Phòng ngừa tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 34

Bài tập lớn Tội phạm học

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình tội phạm luôn là một vấn đề khá hay được không chỉ các nhà
làm luật quan tâm mà còn là vấn đề chung của toàn xã hội. Nhất là trong tình
hình hiện nay khi kinh tế phát triển khá nhanh kéo theo những bất cập không
đáng có, tình hình tội phạm nói chung phát triển khá phức tạp, đặc biệt là tội
phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Chính
vì vậy qua việc tìm hiểu Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Kiều Thị Hảo có
nội dung về “Phòng ngừa tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội” chúng ta có thể hiểu sâu hơn về
vấn đề này.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Lớp N05 – Nhóm 2

Page 1


Bài tập lớn Tội phạm học
I) Tóm tắt kết quả nghiên cứu về tình hình tội phạm
Theo số liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2009, tình hình tội phạm tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có diễn ra rất phức
tạp và có chiều hướng gia tăng, nhất là ở địa bàn đô thị. Các hành vi phạm tội có
tính chất gia tăng, các phương pháp, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, dẫn
đến hậu quả là không chỉ làm mất trật tự công cộng, làm rối loạn thị trường mà
còn “hậu thuẫn” cho sự phát sinh thêm nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, việc
nghiên cứu tình hình tội phạm này để tìm ra nguyên nhân phạm tội và đưa ra
các biện pháp phòng ngừa tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có trên địa bàn TP. Hà Nội là một yêu cầu bức thiết có ý nghĩa lý

* Về tình hình tội phạm rõ của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có trên địa bàn TP. Hà Nội
Dựa trên số liệu thống kê của VKSNDTC từ năm 2005 đến năm 2009,
TAND TP. Hà Nội và các TAND cấp huyện cùng với Bảng số liệu dưới đây:
Bảng số 1. Số vụ và số người phạm tội bị xét xử sơ thẩm về tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn TP. Hà Nội
từ năm 2005 đến năm 2009
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
Tổng

Số vụ
Số NPT
19
58
29
64
23
60
19
50
24
62
114
294
Nguồn số liệu: VKSTANDTC, VKSND TP. Hà Nội

2009
Tổng

Điều 250
Số vụ/số NPT
(1)

Nhóm tội XPSH
Tỷ lệ % (1) so
có tính chiếm
với (2)
đoạt
Số vụ/số NPT (2)
19/58
1839/2602
1,03/2,23
29/64
2315/3325
1,25/1,92
23/60
2082/3089
1,10/1,94
19/50
1955/3458
0,97/1,45
24/62
2379/3637
1,01/1,70
114/294
10570/16111

người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh từ năm 2005 đến năm 2009
Năm

TP.Hà Nội
TP. Hồ Chí Minh
Chỉ số
TP (1)
Số NPT
DSTB
Số NPT
DSTB
(1)
(1000
(3)
(1000
người) (2)
người) (4)
2005
58
3133,4
64
6230,9
1,85
2006
64
3184,8
51
6483,1
2,01

1,10


Bài tập lớn Tội phạm học
Chỉ số TP (1): Chỉ số tội phạm của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác trên địa bàn TP. Hà Nội.
Chỉ số TP (2): Chỉ số tội phạm của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản so người
khác trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Qua tìm hiểu, so sánh về chỉ số tội phạm trên địa bàn TP. Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh đã giúp tác giả khẳng định tình hình tội phạm này trên địa abnf
TP. Hà Nội xảy ra phổ biến hơn TP. Hồ Chí Minh cho dù số vụ án và số người
phạm tội này ở Hà Nội thấp hơn TP. Hồ Chí Minh.
2. Động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm
Nghiên cứu về động thái (hay diễn biến) của tình hình tội phạm này nhằm
tìm ra xu thế, quy luật vận động của tội phạm này.
Căn cứ vào Bảng số 1 có thể thấy số vụ và số người phạm tội trên địa bàn
TP. Hà Nội tăng vào những năm 2006, năm 2009 và giảm vào năm 2007, năm
2008, tuy nhiên mức độ tăng giảm của các năm cũng có sự khác nhau. Nếu lấy
mức độ tăng, giảm hàng năm về số vụ về số người phạm tội trên địa bàn TP. Hà
Nội của năm 2005 là 100% thì mức độ tăng, giảm hàng năm của các năm tiếp
theo từ năm 2006 đến năm 2009 được thống kê theo bảng số liệu sau:
Bảng số 4. Mức độ tăng, giảm hàng năm của số vụ và số người phạm tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn
thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến năm 2009
Năm
2005
2006
2007
2008
2009

110,3
103,4
86,2
106,9


Bài tập lớn Tội phạm học
Dựa vào Bảng số liệu 4 có thể đánh giá động thái của tình hình tội phạm
luôn biến động và nhìn một cách tổng thể thì diễn biến tình hình tội phạm này
có xu hướng tăng. Xu thế tăng như đánh giá ở trên có thể do nhiều nguyên nhân
khác nhau.
3. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm
Khi nghiên cứu tình hình tội phạm tác giả căn cứ vào đặc điểm của tội
phạm này để xem xét cơ cấu của tình hình tội phạm dưới các góc độ, phương
diện khác nhau, từ đó rút ra tính chất của tình hình tội phạm này.
3.1. Cơ cấu của tình hình tội phạm
Cơ cấu của tình hình tội phạm theo tội danh
Bảng số 5. Cơ cấu của tình hình tội phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ


tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm
2005 đến năm 2009 theo tội danh
Tội danh

