I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
INH HI NINH
QUYềN Và NGHĩA Vụ PHáP Lý CủA NGƯờI Bị BUộC TộI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
INH HI NINH
QUYềN Và NGHĩA Vụ PHáP Lý CủA NGƯờI Bị BUộC TộI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS PHNG TH VC
H NI - 2017
vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. .................. 9
1.1.1.
Khái niệm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự ........................................................................... 9
1.1.2.
Cơ sở của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị
buộc tội trong tố tụng hình sự ........................................................... 15
1.1.3.
Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị
buộc tội trong tố tụng hình sự............................................................. 16
1.2.
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong Luật
pháp quốc tế..................................................................................... 18
1.3.
Sơ lược quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội
trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ ........ 21
1.3.2.
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong giai đoạn
Quyền và nghĩa vụ của bị can ........................................................... 42
2.1.5.
Quyền và nghĩa vụ của bị cáo ........................................................... 50
2.2.
Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của người bị buộc tội ................................................................. 55
2.3.
Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân khó khăn hạn
chế trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về
quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội ...................................... 65
2.3.1.
Những khó khăn, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật tố
tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội ................... 65
2.3.2.
Nguyên nhân khó khăn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp
luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội ..... 67
Chương 3: BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ QUYỀN
VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI VÀ
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CHXHCN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CQĐT
Cơ quan điều tra
KSV
Kiểm sát viên
TAND
Toà án nhân dân
TTHS
Tố tụng hình sự
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 được Quốc hội Khoá
XIII thông qua ngày 28/11/2013 và đã có hiệu lực ngày 01/01/2014. Có thể
nói Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân, là sự kết tinh của
tinh thần dân chủ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu
cầu xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ đổi mới. Một trong những
dấu son đáng chú ý nhất của Hiến pháp năm 2013 là việc đã ghi nhận quyền
con người, cùng với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể nói,
quyền con người và bảo đảm quyền con người luôn là một trong những vấn
đề được Thế giới nói chung và nhà nước Việt Nam nói riêng quan tâm hoàn
thiện, đặc biệt là quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.
Hoạt động tố tụng hình sự là nơi quyền lực nhà nước được thể hiện rõ
ràng nhất thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự; cũng chính là nơi
quyền con người dễ bị xâm hại nhất. Vì lý do đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy
định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật” [37, Điều 31]. Trong pháp luật hình sự quốc tế, thuật ngữ người bị
buộc tội là một khái niệm đã tồn tại từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên thuật
ngữ này được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam. Nói như vậy không có
nghĩa là thuật ngữ người bị buộc tội là hoàn toàn mới trong pháp luật tố tụng
hình sự nước ta, bởi nội hàm của thuật ngữ này đã được thể hiện rất nhiều qua
các chế định về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, vẫn
chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách cụ thể,
đầy đủ và chính xác thuật ngữ người bị buộc tội, làm rõ người bị buộc tội là
những chủ thể nào, quyền và nghĩa vụ của họ ra sao.
1
2
2. Tình hình nghiên cứu
Chế định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội là một chế
định quan trọng, có liên quan chặt chẽ và mật thiết với nhiều chế định khác
trong luật tố tụng hình sự.
Trước hết, chế định này được ghi nhận trong hầu hết trong luật tố tụng
hình sự của các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, từ khi BLTTHS năm 1988 ra
đời, nội hàm của chế định này cũng được ghi nhận một cách khá đầy đủ thông
qua các chế định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
các trường hợp bắt người.
Người bị buộc tội được coi là chủ thể chính trong tố tụng hình sự, là
những người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ rất dễ bị xâm phạm bởi
các chủ thể quyền lực nhà nước. Chính vì vậy nên đã có rất nhiều công trình
khoa học quan tâm đến vấn đề bảo vệ quyền của những người này. Có thể kể
đến: cuốn sách Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 1999 của Luật sư, PGS.TS Phạm Hồng Hải [17]; cuốn
sách Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 của TS. Trần
Quang Tiệp [46].
