Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có trong luật hình sự việt nam - Pdf 10

Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà
có trong luật hình sự Việt Nam Nguyễn Triệu Như Thường Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật Hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: PGS.TSKH. Lê Văn Cảm
Năm bảo vệ: 2008 Abstract. Nghiên cứu, phân tích các khía cạnh pháp lý của tội hợp pháp hóa tiền, tài
sản do phạm tội mà có như cấu thành tội phạm, hình phạt, trách nhiệm hình sự
Trình bày thực trạng tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có và thực tiễn
giải quyết các vụ án này tại Việt Nam trong những năm qua. Làm rõ bản chất, mức
độ nguy hiểm và những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động hợp pháp hóa tiền, tài sản
do phạm tội mà có đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam. Từ đó, phân tích, so
sánh với các dấu hiệu tương tự trong tội rửa tiền, nêu bật ưu điểm của việc quy định
trong Bộ luật hình sự tội rửa tiền so với tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội
mà có để thấy sự cần thiết phải thay thế tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội
bằng tội rửa tiền. Xây dựng mô hình lý luận của kiến giải lập pháp về cấu thành tội
phạm tội rửa tiền thay thế cho tội hợp pháp hóa tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có
như: hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến tội rửa tiền, tăng cường hợp
tác quốc tế trong đó có tham gia các Điều ước quốc tế liên quan đến phòng, chống
tội phạm rửa tiền, hoàn thiện các thiết chế thực thi hoạt động phòng, chống rửa tiền.

Keywords. Pháp luật Việt Nam; Luật hình sự; Phạm tội; Tội rửa tiền
sụp đổ hệ thống này, phá vỡ nền kinh tế của đất nước. Vì vậy, cần thiết phải quy định tội Rửa
tiền để ngăn chặn và xử lý hiệu quả các hành vi rửa tiền phát sinh trong nước, để Việt Nam
không trở thành nơi các tổ chức tội phạm quốc tế lợi dụng làm địa điểm tẩy rửa tiền, tài sản
có nguồn gốc bất hợp pháp.
Thứ hai, các tội phạm tạo ra các nguồn tiền, thu nhập bất hợp pháp như tham nhũng,
buôn lậu, cờ bac, mại dâm ở Việt Nam còn nhiều và việc ngăn chặn chưa đạt được những kết
quả cần thiết. Vì vậy, những khoản thu nhập này sẽ có nhu cầu được “làm sạch” và do đó sẽ
làm gia tăng hoạt động rửa tiền ở Việt Nam.
Thứ ba, Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong đấu tranh phòng và chống tội rửa tiền. Do
đó, cần quy định tội Rửa tiền trong BLHS nhằm tăng cường cảnh giác với các hình thức của
tội phạm rửa tiền và nâng cao kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống loại tội này.
Thứ tư, với việc hội nhập nền kinh tế thế giới và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế
lớn, Việt Nam phải cam kết thực hiện nhiều vấn đề, trong đó có việc chỉnh sửa hệ thống pháp
luật, tham gia vào các tổ chức quốc tế trong đó có tổ chức về chống rửa tiền và tài trợ khủng
bố như FATF. Nếu không tham gia vào cuộc chiến mang tính quốc tế về chống rửa tiền, Việt
Nam sẽ mất đi sự tôn trọng của cộng đồng quốc tế và là đối tượng bị áp dụng nhiều biện pháp
gây bất lợi cho nền kinh tế. Việc quy định tội Rửa tiền thay cho tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản
do phạm tội mà có là một trong những cơ sở tất yếu giúp Việt Nam thực hiện các cam kết
quốc tế trong hội nhập và toàn cầu hóa.
1.2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm các mục đích sau:
- Nghiên cứu, phân tích các khía cạnh pháp lý của tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do
phạm tội mà có như cấu thành tội phạm, hình phạt, trách nhiệm hình sự v.v
- Nghiên cứu thực trạng tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có và thực tiễn
giải quyết các vụ án này tại Việt Nam những năm qua.
- Làm rõ bản chất, mức độ nguy hiểm và những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động hợp
pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam. Từ đó, tác
giả phân tích, so sánh với các dấu hiệu tương tự trong tội Rửa tiền, làm bật ưu điểm của tội
Rửa tiền so với tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có để thấy sự cần thiết phải