100 bản án
Tổng số NPT
206
100%

Tội chứa chấp

Bài tập lớn Tội phạm học
NPT

2005
2006
2007
2008
2009
Tổng

Tái
phạm

Nam

Nữ

0
2
1
2
2
7

57
59
56
47
61
280

188

Từ đủ
30 tuổi
đến
dưới
45 tuổi
5
23
8
4
10
50

Từ đủ
45tuổi
trở lên
2
1
2
4
2
11

58
64
60
50
62
294

tùng xe máy
Lái xe
Công nhân
Sinh viên

4
5
6

Lớp N05 – Nhóm 2

Số NPT

Page 8

132
19
11

Tỷ lệ phần
trăm
64,1
9,23
5,34

10
7
9

4,9

1,5
1,5
1,5
0,97

1
0,49
2
0,97
206
100
Nguồn số liệu: 100 bản án HSST
Trong tổng số 106 NPT, có tới trên 60% số người phạm tội này không có

nghề nghiệp – phần lớn những người này là những người phạm tội nhiều lần,
hoặc phạm tội có tính chuyên nghiệp và thường dùng các thủ đoạn che giấu
nguồn gốc của tài sản bất hợp pháp. Bên cạnh đó, một số người hoạt động trên
các lĩnh vực thường liên quan đến tội phạm này như làm nghề sửa chữa, buôn
bán phụ tùng xe máy; kinh doanh dịch vụ cầm đồ; thu mua sắt vụn; sửa chữa đồ
điện tử và kinh doanh điện thoại… nhiều khi vì hám lời nên đã bất chấp các quy
tắc hành nghề tiêu thụ những tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Như vậy, qua
cơ cấu này thấy rằng nghề nghiệp của người phạm tội cũng có ý nghĩa rất quan
trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tội phạm. Nếu một người rơi vào
hoàn cảnh thất nghiệp, không có việc làm ổn định thì dễ phạm tội hơn là những
người có việc làm và thu nhập ổn định.
Qua số liệu thống kê của VKSNDTC và 100 bản án hình sự sơ thẩm về
tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tác giả đã
nghiên cứu và đưa ra một số cơ cấu về tội phạm này: cơ cấu theo tội danh; theo
loại tội phạm; theo tài sản chứa chấp, tiêu thụ; theo đặc điểm nhân thân của
người phạm tội; theo thời gian, địa điểm phạm tội. Đây là cơ sở quan trọng cho

việc thực hiện hành vi phạm tội của họ.
Thứ năm, về thủ đoạn phạm tội: người phạm tội thường tìm mọi cách
“lách luật” tinh vi dưới hình thức “cầm đồ tín chấp”. Đây cũng là một trong các
lý do cho thấy, trên thực tế, nhiều hành vi phạm tội nhưng chưa bị truy tố, xét
xử.
Lớp N05 – Nhóm 2

Page 10


Bài tập lớn Tội phạm học
Thứ sáu, về địa điểm tiêu thụ tài sản: người phạm tội có hai xu hướng tiêu
thụ đó là tiêu thụ ở địa bàn TP. Hà Nội thông qua các hiệu kinh doanh dịch vụ
cầm đồ… đặc biệt là tại khu vực chợ Trời hoặc mang về các tỉnh lân cận để tiêu
thụ.
Như vậy, qua phân tích, đánh giá trên, tác giả đã phác họa ra một bức
tranh toàn cảnh về tình hình tội phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có trên địa bàn TP. Hà Nội trong khoảng thời gian từ
năm 2005 đến năm 2009. Tội phạm này tuy chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số
vụ phạm tội nói chung trên địa bàn thành phố nhưng nó lại tiếp tay, thúc đẩy
nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phát triển, từ đó làm
cho tình hình trật tự, an toàn xã hội trở nên bất ổn. Diễn biến của tội phạm này
rất phức tạp, không ổn định, lúc tăng lúc giảm gây khó khăn cho công tác
phòng, chống tội phạm.
II) Nhận xét cá nhân về cách trình bày và kết quả nghiên cứu của tác
giả
Từ trước đến nay, dưới góc độ tội phạm học thì tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có mới chỉ có duy nhất một công trình
nghiên cứu là “Đấu tranh phòng chống tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có trên địa bàn tỉnh Sơn La” (Luận văn thạc sĩ của tác

