Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THU NAM TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO
NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN TH.S LUẬT

Ngưới hướng dẫn:TS Trần Quang Tiệp Hà Nội 2007


phạm tội mà có, đã gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội, làm phức tạp 2
thêm tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thực tiễn đấu tranh phòng,
chống tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đã
đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải
quyết như khái niệm, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội chứa
chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nguyên nhân, điều
kiện của tội phạm này Về mặt lý luận, xung quanh tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau,
thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, "Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam", mang tính cấp
thiết, không những về mặt lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tội
phạm có tính nhạy cảm cao, phức tạp, đã được một số nhà luật học đề cập trong
Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Giáo trình luật
hình sự Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 1998; Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học
Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
1999 (Phần các tội phạm) của TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS.
ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS.
Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001
Các công trình nói trên đã đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một

phạm tội mà có. 4
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có, dưới góc độ pháp lý hình sự, trong thời gian 10 năm từ năm
1997 đến năm 2007.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, và về xây dựng pháp luật
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án
về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; số liệu
thống kê, báo cáo tổng kết của các cơ quan bảo vệ pháp luật về tội phạm này.
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống,
lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp
khác như so sánh pháp luật, điều tra xã hội
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối toàn
diện và tương đối có hệ thống về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có dưới góc độ pháp lý hình sự. Có thể xem những nội
dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài


6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỨA CHẤP
HOẶC TIÊU THỤ TẢI SẢN DO NGƢỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO
NGƢỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI
PHẠM NÀY TRONG LUẬT HÌNH SỰ.
1.1.1. Khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác
phạm tội mà có
Trong Đại từ điển tiếng Việt, chứa chấp được hiểu là "chứa, cất, giữ
một cách trái phép" [46, tr. 412], còn tiêu thụ được hiểu là "bán được (hàng
hóa)" [46, tr. 1461]. Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có hiểu theo nghĩa chung nhất là hành vi chứa, cất, giữ một cách
trái pháp luật hoặc bán một cách trái pháp luật tài sản do người khác phạm
tội mà có.
Khái niệm tài sản được quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm
2005: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản".
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại dưới một hình thức nhất
định, có thể đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, nằm trong sự chiếm hữu của
con người, có giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Khi là đối tượng
tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo,
chiếm đoạt tài sản… vật phải nằm trong sự chiếm hữu của chủ sở hữu tài sản.
Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá cũng được coi là tài sản. Giấy tờ có giá
trong hoạt động kinh tế hoặc giao dịch dân sự rất đa dạng, Điều 4 Quy chế
phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định
số 02/2005/ QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 04-01-2005
quy định: "Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để

cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản…. bởi lẽ chỉ chủ sở
hữu mới có thể thực hiện quyền này trong giao dịch dân sự. 8
Từ sự phân tích ở trên có thể thấy, thuật ngữ "tài sản" trong cụm từ:
chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là vật,
tiền, giấy tờ có giá vô danh
Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có, mặc dù có mối liên hệ về mặt khách quan với tội phạm do người khác
thực hiện, nhưng không phải là nguyên nhân gây ra hậu quả của tội phạm đó.
Đây là đặc điểm giúp phân biệt hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có với những hành vi của người thực hành, người tổ
chức, người xúi giục, người giúp sức trong đồng phạm. Hành vi chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhưng nó không nằm trong mối liên kết thống nhất với tội phạm được
thực hiện bởi người khác. Người thực hiện tội phạm trước đó không biết trước
được việc tài sản do mình mang về từ hành vi phạm tội sẽ được người khác
chứa chấp hoặc tiêu thụ. Điều đó có nghĩa, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có không tác động vào mặt ý thức chủ quan
đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước đó, không ảnh hưởng đến quá
trình thực hiện tội phạm của người đó.
Mặt khác, cần phân biệt tội che giấu tội phạm và tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cả hai tội phạm này có những
điểm giống nhau như sau:
Thứ nhất, đều được thực hiện sau khi tội phạm do người khác thực
hiện đã hoàn thành và kết thúc trên thực tế.
Tội phạm hoàn thành là một khái niệm pháp lý chỉ hành vi phạm tội
đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm nhất
định được quy định tại Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, còn tội phạm