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI HỢP PHÁP HÓA TIỀN, TÀI SẢN
DO PHẠM TỘI MÀ CÓ
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu cơ bản của tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm
tội mà có
1.1.1. Khái niệm
Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là một tội mới, được quy định lần đầu
tiên trong Bộ luật hình sự 1999 tại Điều 251. Điều luật quy định như sau:
Điều 251: Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có
1. Người nào thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để
hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành
các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến
năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười
năm:
a. Có tổ chức;
b. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c. Phạm tội nhiều lần.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến mười
lăm năm.
4. Người phạm tội có thể bị tịch thu tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài
sản được hợp pháp hóa, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm.
Như vậy, điều luật trên rất chung chung, chỉ quy định hai nhóm hành vi khách quan mà
không nêu ra hành vi cụ thể nào của tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có, và
hoàn toàn chưa đưa ra khái niệm Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có.
1.1.2. Các dấu hiệu cơ bản của tội “Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có”
* Chủ thể:
Chủ thể của tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có là chủ thể đặc biệt. Tính
đặc biệt được thể hiện trước tiên ở chỗ: trước khi trở thành chủ thể của tội phạm này, người

hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, hoặc
+ Sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh
hoặc hoạt động kinh tế khác.
Việc Bộ luật Hình sự quy định hai nhóm hành vi như trên còn bộc lộ nhiều hạn chế
như: quy định các hành vi khách quan còn chung chung, chưa bao quát hết được các hình
thức, biến thái của hoạt động rửa tiền trên thực tế, không miêu tả các phương thức thực hiện
hành vi tẩy rửa tiền, không quy định rõ người nào thực hiện hành vi hợp pháp hóa tiền, tài
sản do phạm tội mà có sẽ bị trừng trị, do đó dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
*Hình phạt: Theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự 1999, tội Hợp pháp hóa tiền,
tài sản do phạm tội mà có có ba (3) khung hình phạt: khung cơ bản từ một năm đến năm năm
tù; khung tăng nặng từ ba năm đến mười năm tù hoặc từ tám năm đến mười lăm năm tù.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như tịch thu tài sản, phạt
tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến
năm năm.
* Hậu quả: không quy định là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt.
* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan với hậu quả của tội phạm: việc
thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền, tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp phải có
mối quan hệ và là nguyên nhân làm cho tiền, tài sản đó có nguồn gốc hợp pháp.
1.1.3. Khung pháp lý về tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có
Hiện nay, tội “Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có” được quy định duy nhất
tại Điều 251 Bộ luật hình sự 1999, chưa có văn bản nào hướng dẫn thi hành về tội này.
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu cơ bản của tội Rửa tiền
1.2.1. Một số vấn đề chung về rửa tiền:
* Nguồn gốc thuật ngữ "rửa tiền"
Rửa tiền (tiếng Anh: Money laundering) - là cách nói nhằm chỉ sự "làm sạch đồng tiền"
phù hợp theo luật pháp, là hoạt động giao dịch tài chính đặc biệt để giấu tên, nguồn và nơi
đến của đồng tiền. Nói một cách dễ hiểu, Rửa tiền là hành vi che giấu hoặc đánh lừa việc
nhận biết tiền do phạm tội mà có, làm cho tiền này có bề ngoài hợp pháp.
Tuy nhiên, thuật ngữ "rửa tiền" chỉ chính thức ra đời ở thế kỷ XX, xuất phát từ các
Mafia Mỹ trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới.

i. Chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản mà biết rằng tài sản đó có nguồn gốc từ
hành vi phạm tội buôn bán bất hợp pháp ma túy nhằm mục đích che giấu nguồn gốc bất hợp
pháp của tài sản hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào tham gia thực hiện hành vi buôn bán
bất hợp pháp ma túy để tránh những hậu quả pháp lý do hành động của người đó gây ra;
ii. Che dấu bản chất thực, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, sự dịch chuyển, các
quyền liên quan, hoặc quyền sở hữu tài sản mà biết rằng tài sản đó có nguồn gốc từ tội phạm
buôn bán ma túy;
iii. Có được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản mà biết rằng tài sản đó có nguồn gốc từ
tội phạm buôn bán ma túy
Định nghĩa về hành vi phạm tội rửa tiền của Công ước Viên được chấp nhận rộng rãi
nhất và được sử dụng trong tất cả các văn bản pháp luật quốc tế hiện hành về lĩnh vực này.
Hội đồng châu Âu đã chấp thuận các quy định của Công ước Viên trong Công ước của
mình về rửa tiền, khám xét, thu giữ và tịch thu tiền, tài sản do phạm tội mà có (Công ước
Strasbong ký ngày 08/10/1990).
Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) - một tổ chức được công nhận
là tổ chức đặt tiêu chuẩn quốc tế cho những nỗ lực về chống rửa tiền - đưa ra định nghĩa súc
tích cho thuật ngữ “rửa tiền” là “việc xử lý… tiền do phạm tội mà có nhằm che đậy nguồn
gốc bất hợp pháp của chúng” nhằm “hợp pháp hóa” những món lợi thu được một cách bất
chính từ hành vi phạm tội”.
Sử dụng định nghĩa của Công ước Viên, Điều 6, Công ước về chống tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc (Công ước Palécmô năm 2000) mở rộng định nghĩa
rửa tiền.
Tại Việt Nam, rửa tiền còn là một khái niệm mới và chưa được thống nhất trong khoa
học pháp lý cũng như luật thực định.
Trong khoa học pháp lý, hiện tồn tại một số quan điểm sau đây về khái niệm “Rửa
tiền”:
Quan điểm của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm: “Rửa tiền là hoạt động tội phạm nhằm mục
đích che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản cho phép chủ nhân của tài sản được hưởng
dụng tài sản một cách hoàn toàn hợp pháp, để kinh doanh kiếm lời hoặc để cung cấp tài
chính cho các hoạt động phạm tội khác.”

