Các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng) - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẰNG MONG

CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ HẰNG MONG

CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số


MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................4
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG
PHẠM .....................................................................................................................12
1.1. Các khái niệm có liên quan ..........................................................................12
1.1.1. Khái niệm đồng phạm ..................................................................................12
1.1.2. Khái niệm các loại người đồng phạm ..........................................................14
1.2. Phân biệt các loại ngƣời đồng phạm với chủ thể của một số tội phạm .....16
1.2.1. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội che giấu tội phạm
..................................................................................................................................16
1.2.2. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội không tố giác tội
phạm .........................................................................................................................19
1.2.3. Phân biệt các loại người đồng phạm với người hoạt động đắc lực trong một
số tội phạm ...............................................................................................................20
1.3. Pháp luật hình sự của một số nƣớc quy định về các loại ngƣời đồng
phạm ........................................................................................................................22
1.3.1. Pháp luật hình sự Liên bang Nga .................................................................22
1.3.2. Pháp luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức ...............................................23
1.3.3. Pháp luật hình sự Hoa Kỳ ............................................................................24
1.3.4. Pháp luật hình sự quốc tế .............................................................................25
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1999 VỀ CÁC
LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA HỌ ......28

Footer Page 4 of 126.


Footer Page 5 of 126.

2


Header Page 6 of 126.

3.2.2. Tình hình xét xử các vụ án có đồng phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng
từ năm 2011-2015 ....................................................................................................65
3.2.3. Vướng mắc, khó khăn trong quá trình xét xử các vụ án có đồng phạm trên
địa bàn thành phố Hải Phòng ...................................................................................70
3.3. Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về các loại ngƣời đồng phạm .............71
3.3.1. BLHS 2015 quy định cụ thể trường hợp người đồng phạm không phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành ...................72
3.3.2. Vấn đề xác định đồng phạm trong trường hợp chủ thể là pháp nhân
thương mại phạm tội ...............................................................................................74
3.4. Một số đề xuất, kiến nghị ..............................................................................76
3.4.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLHS về chế định đồng phạm và
các quy định liên quan .............................................................................................76
3.4.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án đồng phạm .................78
KẾT LUẬN ............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................83

Footer Page 6 of 126.

3


Header Page 7 of 126.

4


Header Page 8 of 126.

liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người cùng phạm tội càng củng cố quyết tâm
phạm tội của cả bọn. Tuy nhiên, tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội
của từng người vẫn phải dựa trên hành vi cụ thể và mức độ tham gia trên thực tế.
Việc hiểu và nhận thức rõ điều này giúp chúng ta nhận ra sự nguy hiểm của loại tội
phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm. Chính vì vậy, việc đấu tranh
phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm dưới hình thức đồng phạm nói riêng là
việc làm cấp bách luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng.
Xét dưới khía cạnh địa bàn phạm tội, Hải Phòng là một trong những thành
phố có diễn biến tình hình tội phạm hết sức phức tạp, rất nhiều các tổ chức tội
phạm, các hoạt động phạm tội diễn ra trên địa bàn thành phố Hải Phòng được đưa
ra điều tra, truy tố, xét xử với mức độ rất nghiêm trọng. Trong bối cảnh như hiện
nay, tình hình tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động xuyên quốc gia ở nước ta sẽ
còn diễn biến phức tạp. Các tổ chức tội phạm hoạt động với những vỏ bọc đa dạng,
phương thức hoạt động, hành vi che giấu tội phạm tinh vi, xảo quyệt hơn, gây khó
khăn cho công tác phát hiện và điều tra. Hoạt động phạm tội của các đối tượng
không giới hạn ở một địa phương, mà ngày càng thể hiện rõ xu hướng cấu kết, móc
nối với các đối tượng ở các tỉnh, thành phố khác, thậm chí cả với những đối tượng
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài... hình thành những tổ
chức, đường dây phạm tội liên tỉnh, thành phố và mang tính quốc tế. Tội phạm do
chúng gây ra hầu hết là các nhóm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu các loại người đồng phạm về khái niệm, đặc
điểm, trách nhiệm hình sự là một trong những nội dung quan trọng, góp phần nâng
cao sự hiểu biết đối với loại tội phạm nghiêm trọng này. Đặc biệt nghiên cứu thực
tiễn xét xử các loại người đồng phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai
đoạn 2011-2015, qua đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp

tác giả do GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên), NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2000;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Đại học Huế - Trung tâm đào tạo từ xa
(do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên), NXB Giáo dục;

Footer Page 9 of 126.

6


Header Page 10 of 126.