tra, xử lý người phạm tội. Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có, thì người phạm tội chỉ biết tài sản mà mình chứa chấp,
tiêu thụ là tang vật phạm pháp, chỉ biết chứa chấp, tiêu thụ tài sản đó với mục
đích vụ lợi,mà không có ý thức cản trở việc phát hiện, điều tra và xử lý người
phạm tội. Vì vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có được coi là một trong những tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. 10
Tính chất của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có nguy hiểm hơn so với tội che giấu tội phạm, bởi lẽ hành vi đó gián
tiếp khuyến khích người phạm các tội có tính chất chiếm đoạt tài sản, xâm
phạm trật tự an toàn xã hội, đồng thời nó cũng gây trở ngại cho việc phát
hiện, điều tra, xử lý tội phạm, mặc dù người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có
thể không ý thức được vấn đề đó. Xuất phát từ tính chất nguy hiểm của tội
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, trong pháp luật
hình sự hiện hành, nhà làm luật quy định hình phạt đối với tội này cao hơn
hình phạt đối với tội che giấu tội phạm.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Trước hết, cần khẳng định, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm,
mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm
(dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c)
bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [17, tr.
105].
Từ sự phân tích ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: tội chứa chấp hoặc tiêu

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là
tội phạm vì mục đích vụ lợi, mà bản chất của nó là tham lam, kiếm tiền bằng
cách chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Nói cách
khác, tư tưởng tư hữu, mong muốn có lợi ích từ việc chứa chấp hoặc tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có, không chịu sống bằng lao động chính
đáng là lối sống của người phạm tội này. Vì lẽ đó, việc ghi nhận tội chứa chấp
hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, có ý nghĩa giáo dục cho
mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có tác dụng răn đe đối với những người có ý
định phạm tội này. Như vậy, nó có ý nghĩa giáo dục tính thiện, tức là giáo dục 12
về tư tưởng, hành vi, lối sống, nhân cách con người trong cuộc sống đáp ứng
những yêu cầu của xã hội, phân biệt với cái ác, tức là tư tưởng, hành vi, lối
sống chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, qua đó
bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân, của tập thể, xã hội.
Thứ ba, góp phần bảo vệ, tài sản của Nhà nước, tổ chức và nhân dân.
Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Bộ luật hình sự có nhiệm
vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ
quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội". Việc pháp luật hình sự hiện hành ghi
nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thể
hiện thái độ nhất quán của Nhà nước ta trong việc chống chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ
chức và nhân dân.
1.2. KHÁI LƢỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ
TÀI SẢN DO NGƢỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ
1.2.1. Thời kỳ nhà Ngô đến nhà Lê

