vụ án”. Rõ ràng người mất năng lực
hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ đều bị hạn chế quyền
công dân của mình. Trong trường hợp này luật cũng sẽ hạn chế luôn cả quyền trở
thành người làm chứng của họ. Đối tượng thứ hai mà luật đề cập đến là người
không có khả năng khai báo đúng đắn. Điều này có thể hiểu nhóm đối tượng này
bao gồm những người thân thích, những người không có khả năng khai báo đúng
đắn như họ bị đe dọa, ẹp buộc mà lời khai của họ có thể đưa vụ án đi hướng khác
không làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án mà gây khó khăn cho việc giải
quyết vụ án.

Tóm lại: Những đối tượng không theo hướng khách quan nhằm giải quyết vụ án theo
hướng khách quan mà chỉ nhằm mục đích làm giảm tội cho bị can, bị cáo hay vì lợi ích
cá nhân dẫn đến lời khai không đúng sự thật hay những người bị nhược điểm về thể chất

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 14


người làm chứng càng được sử dụng phổ biến bấy nhiêu. Niềm tin vào lời khai của người
làm chứng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án là một phần niềm tin của
con người vào sự công minh, khách quan của hoạt động xét xử. Có thể nói là trong tương
lai dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi nữa, dù máy móc tự động có thể thay thế

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 15

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau đi chăng nữa thì người làm
chứng cùng với lời khai của họ vẫn có vai trò to lớn trong việc xác định sự thật khách
quan trong hoạt động xét xử.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn,
dễ dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải và sử dụng lời khai người làm chứng
nhưng không thể thay thế lời khai của người làm chứng cũng như vai trò của người làm
chứng. Vai trò người làm chứng vẫn là một công cụ không thể thiếu được trong quá trình
làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Ở Liên bang Nga khi thăm dò ý kiến của các
thẩm phán về việc chứng cứ nào mà họ cho là quan trọng nhất trong hoạt động xét xử thì
kết quả trả lời cho thấy lời khai của người làm chứng chiếm vị trí số một, thứ hai là kết
quả giám định và thứ ba là lời khai người bị hại4. Điều này có thể hiểu được bởi lẽ người
làm chứng khác so với người bị hại. Người bị hại là nạn nhân trực tiếp của hành vi phạm
tội nên lời khai của họ có thể phản ánh đậm nét hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan
của họ về các tình tiết của vụ án so với lời khai của người làm chứng. Lời khai của người
bị hại không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn là lời buộc tội,

làm chứng phản cung, thay đổi lời khai ban đầu, làm cho hoạt động xét xử gặp khó khăn
thậm chí bế tắc, kẻ phạm tội đích thực vẫn tiếp tục nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, nhiệm
vụ của tố tụng hình sự không hoàn thành, chân lý khách quan của vụ án không xác định
được.
Thực tiễn xét xử nước ta cũng cho thấy trong nhiều vụ án lớn liên quan đến băng
nhóm xã hội đen như vụ án Phúc bồ, Khánh trắng (Hà Nội), Năm Cam (TP. Hồ Chí
Minh) thì gần như những người làm chứng được tòa án triệu tập đã không có mặt. Gần
đây trong vụ án về tội cố ý gây thương tích Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã hoãn
phiên tòa vì vắng mặt nhiều nhân chứng quan trọng. Trong vụ án bị cáo Nguyễn Minh
Hùng hai lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh kết án tử hình và cả hai lần đều bị Tòa án
phúc thẩm TANDTC hủy án điều tra lại, xung quanh lời kêu oan của bị cáo và hành hạ
nhân chứng6.
Tóm lại: Người làm chứng luôn đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ vụ án,
lời khai của người làm chứng luôn được nhìn nhận như một chứng cứ quan trọng thực
hiện nhiệm vụ làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên vai trò của họ có
được phát huy hay không, có được đảm bảo hay không là tùy vào quy định của pháp luật
của từng quốc gia, từng chế độ xã hội khác nhau. Nếu pháp luật quy định hợp lý sẽ phát
huy hết vai trò của người làm chứng bằng ngược lại sẽ ảnh hưởng đến giải quyết vụ án
làm vụ án kéo dài, làm tội phạm nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, gây thiệt hại cho kinh tế,
thiệt hại ngân sách quốc gia, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Lƣợc sử phát triển quy định ngƣời làm chứng trong pháp luật Tố tụng
Hình sự Việt Nam
Tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của quy định về người làm chứng trong Tố
tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1945 đến nay. Có thể chia thành hai giai
5
6