thực trạng và yếu tố diễn biến. Trong đó, thực trạng phản ánh tội phạm xét trong
tổng thể tĩnh còn diễn biến phản ánh tội phạm xét trong tổng thể vận động. Tác
giả đã đáp ứng được đòi hỏi của người nghiên cứu là làm rõ được thực trạng và
diễn biến của tội phạm trong Luận văn thạc sĩ của mình.
Ở phần thực trạng, tác giả đã chia tội phạm thành tội phạm rõ và tội phạm
ẩn để nghiên cứu về tình hình tội phạm. Đó là một phương pháp nghiên cứu phù
hợp với khoa học hiện nay. Cụ thể, tội phạm đã được xử lí về hình sự được coi
là tội phạm hiện nay hay tội phạm rõ khi đã được phản ánh trong thống kê tội
phạm. Các tội phạm đã xảy ra mà không được thể hiện trong thống kê tội phạm
như vậy được gọi là tội phạm ẩn. Việc các tội phạm này không được thể hiện
trong thống kê tội phạm là do không được xử lí về hình sự (không được phát
hiện hoặc được phát hiện nhưng không được xử lí về hình sự) hoặc đã được xử
Lớp N05 – Nhóm 2

Page 12


Bài tập lớn Tội phạm học
lí dứt điểm về hình sự (đã có bản án kêt tội có tội có hiệu lực pháp luật) nhưng
không được đưa vào thống kê tội phạm.
Kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm cho chúng ta “bức tranh” toàn
cảnh về tội phạm đã xảy ra. “Bức tranh” này, bản thân nó là sự cảnh báo cho xã
hội về khía cạnh của tình hình xã hội. Để có được “bức tranh” như vậy đòi hỏi
việc nghiên cứu tình hình tội phạm phải thực hiện các nội dung nghiên cứu cụ
thể và cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với các nội dung
nghiên cứu cụ thể đó. Nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dừng lại ở mô tả
“bức tranh tội phạm” mà đòi hỏi còn phải phân tích “bức tranh”, so sánh các
“bức tranh” với nhau để qua đó có được sự đánh giá đầy đủ và toàn diện tính
nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra – nghiêm trọng về mức độ cũng như
nghiêm trọng về tính chất. Ở đây đòi hỏi việc nghiêm cứu phải sử dụng đến

từ năm 2005 đến năm 2009. Qua đó thấy được rằng tuy TP. Hồ Chí Minh là
trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, về dân số và diện tích lớn gấp 2 lần của Hà
Nội nhưng trong 2 năm 2006 và năm 2007 số người phạm tội ở Hà Nội vẫn
nhiều hơn số người phạm tội này trên TP. Hồ Chí Minh (bằng 125,50% và
107,14%). Tại sao tác giả lại khẳng định rằng “do trong những năm này TP.
Hà Nội tăng cường công tác đấu tranh đối với tội phạm xâm phạm trật tự công
cộng nhất là khu vực chợ Trời nên đã phá được một số đường dây tiêu thụ tài
sản bất hợp pháp lớn”, khi mà trên thực tế số lượng tội phạm ở Hà Nội trong 2
năm như trên vẫn cao như vậy? Điều quan trọng là khi nghiên cứu tình hình tội
phạm, tác giả phải hiểu rằng, các số liệu thống kê chính thức mới chỉ phản ánh
được một phần của tội phạm.
Tóm lại, qua việc nghiên cứu thực trạng của tội phạm theo phạm vi cụ
thể là địa bàn TP. Hà Nội, tác giả đã thu thập các thông số đủ cho phép mô tả
được “bức tranh” tĩnh, toàn cảnh về loại tội phạm này xét về cả mức độ (mặt
định lượng) và về tính chất (mặt định tính).
Khi đánh giá về diễn biến của tội phạm này, tác giả nghiên cứa chỉ đề cập
sự diễn biến về mực độ. Theo đó, các số liệu được dùng để đánh giá diễn biến
chỉ được bó hẹp trong hai loại số liệu là số liệu về tổng tội phạm đã xảy ra và
tổng người phạm tội đã thực hiện các tội phạm đã xảy ra đó (số liệu tại Bảng
số 1). Đánh giá về diễn biến của tội phạm như vậy mới chỉ là đánh giá sự thay
Lớp N05 – Nhóm 2

Page 14


Bài tập lớn Tội phạm học
đổi của tội phạm xét về mức độ. Đánh giá này chưa phản ánh được đầy đủ sự
thay đổi của tội phạm vì chưa đánh giá được sự thay đổi của tội phạm xét về
tính chất. Để đánh giá được đúng sự vận động của tội phạm xét về tính nghiêm
trọng cần phải xét cả hai sự vận động – vận động của tội phạm xét về mức độ và

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. CAND,
Hà Nội, 2012.
2. Dương Tuyết Miên (chủ biên), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2012.
3. Dương Tuyết Miên, “Bàn về tình hình tội phạm”, Tạp chí tòa án nhân
dân, số 24, tháng 12/2007, tr. 5.
Lớp N05 – Nhóm 2

Page 16


Bài tập lớn Tội phạm học
4. Dương Tuyết Miên, “Tội phạm rõ và tội phạm ẩn trong tội phạm
học”, Tạp chí luật học, 3/2010.
5. Kiều Thị Hảo, Phòng ngừa tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
luật học, Hà Nội, 2011.

Lớp N05 – Nhóm 2

Page 17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status