ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH THU
TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO
NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH THU
TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO
NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG VĂN HÙNG
tội mà có ........................................................................................................ 9
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có ....................................................................... 12
1.2.1. Khách thể của tội phạm ............................................................................. 12
1.2.2. Chủ thể của tội phạm .................................................................................. 15
1.2.3. Mặt khách quan của tội phạm .................................................................. 15
1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm ....................................................................... 18
1.3. Vài nét lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam đối với tội chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có..................... 20
1.3.1. Pháp luật thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm
1945 ............................................................................................................................ 21
1.3.2. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến
trước khi Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực ...................................................... 24
1.3.3. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến trước
khi Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực ................................................................. 26
1.3.4. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1999 đến nay ...... 28
1.4. Những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có trong pháp luật Hình sự của một số nước trên thế
giới ............................................................................................................... 32
Kết luận chương 1 ...................................................................................... 41
Chương 2. CÁC HÌNH THỨC PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TỘI CHỨA CHẤP
HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ
THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 ............................................................... 43
2.1. Các hình thức pháp lý đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có theo Bộ luật Hình sự 1999 .................... 43
3.2.2. Một số vấn đề trong thực tiễn với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có những năm gần đây ............................... 87
3.3. Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực tiễn với tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ........... 97
3.3.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ...................................... 97
3.3.2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật của
Tòa án nhân dân với những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có ................................................................... 101
3.3.3. Một số giải pháp khác .............................................................................. 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 111
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 117
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ luật Dân sự
BLHS:
Bộ luật Hình sự
BLTTHS:
Bộ luật Tố tụng Hình sự
CTTP:
Bảng 2.2.
So sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có với tội rửa tiền
72
Bảng 3.1.
Thống kê số liệu vụ án và bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã thụ lý trên
địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2011- 2015
78
Bảng 3.2.
Thống kê số liệu số vụ án, bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được giải
quyết trên địa bàn thành phố Hà Nội từ 2011- 2015
81
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, trước sự thay đổi, phát triển của các điều kiện
kinh tế- xã hội, tình hình các loại tội phạm nói chung có nhiều diễn biến phức
tạp. Đặc biệt là các tội xâm phạm quyền sở hữu có chiều hướng gia tăng. Điều
mặt lý luận cũng như thực tiễn cần tìm hiểu kỹ càng. Đặc biệt, trên địa bàn
thành phố Hà Nội- thủ đô của đất nước, việc nghiên cứu các vấn đề tội phạm
này càng cần thiết hơn bởi lẽ Hà Nội là thành phố đi đầu trong quá trình phát
triển, mức sống của người dân có đòi hỏi cao; vì thế, đây cũng là nơi thu hút
nhiều loại tội phạm về sở hữu, gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa trong đó có tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có. Tội phạm này có sự xuất phát từ những tội phạm
nguồn gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc gia tăng tỷ lệ tội phạm về sở hữu. Tuy
nhiên, trong các đề tài nghiên cứu những năm gần đây, tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có lại ít được nghiên cứu đầy đủ
và cụ thể. Việc xác định rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội phù hợp với sự
phát triển của xã hội hiện nay hay trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng
cũng chưa được đi sâu nghiên cứu, bám sát tình hình thực tiễn. Thực tiễn đặt
ra rằng, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
khá phức tạp dưới nhiều hình thức, thủ đoạn đơn giản có, tinh vi có nhằm hợp
pháp hóa tài sản phạm tội để đưa ra tiêu thụ trên thị trường. Điều này gây ảnh
hưởng không nhỏ tới việc gia tăng phức tạp tình hình tội phạm trên địa bàn
thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung, cũng như đề ra các
biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có.
Vì lẽ đó, việc nghiên cứu tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có đặt ra vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nhằm
2
đáp ứng đòi hỏi của xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện tinh
thần cải cách tư pháp theo định hướng của Đảng và tinh thần của Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 24-05-2005 của Bộ Chính trị "Về chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
đề về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và
thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội còn bỏ ngỏ. Đến thời điểm
này, đề tài “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có theo Luật Hình sự Việt Nam” (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà
Nội) vẫn có tính mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu mà luận văn hướng tới là trên cơ sở lý luận và
thực tiễn xét xử của tội phạm góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận chuyên sâu
đối với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cũng qua đó hình thành cái nhìn từ
thực tiễn xét xử các vụ án về tội phạm làm cơ sở cho việc nhận thức cũng như
áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự xử lý về tội phạm. Ngoài ra, trên cơ
sở nghiên cứu, luận văn cũng đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về
tội phạm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đã đặt ra ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn đặt ra các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu và đưa ra khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; làm rõ lịch sử
hình thành và phát triển những quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về
tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Thứ hai, làm rõ các hình thức pháp lý đối với tội phạm chứa chấp
5
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; so sánh tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với một số tội phạm
vực trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn để
thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu là phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, …
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội phạm
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Những đóng
góp mới về mặt khoa học của luận văn có thể kể đến:
- Phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, đưa ra vấn đề về tội
phạm nguồn, phân tích sự phát triển các quy định về tội phạm chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong lịch sử, đối chiếu các quy
định của Bộ luật Hình sự 1999 và Bộ luật Hình sự 2015 và so sánh các quy
định tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có, các hình thức pháp lý của tội phạm và thực tiễn xét xử trên địa bàn thành
phố Hà Nội, nêu lên những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng những
quy định của pháp luật hình sự về tội phạm.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định của pháp luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như cả
nước nói chung.
7. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về mặt lý luận, luận văn có ý nghĩa cung cấp thêm cơ sở lý luận góp
phần làm phong phú về mặt tài liệu nghiên cứu khoa học để tham khảo cho
7
Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là "(hành vi) mua, trao đổi,
nhận hoặc giúp cho việc mua bán, trao đổi tài sản mình biết rõ là tài sản do
hành vi phạm tội của người khác mà có" [51, tr.781].
Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 09/2011/TTLT-BCA-BQPBTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ban hành ngày 30/11/2011 Hướng
dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có và tội rửa tiền (Sau đây gọi tắt là Thông tư
09/2011) quy định:
Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: cất giữ,
che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất
giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó và tiêu thụ tài sản là một trong các
hành vi sau đây: mua, bán, thuê, cho thuê, trao đổi, cầm cố, thế
chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc
thực hiện các hành vi đó.
Hiểu một cách chung nhất, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản so
người khác phạm tội mà có là hành vi cất giấu, tạo điều kiện cho việc cất giấu
hoặc mua, trao đổi, nhận, giúp cho việc mua bán, trao đổi tài sản mình biết rõ
là tài sản do hành vi phạm tội của người khác mà có.
9
Cũng theo từ điển này, tài sản được hiểu:
Là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài
sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm: vật có thực, vật
đang tồn tại và sẽ có như hoa, lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo
mẫu đã được thoả thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá
được bằng tiền và quyền tài sản [51, tr.778].
Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản".
Đối với vật là đối tượng tác động của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản chỉ chủ sở hữu mới có thể thực hiện quyền này trong giao dịch dân sự.
Thông tư số 09/2011, tại Khoản 3 Điều 1 có hướng dẫn về "tài sản" bao
gồm: "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; bất động sản, động sản,
hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật
tiêu hao, vật không tiêu hao, vật chùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và
quyền tài sản".
Như vậy, những "tài sản" được pháp luật ghi nhận, thuật ngữ "tài sản"
trong tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có sự
tương ứng với quy định về "tài sản" trong Bộ luật Dân sự 2005.
Từ khái niệm tội phạm được ghi nhận tại Điều 8 BLHS, định nghĩa
khoa học về tội phạm với những dấu hiệu được phân tích ở trên, tác giả xin
đưa ra khái niệm Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có như sau:
Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là
hành vi nguy hiểm cho xã hội khi biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà
có vẫn cất giấu, tạo điều kiện cho việc cất giấu hoặc mua, trao đổi, nhận,
giúp cho việc mua bán, trao đổi tài sản, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái
pháp luật hình sự, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự
11
pháp luật xã hội chủ nghĩa.
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có
Căn cứ quy định cụ thể về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có, những yếu tố đặc trưng của cấu thành tội phạm (CTTP)
tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được thể
hiện như sau:
Luật hình sự Việt Nam coi chủ thể của tội phạm là người có năng lực
trách nhiệm hình sự, đạt một độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội
[47, tr.122].
Điều 250 BLHS về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có gồm 04 khung hình phạt khác nhau sau: đến ba năm tù (khoản
1), đến bảy năm tù (khoản 2), đến mười năm tù (khoản 3), đến mười lăm năm
tù (khoản 4). Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 sửa đổi 2009,
quy định về tuổi chịu TNHS tại Điều 12, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
chỉ có thể bị truy cứu TNHS khi thực hiện hành vi thuộc một trong các tình
tiết định khung tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 250 BLHS là trường hợp phạm
tội rất nghiêm trọng do cố ý. Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể bị truy cứu
TNHS về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
theo quy định của các khung từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 250 BLHS 1999.
1.2.3. Mặt khách quan của tội phạm
Theo khoa học luật hình sự, mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp
những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan. Mặt khách
quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý là: hành vi nguy
hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội; các dấu hiệu không bắt buộc (thủ đoạn,
phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội) [6, tr.365-366].
Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có, hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện là hành vi "chứa chấp"
hoặc "tiêu thụ" tài sản do người khác thực hiện các hành vi phạm tội khác mà
15
có như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản,... Thế nào là hành vi
chứa chấp hoặc hành vi tiêu thụ tài sản tại Điều 250 BLHS 1999 không liệt kê
rõ. Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 09/2011 đưa ra quy định về hai
trong đồng phạm.
Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản là hành vi khách quan của tội
phạm Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ khi
hành vi đó là trái pháp luật, hay nói cách khác, chỉ hành vi được quy định
trong Bộ luật Hình sự mới có thể là tội phạm. Điều này cũng có nghĩa là cấm
áp dụng nguyên tắc tương tự. Trường hợp người mua tài sản do phạm tội mà
có trong trường hợp nhà nước phát mại, bán đấu giá để sung công quỹ do
không tìm được chủ sở hữu hoặc người có quyền bảo quản tài sản thì đó là
hành vi hợp pháp, không phạm vào tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có [62].
Cần lưu ý, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có được quy định tại Điều 250 BLHS 1999 sửa đổi 2009 có quy định hai
hành vi khách quan trong một cấu thành tội phạm "chứa chấp", "tiêu thụ". Do
đó, người phạm tội thực hiện hành vi khách quan chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản thì chỉ bị truy cứu TNHS về một hành vi mình phạm phải "tội chứa chấp
tài sản do người khác phạm tội mà có" hoặc "tội tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có". Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi được
Điều 250 BLHS quy định thì sẽ bị truy cứu TNHS về cả hai hành vi đó [1,
tr.12-13].
Hậu quả của tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có:
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thiệt hại do hành vi
phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội là khách thể được bảo vệ bởi luật hình
sự [47, tr.110]. Về nguyên tắc, chỉ những hậu quả mang tính xác định được
mới được quy định trong cấu thành tội phạm. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
17