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), của Khoa Luật trực thuộc
Đại học Quốc gia Hà Nội, (tập thể tác giả do GS. TSKH. Lê Cảm chủ biên), NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003;
- Hình luật xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Phần chung), Trường cao đẳng
Kiểm sát, Hà Nội, 1983;
- Sách chuyên khảo: Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự,
NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005 do TSKH Lê Cảm (chủ biên);;
Ngoài ra, các luận văn, luận án như:
Nguyễn Thị Trang Liên, với đề tài Các hình thức đồng phạm trong Luật hình
sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, năm 2007, Khoa luật - Đại học Quốc Gia
Hà Nội; Trần Quang Tiệp,
Đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2000;
Các sách bình luận, sách tham khảo, bài viết như: Bình luận khoa học Bộ
Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Tập I, Phần chung (tập thể tác giả do TS. Uông
Chu làm chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Đinh Văn Quế, Bình
luận khoa học Bộ Luật hình sự, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Đặng Văn
Doãn,Vấn đề đồng phạm, NXB Pháp lý, Hà Nội, 1986; Trần Quang Tiệp, Chế định

yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự hiện nay.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến các
loại người đồng phạm theo quy định của luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là vấn đề
xác định TNHS, quyết định hình phạt của các loại người đồng phạm. Việc nghiên
cứu này nhằm mục đích phân biệt cụ thể các loại người đồng phạm với nhau và
phân biệt các loại người đồng phạm với một số khái niệm có liên quan trong khoa
học Luật hình sự (người che giấu tội phạm, người không tố giác tội phạm, người
hoạt động đắc lực). Đồng thời, nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng pháp luật liên
quan đến đồng phạm trong quá trình xét xử những vụ án có đồng phạm tại một địa
bàn trọng điểm là thành phố Hải Phòng (giai đoạn 2011-2015), đưa ra kiến nghị, đề
xuất góp phần hoàn thiện chế định đồng phạm trong BLHS.
Footer Page 11 of 126.

8


Header Page 12 of 126.

3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về các
loại người đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, cụ thể là:
- Nghiên cứu một số vấn đề chung về khái niệm, đặc điểm pháp lý của các
loại người đồng phạm Luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu Pháp luật hình sự của một số nước quy định về các loại người
đồng phạm.
- Nghiên cứu các quy định của BLHS 1999 về các loại người đồng phạm,
nguyên tắc xác định TNHS của người đồng phạm, quyết định hình phạt trong đồng
phạm và một số vấn đề khác liên quan đến chế định đồng phạm.

nghiên cứu khoa học luật hình sự Việt Nam qua đó rút ra được sự cần thiết, vai trò,
mục tiêu, ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong đời sống pháp luật, trong
quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đưa ra
kiến giải cho các qui định về các loại người đồng phạm, từ đó rút ra được những
kết luận về thực trạng, giải pháp và các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Phương pháp này được thể hiện thông
qua những tài liệu, số liệu cũng như các báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Hải Phòng trong thời gian vừa qua về tình hình xét xử đồng phạm để làm cơ
sở phân tích, nghiên cứu nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp.
Ngoài ra trong đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phân tích thuần túy quy phạm pháp luật; nghiên cứu, điều tra án điển hình... để
phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên đã tiếp thu có chọn lọc
kết quả của các công trình đã công bố; các đánh giá, tổng kết của các cơ quan
chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn đề
nghiên cứu trong luận văn.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Dưới góc độ lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý
luận về các loại người đồng phạm trong khoa học Luật hình sự Việt Nam. Cụ thể,
Footer Page 13 of 126.

10


Header Page 14 of 126.

đã làm rõ các khái niệm về người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người
giúp sức trong đồng phạm, phân biệt các loại người đồng phạm với một số chủ thể
không trong vụ đồng phạm mà hiện nay thường có sự nhầm lẫn trong thực tiễn;

1.1.1. Khái niệm đồng phạm
Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự của nước ta trong những năm đầu của
chính quyền nhân dân, vấn đề đồng phạm chưa được quy định một cách đầy đủ,
cụ thể, đồng phạm mới chỉ được phân biệt thành chính phạm và tòng phạm,
đồng nhất TNHS của những người tham gia trong bất kỳ trường hợp nào. Từ
những năm 60 đến trước năm 1985, cùng với sự phát triển của khoa học luật
Hình sự, vấn đề đồng phạm đã được quan tâm, đề cập nhiều hơn trong các sách
báo pháp lý, các công trình nghiên cứu. Tại Hội nghị tổng kết xét xử năm 1963,
Tòa án nhân dân tối cao có định nghĩa về đồng phạm (cộng phạm) như sau:
“Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí, cùng chung
hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức hoặc trực tiếp
cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội để cùng đạt tới kết quả phạm tội”.
Định nghĩa này về cơ bản đã xây dựng được khái niệm đồng phạm, trong đó xác
định được những dấu hiệu điển hình của đồng phạm. Tuy nhiên, nó chưa mang
tính khái quát và chưa phản ánh được những dấu hiệu đặc trưng của đồng phạm.
Mặc dù thực tiễn xét xử từ những năm 1946 đã đề cập đến vấn đề đồng phạm
trong các văn bản pháp luật hình sự nhưng vấn đề đồng phạm vẫn chưa được
quy định thành một chế định cụ thể.
Đồng phạm là một khái niệm cơ bản trong khoa học luật hình sự, Bộ luật
Hình sự đầu tiên của nước ta năm 1985, được Quốc hội thông qua vào ngày
27/6/1985 lần đầu tiên ghi nhận khái niệm đồng phạm, tại Điều 17:“Hai hoặc
nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”. Quy định này đã
đánh dấu một bước phát triển tích cực trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước
ta. Thuật ngữ đồng phạm thay thế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong

Footer Page 15 of 126.

12




13


Header Page 17 of 126.

tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả tác hại. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả
trong vụ án đồng phạm.
Thứ hai, về mặt chủ quan: tất cả những người trong vụ án đồng phạm phải có
hình thức lỗi cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Họ đều thấy rõ hành vi của toàn bộ
những người trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội , mong muốn thực hiện tội phạm
hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Mỗi người đồng phạm đều thấy trước
hành vi của mình, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm là nguyên
nhân dẫn đến hậu quả tác hại. Đối với những tội phạm mà động cơ và mục đích
nêu trong điều luật là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì chỉ những
người phạm tội có động cơ và mục đích giống nhau thì mới có thể là đồng phạm
của nhau.
Trên thực tế, trường hợp đồng phạm thường gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại
nghiêm trọng hơn trường hợp chỉ có một người phạm tội. Do số người, thời gian
thực hiện tội phạm nhiều hơn và giữa họ có điều kiện giúp đỡ nhau về tinh thần và
vật chất, dẫn đến hoạt động phạm tội kiên quyết và táo bạo hơn. Trong vụ đồng
phạm, các đối tượng phạm tội dễ che giấu vết tích của tội phạm, trốn tránh sự truy
tìm của các cơ quan điều tra. Những tội phạm nguy hiểm nhất thường được thực
hiện dưới hình thức đồng phạm như: các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội
xâm phạm sở hữu…Đồng phạm có tính nguy hiểm cao hơn cho xã hội nên được
quy định rất kỹ trong phần chung BLHS 1999 (Điều 20, Điều 48 khoản 1 điểm a)
và trong phần các tội phạm, ví dụ: Điều 79 tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân, Điều 82 tội bạo loạn…
1.1.2. Khái niệm các loại người đồng phạm
Nghiên cứu lịch sử khoa học luật hình sự nước ta, có thể thấy khái niệm

thuộc vào hành vi của người thực hành. Tuy nhiên, người thực hành không phải
là người nguy hiểm nhất. Theo quan điểm hiện nay, người tổ chức, người xúi
giục được coi là người nguy hiểm nhất, vì họ là tác giả tinh thần của tội phạm.
Người giúp sức cũng có đóng góp vai trò trong vụ đồng phạm, nhưng mức độ
nguy hiểm không như hành vi của người tổ chức, người xúi giục.

Footer Page 18 of 126.

15


Header Page 19 of 126.

1.2. Phân biệt các loại ngƣời đồng phạm với chủ thể của một số tội phạm
Trong Bộ luật hình sự, có những hành vi bị coi là tội phạm, có tính chất
tương đối giống với hành vi của một trong những người đồng phạm như: người
che dấu tội phạm, người không tố giác tội phạm, người hoạt động đắc lực… Do
đó, trên thực tế và lý luận cần phân biệt để đảm bảo sự nhận thức thống nhất.
1.2.1. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội che giấu tội
phạm
Che giấu tội phạm là hành vi của người tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau
khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của
vụ án hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội.
Người thực hiện hành vi che giấu tội phạm phải chịu TNHS về tội che giấu tội
phạm trong các trường hợp được quy định tại Điều 313 BLHS 1999. Tuy nhiên,
đến BLHS 2015, vấn đề TNHS của người che giấu tội phạm đã có sự thay đổi.
Người che giấu tội phạm sẽ được loại trừ TNHS trong một số trường hợp người
che giấu là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người
phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc
biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS 2015. Về cơ bản, tội che

các dấu vết, các dấu vết mà tội phạm để lại có ý nghĩa rất quan trọng cho việc
chứng minh tội phạm, từ dấu vết mà cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra thủ phạm.
Thông thường, người thực hiện hành vi phạm tội tự mình xoá các dấu vết, nhưng
cũng nhiều trường hợp người phạm tội do không kịp xoá các dấu vết nên sau khi
phạm tội đã nhờ người khác hoặc tuy không được nhờ nhưng người khác tự mình
xoá các dấu vết của tội phạm nhằm che giấu hành vi phạm tội của người đã thực
hiện tội phạm đó.
- Che giấu tang vật của tội phạm: tang vật của vụ án là công cụ, phương tiện
mà người phạm tội dùng vào việc thực hiện tội phạm. Che giấu tang vật là hành vi

Footer Page 20 of 126.