hậu quả đó.
- Mặt khách quan:Rửa tiền là loại tội được tiến hành qua nhiều công đoạn. Vì vậy một
mình ai đó không thể tẩy rửa hết nguồn gốc bất chính của tiền. Do đó, hành vi khách quan
của tội này sẽ phải bao gồm tất cả các thao tác, hành vi tham gia hoặc hỗ trợ vào quá trình rửa
tiền.
- Hình phạt: Mức hình phạt như quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự đã đủ sức răn đe
đối với người phạm tội nên trong tội Rửa tiền có thể giữ nguyên các khung hình phạt này.
1.2.5. Khung pháp lý về đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền trong nền kinh tế
thị trường Việt Nam hiện nay
Khung pháp lý để đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền ở Việt Nam hiện nay bao
gồm:
- Bộ luật Hình sự: Điều 251 và các điều luật khác có liên quan (Điều 194, 153, 161,
154, 250, 178, 279, 280, 283, 284, 289, 290, 181, 268). Bộ luật hình sự là văn bản quy phạm
pháp luật quan trọng nhất trong việc đấu tranh phòng, chống rửa tiền vì Bộ luật hình sự quy
định biện pháp hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất.
- Các văn bản pháp luật khác:
+ Nghị định 74/2005/NĐ-CP ngày 08/06/2005 của Chính phủ về Phòng chống rửa tiền
+ Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư, Luật Doanh
nghiệp, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật phòng chống mại dâm, Luật phòng chống ma túy,
Luật phòng chống tham nhũng. Các văn bản quy phạm pháp luật này quy định việc kiểm soát
đối với hoạt động rửa tiền trong các lĩnh vực như giao dịch tài chính, đầu tư, thành lập doanh
nghiệp hay kiểm soát đối việc hình thành các khoản tiền hoặc thu nhập hợp pháp từ hoạt
động phạm tội như mại dâm, ma túy…
- Các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Việt Nam đã ký kết các công ước quốc tế liên quan đến phòng, chống rửa tiền như:
Công ước Palermo về chống tội phạm xuyên quốc gia, Công ước Viên về chống buôn lậu ma
túy và các chất hướng thần, Công ước về chống tham nhũng, Công ước về chống tài trợ cho
khủng bố. Quan trọng nhất là tháng 5/2007, Việt Nam đã gia nhập thành viên Nhóm Châu Á-
Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) và cam kết thực hiện 40+9 Khuyến nghị của Lực
lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF).