Bên cạnh đó, có rất nhiều khía cạnh có liên quan đến quyền của người
bị buộc tội được đề cập đến trong các công trình khoa học khác như: Luận
văn thạc sĩ luật học Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
tố tụng hình sự của Th.S Đoàn Thị Phương Thảo, 2012 [43]; Luận án tiến sĩ
luật học Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
tố tụng hình sự Việt Nam của T.S Lại Văn Trình, 2010 [48]; Luận văn tiến sĩ luật
học Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam của T.S Nguyễn
Quang Hiền, 2008 [19]; Luận văn tiến sĩ luật học Đảm bảo quyền con người trong
hoạt động tư pháp ở Việt Nam của T.S Nguyễn Huy Hoàng, 2005 [21]; Đề tài
Nam, Nxb Học viện cảnh sát nhân dân, 2005 của Bộ môn pháp luật, Học viện
4
Cảnh sát nhân dân do TS. Khổng Văn Hà chủ biên [22]; Sách chuyên khảo
Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb. ĐHQG
TP.HCM, 2010 do TS Võ Thị Kim Oanh chủ biên [29]...
Tuy nhiên hiện nay các công trình nghiên cứu chỉ chủ yếu chú trọng đến
vấn đề quyền bào chữa hoặc nghiên cứu quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị
cáo, địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà ít quan tâm đến toàn
bộ người bị buộc tội; đặc biệt là chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách tổng thể cả quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội ở cấp độ luận
văn thạc sĩ. Hơn nữa, nhiều vấn đề lý luận – thực tiễn xung quanh chế định
quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội cũng đòi hỏi cần phải được tiếp
tục nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Kế thừa một cách có chọn lọc kết
quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố, tác giả hướng
tới mục đích muốn làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về
quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội theo BLTTHS hiện hành, chỉ
ra những bất cấp còn tồn tại khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị
buộc tội ở nước ta hiện nay. Qua đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa
tính dân chủ, chính xác, khách quan, toàn diện trong hoạt động TTHS, đảm
bảo xu hướng bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật pháp quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Với mục đích nghiên cứu như
trên, tác giả tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
a. Làm rõ khái niệm người bị buộc tội, khái niệm quyền và nghĩa vụ
pháp lý của người bị buộc tội.
quyền, về cải cách tư pháp và quyền con người.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên các số
6
liệu liên quan đến quá trình điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử các cơ quan tiến
hành tố tụng tại thành phố Hà Nội. Ngoài ra, tác giả còn tự nghiên cứu các hồ
sơ vụ án để làm cơ sở đề xuất các giải pháp.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phân tích, tổng hợp, lịch
sử, so sánh, thống kê... Ngoài ra tác giả cũng khảo sát thực tiễn tố tụng và
tham khảo ý kiến chuyên gia để làm rõ các vấn đề nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận về người bị buộc
tội, quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam hiện hành và qua các thời kỳ.
Luận văn đã đi vào phân tích quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị
buộc tội theo quy định BLTTHS Việt Nam hiện hành.
Luận văn đã chỉ ra được các vấn đề, những khó khăn, vướng mắc trong
việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố
tụng hình sự hiện hành.
Luận văn đã chỉ ra những điểm mới của BLTTHS Việt Nam năm 2015
về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội.
Luận văn đã đưa ra được các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật, nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của BLTTHS, góp phần
bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học cấp độ thạc sĩ về quyền và
nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Luận văn đi sâu
nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội;
1.1.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự
Chúng ta đang trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một nhà nước mà quyền
con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và luôn được Nhà
nước bảo vệ. Có thể nói, quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả
xâm phạm, nó tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong
lĩnh vực tố tụng hình sự - nơi mà quyền con người dễ bị xâm hại nhất. Chính vì
lý do đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng và ghi nhận các quyền và nghĩa vụ
của những người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các BLTTHS năm
1988, BLTTHS năm 2003 và mới đây nhất là BLTTHS năm 2015.