được ban hành dưới đời vua Trần Thái Tông và Trần Dụ Tông.
Trần Thái Tông (1225-1258), ông Vua đầu tiên của nhà Trần, sau khi
lên ngôi đã nghĩ ngay đến việc lập pháp. Năm 1230, nhà Vua cho khảo định
lại những luật lệ của các triều vua trước, sửa đổi hình luật, lề nghi, soạn thành
Quốc triều thông chế gồm 20 quyển. Trong cuốn Lịch triều hiến chương loại
chí của Phan Huy Chú, Quốc triều thông chế còn có tên khác là Quốc triều
hình luật. Về bộ luật này, ngày này chỉ còn một đoạn được ghi lại trong cuốn
Lịch triều hiến chương loại chí, quyền thứ ba mươi ba, chương hình luật chí:
"Năm thứ 6, niên hiệu Kiến Trung đời Vua Thái Tông nhà Trần, làm sách
Quốc triều hình luật, khảo xét những luật lệ đời trước làm ra" [19. tr. 525]. 14
Bộ luật thứ hai của triều Trần được ban hành dưới đời Vua Trần Dụ
Tông (1341-1369). Năm 1341, Trần Dụ Tông "sai Trương Hán Siêu, Nguyễn
Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ hình thư để
ban hành" [20, tr. 12].
Cũng như Bộ hình thư thời Lý, hai bộ luật nhà Trần cũng đã bị mất,
cho nên chúng ta không thể biết về từng điều khoản của hai bộ luật đó và
cũng không có tài liệu khẳng định, thời kỳ này có quy định tội chứa chấp hoặc
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không?
Thời kỳ nhà Hồ, về mặt lập pháp hình sự, năm 1401, Hồ Hán Thương
"định quan chế và hình luật nước Đại Ngu" [20, tr. 202]. Nếu như pháp luật
hình sự thời kỳ nhà Lý còn mang nhiều tính khoan dung, đến pháp luật hình
sự thời kỳ nhà Trần đã mang tính nghiêm khắc hơn, thì đến thời kỳ nhà Hồ,
để khôi phục kỷ cương và củng cố uy quyền của Nhà nước phong kiến, chế tài
hình sự được áp dụng đã mang tính chất hà khắc, nặng nề hơn các triều đại
trước rất nhiều. Tuy nhiên, chúng ta chưa có tài liệu khẳng định, thời kỳ này
có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có.

tư; ăn cướp thì biếm năm tư và bãi chức; chủ không có quan chức,
thì thay xử đồ làm chủng điền binh và đều phải bồi thường thay
những tang vật ăn trộm hay ăn cướp. Nếu chủ giấu giếm nhận của
ăn trộm, ăn cướp thì phải đồng tội. Đã báo quan mà sau lại bao dung
những đày tớ ăn cướp ăn trộm ấy, thì xử như tội biết việc mà không
trình [34, tr. 165].
Tại điều luật này, hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội
mà có bị coi là hành vi đồng phạm, mà không cần xem xét điều kiện người
chủ có cùng cố ý thực hiện tội trộm cắp tài sản hoặc tội cướp tài sản với người
đầy tớ hay không? Nhà làm luật trong trường hợp này đã buộc trách nhiệm 16
của người chủ phải quản lý người đày tớ, phải biết tất cả những việc người
đày tớ thực hiện. Đây là một điểm đáng chú ý trong Bộ luật Hồng Đức.
Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được đề cập tại
Điều 460 Quốc triều hình luật:
Những kẻ nhận tài vật của kẻ ăn trộm, thay đổi hình dạng
rồi đem bán, thì xử nhẹ hơn tội ăn trộm một bậc. Nếu vì nhầm mà
nhận những đồ vật ấy, thì chỉ phạt 60 trượng, biếm, biếm hai tư.
Nếu không biết mà mua phải đồ vật ấy, thì truy số tiền mua ở người
bán mà trả cho; còn đồ vật thì phải trả lại chủ mất [34, tr. 166].
Như vậy, tại điều luật này, tương tự như tại Điều 429, tội tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có được nhà làm luật đánh giá là ít nguy hiểm
cho xã hội hơn so với tội phạm chính (ăn trộm). Người mua phải đồ gian,
nhưng ngay tình, thì được lấy lại số tiền đã mua ở người bán, còn đồ gian thì
được trả lại cho người mất trộm. Đây là quy định rất hợp lý, hợp tình, thể hiện
trình độ kỹ thuật lập pháp rất cao của Bộ luật Hồng Đức.
1.1.2. Thời kỳ nhà Tây Sơn đến thời kỳ nƣớc ta bị thực dân Pháp
xâm lƣợc