2.2.2. Thực tiễn giải quyết một số vụ án cụ thể
Từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự Việt Nam mới xử lý hình sự 02 vụ án về tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Gần đây nhất Công an thành phố Đà Nẵng đã phát hiện và bắt giữ hai đối tượng: Baggio
Carlitos Linska, Massamba Lendebe Visquốc tịch Mozambique, đã có hành vi rửa 295.650
bảng Anh (khoảng 8,9 tỷ đồng) tiền đánh cắp từ tài khoản ở nước ngoài tại hệ thống ngân
hàng Việt Nam. Đây là tiền do bọn tội phạm đánh cắp từ nước ngoài gửi vào Việt Nam cho
hai đối tượng trên.
Vụ án và các đối tượng liên quan đã được giao lại cho Bộ Công an và Interpol xử lý theo
đúng quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
2.3. Phòng, chống rửa tiền trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1. Hợp tác phòng chống rửa tiền trên phạm vi quốc tế
Một trong những hệ thống luật quốc tế đầu tiên là Uỷ ban Basel về các luật lệ ngân
hàng và các quy tắc thực hành giám sát năm 1988.
Trên bình diện quốc tế, chống rửa tiền được liên kết và có liên quan đến nhiều tổ chức,
từ Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) đến Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Bộ máy có tính
hệ thống cao và ràng buộc chặt chẽ hiện là Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền
(FATF), được nhóm G-7 thành lập tại Paris năm 1989. Hiện tại, FATF có 34 quốc gia thành
viên, 2 quốc gia quan sát viên và 5 tổ chức khu vực là thành viên liên kết. FATF được coi là
bộ máy chống rửa tiền hiệu quả nhất hiện nay bởi liên hệ không chỉ chính phủ sở tại mà còn
nhiều cơ quan chuyên trách chống tội phạm (chẳng hạn Cảnh sát Quốc tế - Interpol).
Năm 1990, FAFT đã ban hành 40 khuyến nghị về phòng, chống rửa tiền, được sửa đổi
vào năm 1996, 2000 và năm 2003. Vào tháng 10/2001, FATF đã mở rộng trách nhiệm giải
quyết các vấn đề về tài trợ khủng bố và đã xây dựng 8 khuyến nghị đặc biệt chống tài trợ
khủng bố. Vào tháng 10/2004, FATF đã thông qua khuyến nghị đặc biệt 9 liên quan đến
người vận chuyển tiền mặt qua biên giới.
2.3.2. Phòng, chống rửa tiền tại Việt Nam
Tại điều 251, Bộ Luật hình sự 1999 của nước ta đã quy định tội danh hợp pháp hoá
tiền, tài sản do phạm tội mà có, được coi là cơ sở để xây dựng Nghị định 74/2005/NĐ-CP về
phòng, chống rửa tiền hiện nay. Luật chống tham nhũng, Luật phòng, chống ma tuý, Luật

PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
3.1. Thay thế tội Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có bằng tội Rửa tiền
3.1.1. Quy định thống nhất khái niệm rửa tiền trong hệ thống pháp luật
Khoa học pháp lý và luật thực định hiện nay của Việt Nam chưa có một khái niệm
chuẩn và thống nhất về khái niệm "Rửa tiền". Để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả loại tội
này trong thực tiễn cần thiết phải quy định thống nhất khái niệm "Rửa tiền" trong các văn bản
pháp luật.
3.1.2. Một số kiến nghị về việc quy định mới tội Rửa tiền trong Bộ luật Hình sự
* Định nghĩa khoa học về "Rửa tiền"
Theo quan điểm của tác giả thì khái niệm rửa tiền được quy định trong Nghị định
74/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã bao quát hết dấu hiệu hành vi khách quan của tội này. Tuy
nhiên, định nghĩa ở Nghị định 74/2005/NĐ-CP quy định chưa đầy đủ yếu tố “nhận thức” của
chủ thể về nguồn gốc của tài sản, thu nhập do phạm tội mà có. Việc Nghị định 74/2005/NĐ-
CP quy định chủ thể phải có dấu hiệu “tìm cách” tức là chủ thể không chỉ biết rõ mà còn tích
cực trong việc hợp thức hóa tiền đã loại bỏ nhiều hành vi cấu thành tội này, tức là chủ thể
trước đó có thể không biết nhưng trong quá trình thức hiện hành vi biết mà không dừng lại.
Vì vậy, khái niệm rửa tiền cần được định nghĩa lại như sau:
"Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức thông qua các hoạt động cụ thể sau:
a. Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do
phạm tội mà có;
b. Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển, sử dụng,
vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;
c. Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm cách
khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí,
quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có
nếu chủ thể biết hoặc có thể biết vào thời điểm thực hiện giao dịch hoặc bất kỳ thời
điểm thực hiện hành vi nào tài sản có nguồn gốc do phạm tội mà có."
* Các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Chủ thể

+ Thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp
hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, hoặc;
+ Sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh
hoặc hoạt động kinh tế khác;
+ Sở hữu, sử dụng, giấu diếm, che dấu, vứt bỏ hay mang vào Việt Nam bất kỳ loại tài
sản nào do phạm tội mà có;
+ Biến đổi hoặc chuyển nhượng tài sản đó hoặc mang nó ra khỏi Việt Nam.
* Hình phạt
Xét về hình phạt, tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có được quy định ở
Điều 251 có mức hình phạt cao hơn sơ với tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có được quy định ở Điều 250 của Bộ luật hình sự 1999. Hơn nữa, tội Hợp pháp
hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có quy định ba (3) khung hình phạt trong đó quy định khung
hình phạt cơ bản có mức cao nhất là đến năm (5) năm tù (tội phạm nghiêm trọng) và khung
hình phạt cao nhất (khoản 3) là đến 15 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng) là mức khung hình
phạt tương đối cao, đủ sức răn đe với loại tội phạm này. Vì vậy, tội Rửa tiền không cần quy
định mức khung hình phạt cao hơn so với tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Hơn nữa, hầu hết các nước đều quy định mức tối đa của khung hình phạt đối với tội Rửa tiền
là đến 15 năm tù nên chúng ta không cần thiết phải sửa đổi về mức hình phạt đối với loại tội
này.
* Vấn đề trách nhiệm hình sự
- Trách nhiệm hình sự đối với các loại người đồng phạm: Tội rửa tiền thường là tội
phạm có tổ chức vì vậy vấn đề làm rõ trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm có ý
nghĩa rất quan trọng. Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999, các loại người đồng phạm bao
gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Tội Rửa tiền cũng bao gồm cả bốn loại người đồng phạm trên, trong đó trách nhiệm
hình sự của người tổ chức là nặng nhất.
- Trách nhiệm của pháp nhân đối với việc xử lý hành vi rửa tiền
Luật hình sự Việt Nam không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vì vậy
không thể đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Tuy nhiên, vì rửa tiền thường
thực hiện thông qua các công ty, vì vậy việc xử lý các công ty vi phạm bằng các biện pháp

năm:
a. Có tổ chức;
b. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c. Phạm tội nhiều lần;
d. Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn;
đ. Thu lợi bất chính lớn;
e. Gây hậu quả nghiêm trọng
f. Phạm tội chuyên nghiệp
g. Tái phạm nguy hiểm
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ tám năm đến mười
lăm năm:
a. Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
b. Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
c. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;
4. Người phạm tội có thể bị tịch thu tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài
sản được hợp pháp hóa, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm.
Như vậy, với việc quy định tội rửa tiền với cấu thành tội phạm như trên, tội rửa tiền sẽ
thay thế hai tội bao gồm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
được quy định ở Điều 250 và tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có được quy định
ở Điều 251của Bộ luật hình sự 1999. Rõ ràng với việc thay thế hai tội tội chứa chấp hoặc tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có
được thì số vụ án rửa tiền sẽ được phát hiện và xử lý nhiều hơn ở Việt Nam chứ không chỉ có
một số ít vụ được phát hiện như hiện nay. Điều này sẽ làm tăng nỗ lực thực hiện các cam kết
của Việt Nam trong việc đấu tranh có hiệu quả hoạt động rửa tiền.
3.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến tội rửa tiền
- Hoàn thiện pháp luật về phòng chống các tội phạm nguồn của tội Rửa tiền như: tham
nhũng, buôn lậu, ma túy, mại dâm, cờ bạc v.v
- Xây dựng Luật phòng, chống rửa tiền thay cho Nghị định về Phòng, chống rửa tiền
- Hoàn thiện pháp luật về các định chế tài chính liên quan đến rửa tiền theo hướng nâng

3.5. Xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phòng, chống rửa tiền
Như phân tích ở trên, việc phòng chống rửa tiền là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, đây
không phải là nhiệm vụ dễ dàng mà đòi hỏi sự huy động các lực lượng của xã hội cùng tham
gia. Để làm được điều này thì việc xây dựng một “Chiến lược quốc gia về phòng, chống rửa
tiền đến năm 2020” là hết sức cần thiết.

