Chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội) - Pdf 62

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ HUY

CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC
TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - năm 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ HUY
CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC
TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
MÃ SỐ:

8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG
VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN LẠM DỤNG
TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN ........................................................ 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm chứng minh trong vụ án hình sự .......................... 7
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 7
1.1.2. Đặc điểm ............................................................................................... 11
1.1.2.1. Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh ................................... 11
1.1.2.2. Đối tượng chứng minh ....................................................................... 14
1.1.2.3. Quá trình chứng minh ........................................................................ 16
1.2. Chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.. ..... 18
1.2.1. Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh vụ án lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản ............................................................................................ 20
1.2.2. Đối tượng chứng minh vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản..22
1.2.3. Quá trình chứng minh vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản....32
Kết luận chƣơng 1. ........................................................................................ 36
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
NĂM 2015 VÀ THỰC TRẠNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN CƠ SỞ THỰC
TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................... 37
2.1. Quy định Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 về chứng minh
trong vụ án hình sự ........................................................................................ 37
2.1.1. Quy định về chủ thể chứng minh ......................................................... 37
2.1.2. Quy định về nghĩa vụ chứng minh ....................................................... 38


2.1.3. Quy định về đối tượng chứng minh ..................................................... 40
2.1.4. Quy định về quá trình chứng minh ...................................................... 47
2.2 .Thực trạng chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. .............................................................. 52
2.2.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 52

Cơ quan tiến hành tố tụng

CQTHTT

Cơ quan điều tra
Tòa án

CQĐT
TA

Viện kiểm sát

VKS

Điều tra viên

ĐTV

Kiểm sát viên

KSV

Tố tụng hình sự

TTHS

Tiến hành tố tụng

THTT


có nhiều biện pháp, trong đó có ban hành Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
năm 2015, đáp ứng được nhu cầu cấp thiết đặt ra trong việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được quy định tại Điều 51 Hiến pháp năm 2013, hướng tới nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Đây là hệ thống kinh tế hoàn toàn mới
nên thực tế hiện nay đã và đang xảy ra nhiều vụ việc có dấu hiệu hình sự về
tội phạm kinh tế, tội phạm xâm phạm sở hữu, trong đó có hành vi lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngay từ khâu tiếp nhận phân loại đầu vào tố
giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản đã có nhiều vụ việc tính chất phức tạp, có tổ chức, chặt chẽ, có
tính đồng phạm cao, có sự móc nối liên hệ phạm tội bằng các phương tiện
thông tin liên lạc hiện đại... gây không ít khó khăn cho người tiến hành tố
tụng (THTT), Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT). Việc chứng minh trong
VAHS là trách nhiệm của CQTHTT, người THTT để xác định chính xác tội
danh của người thực hiện hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm
oan người vô tội. Pháp luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội
chủ quan, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi
phạm tội chỉ được thực hiện khi có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Đồng
thời, BLTTHS Việt Nam đã có quy định về các nguyên tắc cơ bản, về chứng
minh và chứng cứ một cách rõ ràng, chặt chẽ theo một trình tự thủ tục tố tụng
nghiệm ngặt. Qua đó, các CQTHTT và người THTT phải tuân theo nhưng
1


không ít vụ việc khi tiếp nhận lại xác định, phân loại chưa đúng nên còn để
xảy bỏ lọt tội phạm. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc chứng minh trong vụ án
chưa khách quan, đầy đủ, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nguyên tắc theo quy định, nhận định, đánh giá chứng cứ chứng minh của

năm trở lại đây, đạt được nhiều kết quả nổi bật [5]. Sự phát triển kinh tế - xã
hội của thành phố Hà Nội mạnh mẽ đi liền với đó là các hiện tượng tiêu cực,
hành vi lệch chuẩn, mà đặc biệt là diễn biến hành vi có dấu hiệu tội phạm lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng phức tạp, đa dạng nhất cả nước. Do
đó, CQTHTT cần phải nhận diện đúng hành vi phạm tội để áp dụng pháp luật
một cách đúng đắn, khách quan, đầy đủ và chính xác là vô cùng quan trọng.
Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu, xác định một cách hệ thống về mặt lý
luận, thực tiễn về chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản trên địa bàn thành phố Hà nội, trên cơ sở đó giải quyết những vướng mắc
mà thực tiễn đặt ra, đề xuất những phương hướng nhằm tăng cường hiệu quả
hoạt động của người THTT, CQTHTT trong quá trình chứng minh tội phạm,
bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án là vấn đề mang tính cấp bách,
có ý nghĩa quan trọng đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần làm rõ cơ
sở lý luận và pháp lý cho công tác định tội danh trong thực tiễn thời gian tới.
Vì vậy, tác giải chọn đề tài “Chứng minh trong vụ án lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở
thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” làm đề tài nghiên cứu, bảo vệ luận
văn thạc sĩ, nhằm giải quyết những vấn đề cấp thiết nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, dưới góc độ pháp lý hình sự, vấn đề nghiên cứu trực tiếp
hay gián tiếp về chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản theo luật TTHS Việt Nam như:
1/ GS - TSKH Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các
giai đoạn tố tụng”, Tạp chí Luật học.
2/ GS - TSKH Lê Cảm và PGS.TS Trịnh Quốc Toản (2004), “Định tội
danh, Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành”, Khoa Luật, Đại học
quốc gia Hà Nội.
3





