Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ THU CHANG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Quốc Toản

HÀ NỘI - 2012

4

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan


Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
18
1.2.2.
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
20
1.2.3.
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
24
1.3.
Nghiên cứu so sánh các quy định về tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy trỏng luật hình sự Việt Nam với luật hình
sự một số nước
27
1.3.1.
Bộ luật hình sự Nhật Bản
27

5
1.3.2.
Bộ luật hình sự Canada
30
1.3.3.
Bộ luật hình sự của Liên bang Nga
31

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI
PHÉP CHẤT MA TÚY THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 197 Bộ luật hình sự
58
2.2.4.
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 197 Bộ luật hình sự
60
2.3.
)hân biệt tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với
một số tội phạm về ma túy khác trong luật hình sự Việt Nam
64
2.3.1.
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
ma túy (Điều 194 Bộ luật hình sự)
66
2.3.2.
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ
67

6
dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy
(Điều 196 Bộ luật hình sự)
2.3.3.
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội
chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198 Bộ
luật hình sự)
69
2.3.4.

87
3.2.2.
Những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
90
3.3.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
93
3.3.1.
Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của
Bộ luật hình sự hiện hành trong tương quan với các văn bản
94

7
pháp luật khác về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
3.3.2.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
95
3.3.3.
Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp
luật và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và xét xử nghiêm
minh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
97
3.3.4.
Giải pháp nâng cao năng lực, trách nhiệm và tăng cường điều
kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ cho đội ngũ
cán bộ trực tiếp làm công tác điều tra, truy tố, xét xử và cán
bộ làm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy
98

3.2
Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy từ năm 2005 - 2010
74
3.3
Tổng số vụ án, số bị cáo do Tòa án xét xử về tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy trong tương quan với các
tội phạm về ma túy
75
3.4
Về hình phạt và các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình
sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo bị Tòa án xét xử
về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
76
3.5
Phân tích đặc điểm nhân thân của các bị cáo bị Tòa án xét
xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
77

9
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, cộng đồng quốc tế đang phải

phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Tuy nhiên, các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy còn chưa hoàn thiện, nhất là thiếu quy phạm định
nghĩa và một số quy định liên quan các yếu tố định tội và định khung hình
phạt chưa rõ ràng nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất
trong việc nhận thức về dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và định tội danh đối
với tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, trong quá trình
điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này còn nhiều nhận định khác nhau giữa
những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về việc định tội
danh và định khung hình phạt hoặc không phân biệt được sự khác nhau giữa
tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm về ma túy khác
trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Từ những lý do nêu trên, việc tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên
cứu "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu
các tội phạm về ma túy nói chung bắt đầu đã được triển khai sâu rộng và đã
thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự
và cán bộ thực tiễn. Đến nay, ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp
đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đồng thời được thể hiện ở
một số luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo
trình như: GS.TSKH Lê Văn Cảm (2004), Sách chuyên khảo Sau đại học:
Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)", Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội; Tập thể tác giả do TSKH.PGS Lê Văn Cảm (chủ biên)

11
(2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội. Ngoài ra, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được
nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu của Ths. Đinh Văn Quế, Bình

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, luận văn làm sáng tỏ các dấu
hiệu pháp lý của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, phân biệt tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm khác, nghiên cứu lịch
sử hình thành và phát triển về tội phạm này, đánh giá thực tiễn xét xử loại tội
phạm này ở nước ta trong thời gian từ năm 2005 - 2010, trên cơ sở đó chỉ ra
một số tồn tại, hạn chế trong lý luận và thực tiễn, các nguyên nhân cơ bản,
qua đó tìm giải pháp về mặt thực tiễn để góp phần phòng, chống tội phạm này.
4. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nhằm làm rõ nội dung pháp lý của tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy, dựa trên những vấn đề lý luận và thực
tiễn xét xử ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến của cá nhân nhằm
góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, tăng cường hiệu quả công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối
của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so