KẾT LUẬN
Phát triển kinh tế thị trường và ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới đã
tạo cơ hội cho hoạt động rửa tiền có cơ hội phát triển ở Việt Nam. Mặc dù, Việt Nam chưa có
một thống kê chính thức nào về hoạt động rửa tiền và ước lượng qui mô của nó. Tuy nhiên,
trong một vài năm gần đây một số vụ có dấu hiệu rửa tiền đã được phát hiện ở Việt Nam.
Trong một vài năm tới, nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục hội nhập sâu hơn vào hệ thống kinh
tế, tài chính thế giới khi mà các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ của WTO dần có
hiệu lực. Điều này đặt ra các thách thức trong pháp luật, kiểm soát tài chính và nhất thiết là
các công cụ chống rửa tiền chúng ta cần nhanh chóng phải xây dựng. Mặt khác, sự hội nhập
này cũng làm cho hệ thống tài chính của Việt Nam đối mặt nhiều hơn nữa các hành vi rửa
tiền ở cấp độ tinh vi hơn và nó mang tầm cỡ quốc tế. Đây là một trở ngại và thách thức đáng
kể trong phát triển kinh tế của Việt Nam.
Trên bình diện quốc tế, các quốc gia đặc biệt là các nước phát triển ngày càng ý thức
được tác hại của việc rửa tiền vì nó không chỉ làm gia tăng tội phạm nguồn ở các nước này
(nhất là các tội phạm liên quan đến buôn bán ma túy, hội lộ cho quan chức các nước đang
phát triển sử dụng nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) hay các tội phạm liên
quan đến người nhập cư và lao động nhập cư) mà còn đây chính là nguồn tài chính tài trợ cho
bọn khủng bố quốc tế. Vì vậy, nhiều quốc gia đặt vấn đề viện trợ và đầu tư nước ngoài gắn
liền với nỗ lực phòng, chống rửa tiền của nước tiếp nhận viện trợ và tiếp nhận đầu tư. Vì vậy,
đối với một quốc gia vẫn còn phụ thuộc nhiều vào việc tiếp nhận viện trợ phát triển và tiếp
nhận đầu tư như Việt Nam thì việc nỗ lực phòng, chống rửa tiền có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng.
Một trong các công cụ để phòng, chống rửa tiền có hiệu quả đó chính là Bộ luật hình
sự. Mặc dù Bộ luật hình sự 1999 có quy định về tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội

10. Quốc hội (2008), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy số
16/2008/QH12 ngày 03/06/2008, Hà Nội.
11. Quốc hội (2005), Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 ngày 09/12/2005, Hà
Nội.
12. Quốc hội (2007), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng
số 01/2007/QH12 ngày 04/08/2007, Hà Nội.
13. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội.
14. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Hà Nội.
15. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2003), Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-
UBTVQH11 ngày 14/03/2003, Hà Nội.
16. Chính phủ (2005), Nghị định số 74/2005/NĐ-CP ngày 07/06/2005 về Phòng, chống rửa
tiền, Hà Nội.
17. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2007), Quyết định số 1727/QĐ-NHNN ngày
23/7/2007 về việc Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin
phòng, chống rửa tiền, Hà Nội.
18. Thủ tướng Chính phủ (2002), Công văn số 631/VPCP-NC ngày 23/10/2002 về công tác
phòng, chống khủng bố, Hà Nội.
Sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo
19. Nguyễn Hòa Bình (2004), Đấu tranh phòng chống tội phạm rửa tiền ở Việt Nam. NXB
Công an nhân dân, Hà Nội.
20. Bộ Tài chính Mỹ (2007), Mạng lưới thi hành luật pháp về tội phạm tài chính, Ngăn chặn
nạn rửa tiền.
21. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự: phần chung,
NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
22. Lê Văn Cảm (2001), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Khoa Luật trực
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (Tập thể tác giả do PGS.TSKH Lê Văn Cảm chủ
biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
23. Lê Văn Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật Hình sự, NXB
Công an nhân dân, Hà Nội.
24. Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,

(12/2001).
40. Nguyễn Xuân Yêm (2000 ), Phòng chống các loại tội phạm ở Việt Nam thời kỳ đổi mới,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Anh
41. Financial Action Task Force (2007), Annual Review of Non-Cooperative Countries and
Territories 2006-2007: Eighth NCCT Review,
42. Financial Action Task Force (2008), Money Laundering & Terrorist Financing
Vulnerabilities of Commercial Websites and Internet Payment System,

43. Madinger, J., và Zalopaly S. (1999), Money Laundering: A Guide for Criminal
Investigators, Taylor and Francis, New York
44. Reuter, Peter and Truman, Edwin M. (2004), Chasing Dirty Money: The Fight Against
Money Laundering, Institute for International Economcs Publisher, Washington.
45. United Nations (1988), Convention against Illicit Traffic inNarcotic Drugs and
Psychotropic Substances.
46. United Nations (1999), International Convention for the Suppression of the Financing of
Terrorism
47. United Nations (2000), Convention against Transnational Organized Crime.
48. United Nations (2003), Convention against Corruption
49. Walker, John (1998), Modelling Global Money Laundering Flows - some findings, Các trang thông tin điện tử
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status