tụng có quá trình chứng minh tìm ra sự thật khách quan của VAHS, từ đó đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của CQTHTT trong chứng
minh tội phạm.
- Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, khái niệm,
chủ thể, nghĩa vụ chứng minh, đối tượng chứng minh và quá trình chứng
minh trong vụ án hình sự theo luật TTHS Việt Nam; chứng minh trong vụ án
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản luật.
+ Nghiên cứu thực tiễn các quy định luật TTHS về chứng minh trong vụ án
hình sự, trên cơ sở số liệu tại địa bàn thành phố Hà Nội để phân tích, làm rõ
hạn chế, nguyên nhân. Các yêu cầu, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của CQTHTT khi chứng minh vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Bao gồm một số vấn đề lý luận, quy
định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về
chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đề tài này dưới góc độ luật tố
tụng hình sự năm 2015, nghiên cứu việc thực hiện quy định liên quan trong
khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài, cần sử dụng phương pháp nghiên cứu luật
học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp; so sánh, đối chiếu;
diễn dịch; phương pháp quy nạp; thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp
các tri thức khoa học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
6. Những điểm mới và ý nghĩa của luận văn

địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương III: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trong
vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
6


CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm chứng minh trong vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam đóng vai trò và ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự ở Việt Nam, có nhiệm vụ
bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm
tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật,
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nội dung của BLTTHS quy định
trình tự, thủ tục từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các CQTHTT; nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của những người THTT; quyền và nghĩa vụ của những
người tham gia tố tụng (TGTT), của các cơ quan, tổ chức và công dân; ….
Với hệ thống các nguyên tắc trong BLTTHS là những phương châm,
định hướng chi phối, điều chỉnh tất cả hoạt động TTHS. Tính định hướng,
điều chỉnh của nguyên tắc thể hiện ở tính bắt buộc phải tuân thủ của các chủ
thể tố tụng mà đặc biệt là CQTHTT, người THTT. Các chủ thể đều có nghĩa
vụ nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật TTHS, thực hiện thẩm
quyền, quyền hạn; tuân thủ các nguyên tắc đã được pháp luật quy định. Theo

việc phạm tội đã xảy ra. Theo đó, những người THTT phải áp dụng các biện
pháp khác nhau mà pháp luật cho phép theo một trình tự thủ tục nhất định để
phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, nhận định, đánh giá các thông tin mà
sự việc phạm tội để lại trong thế giới khách quan dưới hai hình thức phản ánh
trong môi trường vật chất và cả bên trong ý thức của con người.
Chứng minh trong VAHS phải tuân thủ những quy luật chung của quá
trình nhận thức mà chủ nghĩa Mác -Lênin đã chỉ ra, đó là “từ trực quan sinh
8


động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [21,
Tr.266] đó là con đường nhận thức hiện thực khách quan. Trong thế giới
khách quan, không có gì là con người không nhận thức được, mà chỉ có
những cái con người chưa nhận thức được nhưng dần dần cũng sẽ nhận thức
được. Vụ án hình sự là sự kiện, vật chất tồn tại khách quan, tồn tại biện chứng
với sự vật khác trong thế giới khách quan, tuân theo quy luật của thế giới
khách quan. Chứng minh trong VAHS là quá trình nhận thức về sự kiện phạm
tội đã xảy ra trong quá khứ của CQTHTT thông qua việc phát hiện, thu thập,
bảo quản, kiểm tra, nhận định đánh giá các thông tin mà sự việc phạm tội để
lại trong thế giới vật chất và cả trong ý thức của người biết về sự việc phạm
tội. Quá trình này diễn ra theo một trình tự được BLTTHS quy định giúp
CQTHTT “xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành
vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng
đắn vụ án”[23]. Như vậy, chứng minh trong VAHS là quá trình khôi phục lại
sự thật khách quan của vụ án, là quá trình nhận thức sự thật khách quan và
xác định sự đồng nhất giữa sự vật hiện tượng này, có mối quan hệ giữa sự vật
hiện tượng trong VAHS đã xảy ra với các đối tượng nhất định, ngoài ra còn
phải xác định về sự vật, hiện tượng sẽ xảy ra hoặc có thể sẽ xảy ra.
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà
Nội định nghĩa chứng minh trong TTHS là: “quá trình các chủ thể của TTHS