13
sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn;
nghiên cứu, điều tra án điển hình… để phân tích và luận chứng các vấn đề
khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này. Trong quá trình thực hiện đề tài
luận văn, tác giả tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình

dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.
Chương 3: Thực tiễn xét xử, những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các
quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy và nâng cao hiệu quả áp dụng. 15
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI TỔ CHỨC SỬ
DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Luật hình sự là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống tội
phạm nói chung cũng như tội phạm có dấu hiệu "có tổ chức" nói riêng. Trong
khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, tội phạm có dấu hiệu "có tổ chức"
được quy định gồm hai loại: Loại tội có dấu hiệu có tổ chức là dấu hiệu định
tội thuộc mặt khách quan của tội phạm và loại tội phạm có dấu hiệu có tổ
chức là dấu hiệu tăng nặng định khung hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Thứ nhất, tội phạm có dấu hiệu có tổ chức được quy định là dấu hiệu
định tội thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm có hai nhóm: nhóm thứ nhất
bao gồm một số tội xâm phạm an ninh quốc gia, điển hình là tội bạo loạn
(Điều 82 Bộ luật hình sự), tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền dân chủ
nhân dân (Điều 79 Bộ luật hình sự); nhóm thứ hai gồm có các tội: Tội tổ chức
tảo hôn (Điều 148), tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), tội

vi phạm tội. Người phạm tội có hành vi tổ chức cho người khác thực hiện
hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc đưa trái phép chất ma túy vào cơ
thể người khác. Đây thực sự là loại tội phạm nguy hiểm, hành vi tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy đã và đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho ma
túy lan tràn vào đời sống xã hội một cách nhanh chóng, gây nguy hiểm cho
tính mạng, sức khỏe của con người. Hoạt động tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy thường diễn ra ở các địa điểm phức tạp, ngóc ngách, ẩn khuất, v.v để
tránh sự theo dõi của các cơ quan chức năng, như: bến xe, nhà ga, vũ trường
và nhằm vào các đối tượng thanh thiếu niên đua đòi trong các gia đình khá

17
giả. Bởi vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy hiện nay còn gặp nhiều khó khăn.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học phát hành, khái
niệm "tổ chức" với chức năng từ loại là danh từ, được hiểu là tập hợp người
được tổ chức lại, hoạt động vì quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung
(như tổ chức phi chính phủ, tổ chức thương mại thế giới, v.v ). Với chức
năng động từ thì "tổ chức" được hiểu là quá trình xác định công việc cần phải
làm và những người làm các công việc đó, có quy định rõ chức trách, nhiệm
vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận cá nhân cũng như mối liên hệ giữa các bộ
phận cá nhân này trong khi tiến hành công việc, nhằm thiết lập một môi
trường thuận lợi cho các hoạt động và đạt đến mục tiêu chung của tổ chức
(như tổ chức bộ máy hành chính, tổ chức đời sống, tổ chức mít tinh, v.v ).
Còn "sử dụng" là động từ có nghĩa là lấy làm phương tiện để phục vụ nhu
cầu, mục đích nào đó (như sử dụng vật liệu để làm nhà, sử dụng quyền hạn,
v.v.). Như vậy, "tổ chức sử dụng" được nêu trong Điều 197 Bộ luật hình sự
hiện hành được hiểu với ý nghĩa từ loại là động từ.
"Trái phép" là tính từ, có nghĩa là trái với pháp luật hoặc với điều
được cấp có thẩm quyền cho phép.
Cụm từ "ma túy" xuất hiện khá muộn ở nước ta và chính thức được sử

công ước này năm 1997).
Các chất ma túy có thể phân loại ra thành các nhóm như sau:
- Theo đặc tính và mức độ tác động của chất gây nghiện, ma túy được
chia thành ba nhóm: Ma túy mạnh, ma túy trung bình, ma túy nhẹ.
- Theo nguồn gốc, cách thức tạo ra chất ma túy, ma túy được chia
thành ba nhóm:
+ Ma túy tự nhiên: Các loại ma túy có nguồn gốc tự nhiên, thu được
bằng cách hái hoặc nuôi trồng như thuốc phiện (quả); lá, hoa, quả cây cần sa…;
+ Ma túy bán tổng hợp: Các chất ma túy được điều chế từ sản phẩm tự
nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu được chất ma túy có