Trước hết, theo nghĩa phổ thông, quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội
công nhận cho được hưởng, được làm của mỗi chủ thể. Theo nghĩa pháp lý,
quyền là khả năng được tự do lựa chọn hành động, khả năng này do Hiến pháp
và pháp luật ghi nhận. Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện,
không có giá trị bắt buộc. Còn nghĩa vụ là điều mà pháp luật hoặc xã hội bắt
buộc mỗi chủ thể phải làm, nghĩa vụ không phải là khả năng lựa chọn mà là sự
bắt buộc thực hiện. Các quyền và nghĩa vụ này được pháp luật bảo vệ cũng như
có các biện pháp cưỡng chế nếu chủ thể pháp luật không thực hiện hoặc vi
phạm. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Quyền
công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” [37, Điều 15]. Tổng hợp các
quyền và nghĩa vụ pháp lý tạo nên địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật.
9
Trước khi đưa ra khái niệm cụ thể về quyền và nghĩa vụ pháp lý của
người bị buộc tội, ta cũng cần phải hiểu thế nào là người bị buộc tội. Thuật
ngữ người bị buộc tội lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp nước CHXHCN
Việt Nam năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, trong thực tế, khi một người bị
bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo lệnh truy nã thì có nghĩa
là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã có các căn cứ để
buộc tội những người này, đồng thời họ cũng là những người yếu thế, dễ bị
tổn thương trong TTHS. Chính vì vậy, cần phải coi cả người bị bắt là một
trong những loại người bị buộc tội. Thêm vào đó, trong BLTTHS năm 2015,
thuật ngữ người bị buộc tội đã được diễn giải như sau: “Người bị buộc
tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” [38,Điều 4]. Người
bị buộc tội là người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ
án, đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế của
tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan vụ án. Những người này
có thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và theo qui định của
pháp luật họ chưa bị coi là người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi
phạm tội. Vậy để làm rõ khái niệm người bị buộc tội, trước hết, ta cần đi vào
tìm hiểu các khái niệm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- Người bị bắt: Cả BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều
không coi người bị bắt là người tham gia tố tụng. Chính bởi thế, cả hai bộ luật
này đểu không có khái niệm người bị bắt mà chỉ liệt kê những trường hợp bắt
người, đó là: BLTTHS năm 1988 quy định người bị bắt trong những trường
hợp sau: người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường
hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; BLTTHS năm 2003 quy định
người bị bắt trong những trường hợp sau: người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết
định truy nã.
11
Đến khi BLTTHS năm 2015 ra đời, đã coi người bị bắt là một trong
những chủ thể người tham gia tố tụng (khoản 4 Điều 55). BLTTHS năm 2015
bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với
họ đã có quyết định tạm giữ” [38, Điều 59]. So với BLTTHS năm 2003, khái
niệm này về cơ bản không có gì khác, có chăng chỉ là khác về cách phân loại
người bị bắt và người bị giữ.
Ngoài ra, theo quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015,
người bị tạm giữ còn được định nghĩa là người đang bị quản lý tại cơ sở giam
giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của BLTTHS
(khoản 1, Điều 3).
Tuy nhiên, các khái niệm nêu trên về người bị tạm giữ cũng chỉ được
định nghĩa theo phương pháp liệt kê, chưa có định nghĩa khoa học mang đầy
đủ nội hàm vấn đề. Cụ thể là: Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự là người
bị tình nghi là tội phạm và với họ cần cách ly với xã hội trong một thời gian
cần thiết nhằm ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác
định sự liên quan của người đó đối với tội phạm.
- Bị can: Thuật ngữ bị can được sử dụng lần đầu tiên trong Sắc lệnh số
13 ngày 21/0/1946 về tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán. Tuy nhiên trong
Sắc lệnh chỉ đề cập đến bị can như là can phạm hay người bị Tòa án xét xử
chứ không hề định nghĩa rõ ràng người như thế nào thì được gọi là bị can.