nhau tương đối mà vẫn đòi hỏi phải tuân theo quy định của BLTTHS.
Từ những nhận định như trên, theo quan điểm của chúng tôi: “Chứng
minh trong VAHS là hoạt động các chủ thể TTHS trên cơ sở quy định của
pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, nhận định,
đánh giá chứng cứ và từ đó làm cơ sở để xác định tội phạm, người thực hiện
hành vi phạm tội và toàn bộ các vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến
vụ án nhằm làm rõ sự phù hợp giữa thực tế khách quan với các dấu hiệu cấu
thành tội phạm theo quy định của BLHS”.
Khái niệm này đã chỉ ra những thuộc tính cơ bản của chứng minh trong
VAHS của các chủ thể trên cơ sở pháp luật TTHS để làm sáng tỏ sự thật
khách quan, đảm bảo tính công bằng, chính xác.
10


1.1.2. Đặc điểm
1.1.2.1. Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh
Chủ thể chứng minh: Hệ thống tố tụng của nước ta có sự kết hợp giữa
hệ thống tố tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng thẩm vấn, nhưng chủ yếu về
mô hình tố tụng thẩm vấn[12], căn cứ vào vai trò của các chủ thể đối với hoạt
động tố tụng để phân các chủ thể thanh hai nhóm:
- Chủ thể THTT: Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), TA.
- Chủ thể TGTT: Người bị buộc tội, người bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm
chứng, người chứng kiến, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, người giám
định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, người bào
chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị
tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật.
Theo TS. Nguyễn Đức Mai việc phân loại các chủ thể của nước ta
không chỉ mâu thuẫn với nguyên tắc tranh tụng, gây sự nhầm lẫn trong việc
xác định tư cách tố tụng tại phiên tòa, trách nhiệm chứng minh tội phạm giữa

cho người được họ bảo vệ. Trong trường hợp này, TA giữ vai trò trọng tài, chỉ
có nhiệm vụ xét xử, đưa ra phán quyết như mô hình tố tụng tranh tụng.
Vì vậy, theo chúng tôi, chủ thể chứng minh thường được phân chia làm
hai nhóm chính theo mục đích, đó là “nhóm chủ thể chứng minh để buộc tội”
và “nhóm chủ thể chứng minh để gỡ tội”. Tuy nhiên, với đề tài chứng minh
trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì chúng tôi chỉ đi sâu
phân tích về chứng minh của “nhóm chủ thể chứng minh để buộc tội”, đặc
biệt là nghĩa vụ chứng minh của CQTHTT.
Nghĩa vụ chứng minh: Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa,
nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS còn có hai quan điểm
khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trách nhiệm này là trách nhiệm buộc
tội nên chủ thể là VKS với tư cách là cơ quan thực hành quyền công tố.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Nghĩa vụ chứng minh là nghĩa vụ bảo vệ
quan điểm do mình đưa ra, nghĩa vụ tạo điều kiện cho việc xác định chân lý
12


vụ án nên nghĩa vụ không chỉ thuộc về CQĐT, VKS mà còn cả những người
TGTT nữa.
Quan hệ tố tụng trong việc truy cứu TNHS thực chất là quan hệ giữa
một bên là Nhà nước và một bên là người phạm tội. Khi tội phạm được thực
hiện, Nhà nước có quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội và người
phạm tội phải chịu TNHS. Vì vậy, để người phạm tội phải chịu hậu quả pháp
lý của việc thực hiện hành vi phạm tội của mình thì Nhà nước phải có trách
nhiệm chứng minh rằng người đó đã có hành vi phạm tội.
Để làm sáng tỏ VAHS, ngoài nghĩa vụ chứng minh của các CQTHTT,
đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những người TGTT và các chủ thể khác.
Tuy nhiên, sự tham gia của các chủ thể này không phải là họ có trách nhiệm
chứng minh vụ án mà là họ có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, thông tin

được khoa học luật TTHS của hầu hết các quốc gia trên thế giới coi là một
trong những nội dung cơ bản của pháp luật về chứng cứ. Những dấu hiệu bắt
buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm cũng là những vấn đề phải
chứng minh trong bất kỳ VAHS:
- Dấu hiệu khách thể của tội phạm.
- Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm.
- Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm.
- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể
của tội phạm.
Ngoài những dấu hiệu bắt buộc phải có nói trên, những dấu hiệu khác
tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các cấu thành tội phạm, nhưng
có thể là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cụ thể, vì vậy chúng
có thể là những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Ví dụ: Đối với tội trộm
cắp tài sản, biểu hiện của người phạm tội cần phải chứng minh dứt khoát phải
là hành vi lén lút; Trong vụ án mà người phạm tội mới có hành vi chuẩn bị
phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì bị phát
hiện, xử lý, hậu quả của tội phạm chưa xảy ra nên chứng minh xác đinh được
nó là rất khó nhưng vẫn thuộc những vấn đề phải chứng minh.