17


Header Page 21 of 126.

cất giấu, huỷ hoại hoặc làm biến dạng công cụ, phương tiện mà người phạm tội
dùng vào việc thực hiện tội phạm.
- Hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội: cản trở
việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội là không muốn cho tội phạm bị phát
hiện, xử lý theo pháp luật. Hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người
phạm tội rất đa dạng như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn từ chối cung cấp các tài
liệu, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến tội phạm; từ chối cung cấp địa chỉ, nơi ở của
người phạm tội đang ẩn náu mà mình biết rõ; dùng quyền hành để dụ dỗ, mua
chuộc, cướng ép người khác không khai báo, không cung cấp tài liệu, cho cơ quan
tiến hành tố tụng.
c) Mặt chủ quan : hành vi che giấu tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là tạo điều kiện giúp cho người
phạm tội trốn tránh được sự trừng phạt của pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hậu quả

được thực hiện mà không tố giác. Nếu tội che giấu tội phạm áp dụng khi tội phạm
đã được thực hiện, biết rõ điều ấy mà cố tình che giấu, tội che giấu tội phạm được
thực hiện bằng phương pháp hành động, thì tội không tố giác tội phạm được thực
hiện bằng phương pháp không hành động. Tội không tố giác tội phạm cũng có một
số đặc trưng như sau:
a) Chủ thể: chủ thể của loại tội phạm này cũng không phải là chủ thể đặc
biệt, nhưng chỉ những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội
phạm này. Ngoài ra, BLHS 1999 quy định các trường hợp không tố giác tội phạm
phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 314 BLHS 1999, loại trừ TNHS trong
trường hợp người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ
hoặc chồng của người phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an
ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Bổ sung trường hợp người không tố
giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội

Footer Page 22 of 126.

19


Header Page 23 of 126.

phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt (Khoản 3
Điều 314 BLHS 1999).
b) Mặt khách quan: tội che giấu tội phạm được thực hiện bằng các hành vi:
che giấu người phạm tội, che giấu các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc hành vi
khác cản trở việc điều tra, xử lý người phạm tội. Những hành vi này được thực
hiện một cách độc lập, sau khi người khác đã thực hiện tội phạm mà không hứa
hẹn trước, vì vậy đây không phải là đồng phạm, mà là tội phạm độc lập. Tội che
giấu tội phạm được thực hiện bằng phương pháp hành động, bằng sự chủ động tích
cực làm những việc mà BLHS sự cấm.

đề này cũng nên được pháp luật hình sự nghiên cứu, quy định một cách đầy đủ.
Theo quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng người hoạt động đắc lực là người
tham gia chủ yếu, tích cực trong suốt quá trình thực hiện tội phạm cùng với
những người đồng phạm khác, là người đóng vai trò quan trọng, có tính quyết
định đối với hành vi phạm tội. Người hoạt động đắc lực có thể là người thực
hành, người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức, miễn là trong vụ đồng
phạm họ tham gia với mức độ cao, có một vai trò quan trọng trong vụ án và có
những hành vi làm gia tăng mức độ nguy hiểm của vụ án đó. Nếu việc phân biệt
các loại người đồng phạm thành người thực hành, người tổ chức, người xúi
giục, người giúp sức là dựa trên tính chất, vai trò tham gia của những người
đồng phạm thì người hoạt động đắc lực được phân biệt dựa trên mức độ tham
gia vào việc thực hiện phạm tội của những người đồng phạm. Tất cả các loại
người đồng phạm nêu trên đều có thể trở thành người hoạt động đắc lực nếu
hành vi của họ tham gia với mức độ tích cực.
Ví dụ: A, B, C rủ nhau, cùng bàn bạc đến tiệm vàng Mỹ Hưng để cướp. A là
người chủ mưu, lên kế hoạch thực hiện, đồng thời A đã đi mua dao và sửa soạn
những công cụ cần thiết để thực hiện hành vi phạm tội. Tối ngày 27/7/2015, như
kế hoạch đã được bàn bạc từ trước A, B, C cùng có mặt tại hiện trường để thực
hiện hành vi cướp tài sản tại tiệm vàng Mỹ Hưng. Trong vụ án đồng phạm này,
A được coi là người hoạt động đắc lực.

Footer Page 24 of 126.

21


Header Page 25 of 126.

1.3. Pháp luật hình sự của một số nước quy định về các loại người đồng
phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status