Xem: Anh: “O Bế” nhân chứng, Báo pháp luật TP.Hồ Chí Minh ngày 16/12/2004.
Tạp Chí Khoa học Luật số 2 (40) -2007


Trong lĩnh vực Tố tụng hình sự, ngày 28 tháng 06 năm 1988 tại Hà Nội Quốc hội ban
hành Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trình
tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Thấu suốt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Bộ luật đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, phát triển nền dân chủ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đề cao vai trò tổ
chức xã hội, công dân trong việc tham gia tố tụng7. Với tinh thần đó vai trò của người
làm chứng trong việc tham gia tố tụng cũng được các nhà làm luật quan tâm đến và quy
định tại điều 43 – Bộ luật tố tụng hình sự 1988. Quy định cụ thể gồm 4 khoản như sau:
7

Lời nói đầu Bộ luật Tố tụng hình sự 1988

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 18

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

1) Người nào biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu
tập đến làm chứng.
2) Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện Kiểm
sát, Tòa án; có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ
án.
3) Những người sau đây không được làm chứng:
a) Người bào chữa cho bị can, bị cáo;
b) Người do có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận

VIỆT NAM

của pháp luật (Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003). Đây là tín hiệu đáng mừng về sự
thay đổi tư duy lập pháp về người làm chứng, dần dần thừa nhận vai trò của họ trong việc
đấu tranh chống tội phạm. Tuy nhiên khi phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự 2003 thì chúng ta có thể thấy được sự không tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của người làm chứng. Nghĩa vụ của người làm chứng nhiều và nặng hơn rất nhiều so
với quyền và lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng mặc dù họ có vai trò quan trọng trong
việc giải quyết vụ án. Người làm chứng có thể bị dẫn giải nếu vắng mặt không có lý do
chính đáng và gây khó khăn trở ngại cho việc điều tra, xét xử. Nếu từ chối hoặc trốn
tránh khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều
308 Bộ luật Hình sự, nếu khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều
307 Bộ luật Hình sự. Nói một cách chính xác thì người làm chứng không được hưởng
một lợi ích vật chất hay tinh thần nào khi tham gia tố tụng. Các quyền mà Bộ luật Tố tụng
hình sự thừa nhận cho người làm chứng chỉ là quyền yêu cầu được bù đắp những thiệt
thòi mất mát hoặc ngăn chặn những mất mát, tổn thất có thể xảy ra đối với họ liên quan
đến sự hợp tác của họ với cơ quan tiến hành tố tụng. Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 chưa
tạo ra được cơ sở pháp lý phù hợp để khuyến khích người làm chứng tích cực thực hiện
nghĩa vụ công dân của mình, hợp tác với Nhà nước trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm
và xác lập chân lý vụ án.
Tóm lại: Quy định pháp luật Việt Nam về người làm chứng từ sau Cách mạng tháng
Tám đã được kế thừa và phát triển thành quy định được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng
hình sự 1988. Do bước đầu hội nhập, nền kinh tế - xã hội chưa biến động lớn, tư duy lập
pháp chưa phát triển nên quy định chỉ mang nặng nghĩa vụ không thừa nhận bất kì quyền
nào của họ. Nền kinh tế - xã hội dần dần thay đổi theo thời đại mới, tư duy lập pháp cũng
phát triển theo sự hội nhập của quốc gia. Các quy định pháp luật trước đây không còn
phù hợp tuyệt đối các quan hệ xã hội, một lần nữa quy định về người làm chứng được sửa
đổi bổ sung và ghi nhận tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Ở quy định này các
nhà lập pháp đã nhận thấy vai trò của người làm chứng trong việc giải quyết vụ án hình
sự. Để khuyến khích người làm chứng tích cực tham gia tố tụng không cách gì khác hơn


Cả hai quy định đều được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự. Quy định người
làm chứng được cụ thể tại Điều 55 của Bộ luật này. Còn quy định về tố giác tội
phạm được quy định “Tố giác, tin báo tội phạm, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
có dấu hiệu tội phạm được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự” 8.
Như vậy cả hai quy định được điều chỉnh chung bởi một ngành luật độc lập, hay
nói khác hơn cả hai điều có chung phương pháp điều chỉnh và đối tượng điều
chỉnh. Đây là điểm tương đồng dễ nhận thấy nhất của người làm chứng và người
tố giác tội phạm.