14


Theo nghiên cứu về khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS của
một số tác giả, chúng tôi thấy các khái niệm này chưa đầy đủ. Ví dụ như:
- “Đối tượng chứng minh là tổng hợp những vấn đề cần phải được xác
định làm rõ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”
- “Đối tượng chứng minh trong VAHS là tổng hợp tất cả những tình tiết
thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và người phạm
tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”.
- “Đối tượng chứng minh trong VAHS là tổng hợp những sự kiện và

gian và tốn kém về tiền bạc, điều quan trọng hơn là bỏ lọt những tình tiết mang
tính chất quyết định đến việc giải quyết vụ án. Hoạt động chứng minh trong
TTHS chính là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và các tình tiết
có liên quan đến vụ án. Suy cho cùng mục đích của hoạt động chứng minh trong
TTHS là để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn VAHS, làm sáng tỏ được đối
tượng chứng minh. Đối tượng chứng minh không chỉ là chứng cứ buộc tội mà
chủ thể TTHS còn hướng đến chứng minh cả những chứng cứ gỡ tội dựa trên
nguyên tắc suy đoán vô tội để làm sáng tỏ vụ án.
Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì khái niệm: “Đối tượng chứng
minh trong VAHS là tổng hợp tất cả những vấn đề CQTHTT phải chứng minh
trên cơ sở quy định pháp luật TTHS được thể hiện bằng chứng cứ để làm rõ nội
dung và các tình tiết khác trực tiếp, gián tiếp có liên quan VAHS”.
1.1.2.3. Quá trình chứng minh
Để giải quyết đúng đắn VAHS, các CQTHTT và người THTT có trách
nhiệm áp dụng mọi biện pháp luật định để chứng minh sự thật của vụ án.
Những vụ án xảy ra luôn để lại những dấu vết trong thế giới khách quan, được
con người và môi trường vật chất phản ánh lại [22,tr8-9]. Chứng minh trong
VAHS bắt đầu từ khi có tin báo, tố giác tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố cho
đến khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Mỗi giai đoạn chứng minh lại mang ý
nghĩa, nội dung đặc thù từng giai đoạn nên trách nhiệm của các CQTHTT và
người THTT sẽ có sự khác nhau tương đối mà vẫn đòi hỏi phải tuân theo quy
định của BLTTHS.

16


Quá trình chứng minh tội phạm được hiểu là quá trình nhận thức về sự
kiện phạm tội đã xảy ra trong quá khứ thông qua việc phát hiện, thu thập, bảo
quản, kiểm tra, nhận định đánh giá các thông tin mà sự việc phạm tội để lại
trong thế giới vật chất và cả trong ý thức của người biết về sự việc phạm tội.

sự” [29, tr.18, 19].
Có thể thấy rằng ở quan điểm thứ nhất, thứ hai và thứ ba xây dựng khái
niệm về quá trình chứng minh một cách khái quát, chưa đề cập đến các yếu tố
về chủ thể chứng minh, đối tượng chứng minh. Quan điểm thứ ba thể hiện
quá trình chứng minh là quá trình nhận thức, chỉ ra được phương tiện để tiến
hành hoạt động chứng minh là các chứng cứ. Quan điểm thứ tư và thứ năm
đầy đủ hơn, đã thể hiện được chủ thể tiến hành hoạt động nhận thức trong quá
trình chứng minh cũng như cơ sở của việc tiến hành hoạt động chứng minh và
mục đích của quá trình chứng minh. Chúng tôi cho rằng khái niệm quá trình
chứng minh trong VAHS phải thể hiện được quá trình nhận thức thế giới
khách quan, chỉ ra được đầy đủ về chủ thể chứng minh, đối tượng chứng
minh, phương tiện chứng minh, cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động chứng
minh cũng như mục đích quá trình chứng minh.
Từ đó, chúng tôi xây dựng khái niệm quá trình chứng minh trong
VAHS như sau: “Quá trình chứng minh trong VAHS là quá trình tư duy và
thực tiễn của chủ thể TTHS trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS, được
thực hiện thông qua hoạt động phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, nhận
định, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ, đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.”
1.2. Chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Để có thể chứng minh vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
chính xác, cần phải hiểu được nội hàm của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản. Theo từ điển Tiếng Việt” lạm dụng” có nghĩa là “sử dụng quá
mức hoặc quá giới hạn đã được quy định”; tín nhiệm có nghĩa là “tin cậy
trong một nhiệm vụ cụ thể nào đó”[69].

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status