Phải đến khi BLTTHS năm 1988 ra đời, thuật ngữ pháp lý về bị can mới
chính thức được ghi nhận. Theo quy định của BLTTHS năm 1988: “Bị can là
người đã bị khởi tố về hình sự” [34, Điều 34]. Kế thừa BLTTHS năm 1988,
BLTTHS năm 2003 tiếp tục ghi nhận: “Bị can là người đã bị khởi tố về hình
sự” [36, Điều 49].
Khái niệm bị can trong BLTTHS năm 2015 có điểm mới so với các Bộ
luật trước đây, đó là việc ghi nhận bị can là pháp nhân như sau: “Bị can là
người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là
13
và nghĩa vụ của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được Nhà nước
quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Đó là các việc mà người bị buộc tội
phải làm hoặc được làm và những việc mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải
làm với họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự.
1.1.2. Cơ sở của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người
bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Cơ sở của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc
tội trong tố tụng hình sự bắt nguồn từ việc bảo đảm thực hiện quyền con
người. Hiện nay, quyền con người là một trong những vấn đề được quốc tế
quan tâm và bảo vệ. Trong mỗi quốc gia, quyền con người lại có những giới
hạn và được bảo đảm theo những cách khác nhau. Trong nhà nước CHXHCN
Việt Nam, quyền con người luôn được nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Không
những vậy, không chỉ quyền con người, nhà nước ta đã và đang hoàn thiện
quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Quyền và
nghĩa vụ của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng được quy
định dựa trên những cơ sở của Hiến pháp và pháp luật về quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân.
Việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội còn dựa
trên những quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người đã được cả thế giới công
nhận. Đó là sự tự do, sự công bằng, sự bình đẳng cho tất cả mọi người, ai
cũng có quyền được đối xử trong tình bằng hữu như tại Điều 1, Tuyên ngôn
thế giới về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Mọi người sinh ra tự do và
bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với
nhau trong tình bác ái”.
Việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội còn có cơ
15
16
nhận đó, các nhà làm luật có thể tìm ra các biện pháp để hoàn thiện pháp luật,
áp dụng pháp luật, đảm bảo tính ứng dụng trong thực tiễn của pháp luật.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý
của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi
trong thực tiễn tố tụng hình sự hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc
khi quyền của những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không
được bảo đảm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước mà
còn gây ra tâm lý không tin tưởng vào pháp luật của người dân.
Thêm vào đó, việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong thực tế còn là việc đảm bảo cam kết về thực
thi quyền con người theo các Điều ước Quốc tế hiện nay.
Không chỉ có vậy, việc xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị
buộc tội còn tránh sự xâm hại từ phía các cơ quan tố tụng, góp phần định
hướng và chỉ đạo cho những người thực thi pháp luật, tránh những sai sót, vi
phạm quyền con người, đảm bảo sự khách quan, thận trọng trong việc nhận
thức vụ án hình sự một cách khoa học, không làm oan người vô tội, không
làm bỏ lọt tội phạm.
Ngoài ra việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội
còn có ý nghĩa trong ngăn chặn kịp thời tội phạm, phòng ngừa tội phạm. Đây
là một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tố tụng hình sự, bởi vì người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tuy chưa bị coi là có tội nhưng họ có thể là
người đã thực hiện hành vi phạm tội, nếu không có những biện pháp ngăn
chặn thì rất có thể hậu quả tiêu cực cho xã hội vẫn sẽ tiếp tục tiếp diễn. Việc
ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm còn có ý nghĩa tạo lòng tin trong nhân dân
về một Nhà nước pháp quyền, nơi pháp luật luôn tồn tại và công minh.
Ý nghĩa chính trị xã hội: Việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý
của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự có ý nghĩa trong việc bảo đảm
phí v.v… “Về cơ bản, các quyền này được ghi nhận trong Công ước quốc tế
18