-

Người tố giác tội phạm là người biết được có hành vi mà theo họ là hành vi phạm
tội, báo cho cơ quan chức năng biết và tiến hành các giai đoạn tố tụng tiếp theo.

8

Khoản 2 điều 1 Dự thảo lần 5 Luật Tố cáo năm 2010

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 21

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

Nếu tin báo tội phạm là có căn cứ hay có hành vi phạm tội xảy ra thì lúc này người

người tố giác tội phạm là người nhìn thấy hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà
theo họ là hành vi phạm tội, họ đến cơ quan chức năng tố giác, lúc này họ có tư

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

Trang 22

SVTH: Trần Văn Ý


QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM

cách là người tố giác tội phạm. Còn người làm chứng là người không nhất thiết
phải có mặt tại hiện trường vụ án mà chỉ cần họ biết những tình tiết về nhân thân
bị can, bị cáo hay bị hại; những tình tiết liên quan vụ án và cần phải có giấy triệu
tập của cơ quan tiến hành tố tụng khi đó họ mới có tư cách của người làm chứng
trong vụ án hình sự. Người tố giác tội phạm không bị giới hạn về chủ thể “công
dân” có thể tố giác tội phạm không có trường hợp ngoại lệ. Riêng người làm
chứng luật lại thừa nhận ngoại lệ về chủ thể, trường hợp không được xem là người
làm chứng : người bào chữa của bị can, bị cáo; người có nhược điểm về tâm thần
hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án
hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn 9. Do tính cần thiết nên luật quy định
có sự phân biệt về chủ thể để nhận thấy được đâu là người làm chứng đâu là người
tố giác tội phạm bởi họ có địa vị pháp lý riêng và thể hiện vai trò riêng.
-

Xét về địa vị pháp lý trong tham gia tố tụng: Người tố giác tội phạm chỉ thực hiện
quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc đấu tranh chống tội phạm. Pháp
luật không thừa nhận họ như một chủ thể tố tụng, không quy định họ được hưởng


Xét về vai trò trong hoạt động tố tụng: trong quá trình tố tụng mỗi chủ thể luôn
đóng vai trò nhất định. Với tư cách là người tham gia tố tụng nhưng người làm
chứng có vai trò quan trọng đặc biệt so với các chủ thể tham gia tố tụng khác.
Pháp luật thừa nhận vai trò của người làm chứng là làm cho vụ án giải quyết
nhanh hơn, chính xác hơn, hướng tới sự thật khách quan hơn. Cho dù họ làm
chứng cho bị can, bị cáo hay bị hại thì lời khai của họ đều hướng đến một sự thật
khách quan nhất vì vậy pháp luật tố tụng hình sự nước ta thừa nhận rằng lời khai
người làm chứng là chứng cứ10. Có thể là chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội cho bị can
bị cáo, tuy nhiên đây là căn cứ để xem xét giải quyết vụ án. Nếu Tòa án đảm bảo
xét xử theo hướng tranh tụng bấy nhiêu thì vai trò người làm chứng nâng lên bấy
nhiêu. Tuy không phải là chủ thể của tố tụng nhưng người tố giác tội phạm đóng
vai trò quan trọng riêng của nó. Do tham gia trước các giai đoạn tố tụng nên người
tố giác tội phạm là cơ sở để giai đoạn đầu tiên của tố tụng diễn ra, hay nói khác
hơn tố giác của công dân là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự 11. Tố giác tội phạm
của công dân là tiền đề cho việc diễn ra giai đoạn tố tụng đầu tiên, quan trong nhất
của cả quá trình tố tụng. Giai đoạn trước quyết định giai đoạn sau, không có giai
đoạn trước cũng đồng nghĩa các giai đoạn sau cũng không có. Nếu không có căn
cứ khởi tố thì không có vụ án xảy ra, hay nói cụ thể hơn : không có tố giác của
công dân; không có tin báo của cơ quan, tổ chức; không có tin báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng; không phát hiện ra dấu hiệu tội phạm; không có
người phạm tội đầu thú thì sẽ không có khởi tố không có người tham gia tố tụng,
không có người làm chứng.

Tóm lại: hai quy định về người làm chứng và người tố giác tội phạm là hai quy định
riêng biệt nhau. Tuy mang những nét tương đồng song chúng cũng mang những nét khác
10
11

Điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status