ngôi hoàng đế, Vua Gia Long giao cho Tiền quân Bắc thành tổng trấn Nguyễn
Văn Thành (1757 - 1817) là Tổng tài soạn thảo Bộ luật có tên Hoàng Việt luật
lệ (Bộ luật Gia Long). Hoàng Việt luật lệ được khắc in lần đầu vào năm 1812
ở Trung Quốc, có hiệu lực từ năm 1813 trên phạm vi toàn quốc [24, tr. 11]. Vì
bắt chước nhà Thanh, cho nên Bộ luật của nhà Nguyễn không gọi là hình thư
hay hình luật như các bộ luật của các triều trước, mà gọi là Hoàng Việt luật lệ
(nhà Thanh gọi là Đại Thanh luật lệ).
Mặc dù chịu ảnh hưởng của Đại Thanh luật lệ khá nặng nề, nhưng
nhiều điều luật trong Hoàng Việt luật lệ vẫn được quy định trên cơ sở tiếp thu
những giá trị lập pháp của Bộ luật Hồng Đức. Điều 7, quyền thứ 13, Hoàng
Việt luật lệ có đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có với tên gọi tội đạo tặc oa trữ (trộm cắp, chứa đồ gian) như sau: 18
Phàm có thâm ý trộm bạo, chứa đồ gian, dù chính bản thân
không thực hiện, chỉ chia phần tang vật thì cũng xử chém. Nếu cùng
thực hiện thì không nói đến việc chia tang vật, không chia tang vật,
chỉ theo bọn mà làm cho có của tiền thì không chia thủ tòng đều bị
chém cả. Nếu không biết việc trộm nọ, chỉ là chứa tạm thì không
buộc tội.
Nếu không cùng đi ăn trộm và cũng không chia tang vật thì
phạt 100 trượng, lưu 3.000 dặm.
Về mưu kế, kẻ chứa đồ gian chưa có thâm ý lập mưu, chỉ là
cùng biết mưu kế của giặc và cùng thực hiện nhưng không chia tang
vật hay có chia tang vật nhưng không cùng thực hiện vụ trộm, thì
đều xử chém cả. Nếu không làm, không chia tang vật, thì phạt 100
trượng [26, tr. 650].
Hoàng việt luật lệ đã có phần giải thích cụ thể về tội trên:
Điều này chuyên luận về tội chứa đồ gian. Trộm cắp thì phải

cất thì tính số tang vật gởi ấy để buộc tội, giảm 1 bậc so với cố ý
mua, như cố ý mua tang vật ấy 100 lạng chia làm hai làm 50 lạng,
phạt 70 trượng, giảm 1 bậc nhân gởi còn 60 trượng. Mút tội cố ý
mua, nhận gởi là 100 trượng.
- Nếu không biết đồ trộm, không mua lầm, không nhận cho
gởi thì không tội [26, tr. 651-652].
Từ quy định trên có thể thấy, Hoàng việt luật lệ đã quy định tội chứa
chấp tài sản do người khác phạm tội mà có ở những điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất, tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, có liên
quan đến một tội chính là tội trộm cắp tài sản.
Thứ hai, nếu cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp dưới dạng giúp sức,
chứa chấp tài sản trộm cắp được, được chia tang vật trộm cắp được, thì bị xử
chém cùng những người trộm cắp. Điều này thể hiện sự nghiêm khắc của Bộ
luật Gia Long đối với tội trộm cắp tài sản.
Thứ ba, nếu cùng thực hiện tội trộm cắp và sau đó chứa chấp tài sản 20
trộm cắp được, thì không cần biết có được chia tang vật trộm cắp được hay
không, đều bị xử chém.
Thứ tư, trường hợp người chứa chấp tài sản trộm cắp được không thực
hiện tội trộm cắp và cũng không được chia tang vật trộm cắp được, thì phạt
100 trượng, lưu 3.000 dặm.
Ngoài ra, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, Hoàng
Việt luật lệ đã có quy định về hiệu lực Bộ luật này theo không gian và theo thời
gian. Về hiệu lực của Bộ luật này đối với các hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt
Nam, Điều 33 - Người ngoại quốc phạm tội - Hoàng Việt luật lệ quy định: "Hết
thảy người ngoại quốc phạm tội thì cũng y luật xử trị. Người ngoại quốc khi đến
(nước nào) là lệ thuộc vào dân bản xứ, như vua, dân nước nầy có tội, cũng
theo luật mà xử, chỉ cho họ biết rằng mọi hành vi không nằm ngoài pháp luật"

người oa trữ đã tri tình. Tuy nhiên, nếu tội danh ấy là tử hình hay
khổ sai chung thân, thời người oa trữ sẽ bị phạt khổ sai từ 6 năm
đến 20 năm [21, tr. 470-471].
Từ quy định trên có thể thấy, tội chứa chấp tài sản do người khác
phạm tội mà có đã được Hoàng Việt hình luật đề cập cụ thể hơn so với quy
định tương ứng trong Hoàng Việt luật lệ. Tội chứa chấp tài sản do người khác
phạm tội mà có không chỉ liên quan tội trộm cắp tài sản như trong Hoàng Việt
luật lệ, mà có thể liên quan đến những tội phạm khác, và hình phạt đối với tội
này chỉ bằng một nửa hình phạt đối với tội phạm mà nó liên quan, trừ trường
hợp nếu hình phạt đối với tội phạm mà nó liên quan là tử hình, hay khổ sai
chung thân, thì người phạm tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà
có sẽ bị phạt khổ sai từ 6 năm đến 20 năm. Đây có thể coi là một bước tiến bộ
đáng kể về kỹ thuật lập pháp hình sự đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có trong Hoàng việt hình luật.
1.1.3. Thời kỳ từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
cho đến nay
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non
trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Nền kinh tế của đất nước 22
vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh và
thiên tai tàn phá. Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ
lớn, đó là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác
định giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu" [30, tr. 468].
Để bảo vệ những công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc
gia, Nhà nước ta cũng đã ban hành Sắc lệnh số 26/SL ngày 25-02-1946 trừng trị
nghiêm khắc những kẻ phá hoại cầu cống, đường xe lửa, đường giao thông, đê
đập, các nhà máy điện, nhà máy nước, dây điện thoại, điện tín Đáng chú ý, Sắc
lệnh này đã đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
riêng của công dân thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, không những
đối với tài sản xã hội chủ nghĩa, mà cả đối với tài sản riêng của công dân.
Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa
quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt
như sau:
1. Kẻ nào biết rõ tài sản xã hội chủ nghĩa đã bị chiếm đoạt mà
chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.
2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây:
a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;
b) Có tổ chức;
c) Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản với số lượng lớn hay là tài
sản có giá trị đặc biệt;
d) Dùng tài sản chứa chấp vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu
cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác; thì bị phạt tù từ 3
năm đến 12 năm.
Trong Pháp lệnh trên, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ
nghĩa bị chiếm đoạt được hiểu là tội phạm do người tuy đã biết rõ là tài sản xã
hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt, nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ dưới bất kỳ hình
thức nào (mua để dùng, mua đi bán lại, nhận bán hộ, nhận giữ hộ, cầm cố, gán
nợ…). Những hành vi này đã gián tiếp khuyến khích người trực tiếp chiếm
đoạt bất hợp pháp tài sản xã hội chủ nghĩa. Điểm quan trọng là phải xác định 24
rõ ý thức chủ quan của người phạm tội. Nếu không biết được tài sản bị chiếm
đoạt, thì việc chứa chấp, tiêu thụ không cấu thành tội phạm. Pháp lệnh này đã
phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt
với tính chất là tội phạm độc lập (có khung hình phạt tương đối nhẹ), mà đặc
điểm là người chứa chấp, tiêu thụ không cùng với người chiếm đoạt tài sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status