19
tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu (Ví dụ: Hêrôin là chất ma túy bán
tổng hợp từ morphine bằng cách axetyl hóa morphine…);
+ Ma túy tổng hợp: Là các chất ma túy được điều chế bằng phương
pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ các chất (gọi là tiền chất). Các chất ma
túy tổng hợp có tác dụng mạnh và nhanh hơn ma túy bán tổng hợp
(methadone, dolargan, methamphetamine…).
- Theo tác dụng sinh lý trên cơ thể con người, ma túy được chia thành
tám nhóm: Các chất gây êm dịu, đam mê (các chất ma túy chính gốc) gồm
thuốc phiện và các chế phẩm của thuốc phiện như morphine, hêrôin, methadone,
dolargan, v.v.; Cần sa và các sản phẩm của cần sa; Côca và các sản phẩm của
coca; Thuốc ngủ: Có tác dụng ức chế thần kinh (barbiturate, methaqualone,
mecloqualone…); Các chất an thần: Các chất thuộc dẫn xuất của
benzodiazepine, meprobamate, hydroxyzin; Các chất kích thích: Amphetamin và
các dẫn xuất của nó; Các chất gây ảo giác: LSD, mescalin, các dẫn xuất của
tryptamin, v.v.; dung môi hữu cơ và các thuốc xông.
- Theo nguồn gốc và tác động dược lý, ma túy được chia thành năm
loại: Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện (opiates); ma túy là các chất từ cây
cần sa (cannabis); Ma túy là các chất kích thích (stimulants); ma túy là các

phiện gây nghiện nhanh và mạnh.
- Morphine: Là chất ma túy dạng bột màu trắng. Từ nhựa thuốc phiện
người ta chế xuất morphine (cứ khoảng 10kg thuốc phiện thì thu được khoảng
1kg morphine bazơ, từ đó có thể thu được 1kg morphine). Morphine có tác
dụng gây nghiện cao.
- Hêrôin: Là loại ma túy độc hại phổ biến nhất ở nước ta hiện nay.
Hêrôin là chế phẩm được bán tổng hợp từ morphine, cứ khoảng 1kg morphine
thì điều chế được 800 đến 950g hêrôin. Hêrôin có khả năng gây nghiện rất
nhanh, người nghiện bị suy sụp nhanh chóng cả về thể xác lẫn tinh thần. Một
liều khoảng 0,06g có thể gây chết người ngay sau khi tiêm.

21
- Nhựa cần sa: Từ các bộ phận lá, hoa, quả cây cần sa người ta chiết
xuất ra nhựa cần sa. Các hoạt chất của cây cần sa gây cho người sử dụng cảm
giác hưng phấn, sảng khoái, song tác dụng nguy hiểm nhất của cần sa là gây
ảo giác làm sai lệch tinh thần.
- Côcain: Từ lá cây côca người ta điều chế được cao côca và côcain.
Côcain có khả năng gây tê, độc và gây nghiện.
- Amphetamine: Là chất ma túy gây kích thích mạnh hệ thần kinh
trung ương, làm tăng sự co bóp của tim, co mạch máu ngoại biên, tăng huyết
áp. Với liều vừa phải, amphetamine có tác dụng làm tăng khả năng lao động
trí óc, giảm buồn ngủ, tăng sức lực. Với liều cao, amphetamine gây nghiện
nguy hiểm.
- Methamphetamine: Gây kích mạnh hệ thần kinh trung ương, là chất
có độc tính và khả năng gây nghiện mạnh, gây chứng hoang tưởng.
- Methadone: Là chất ma túy giảm đau mạnh gấp năm lần morphine,
thường thấy dạng viên con nhộng 5mg hoặc ống 5mg hoặc 10mg.
- Methoqualone: Là chất ma túy an thần gây ngủ, màu trắng dạng viên
nén 200mg.
- LSD: Là chất gây nghiện tạo ảo giác mạnh, làm cho người dùng mất

thức nào" [37, tr. 187]. Quan điểm này mới chỉ nêu một cách khái quát chung về
hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chứ chưa làm rõ khái niệm tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm.
Có quan điểm nêu được tương đối đầy đủ các biểu hiện của hành vi tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy và tính chất lỗi, song vẫn chưa nêu được
dấu hiệu chủ thể của tội phạm này, theo đó:
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi của người
luôn luôn cố ý, chủ động trong việc thực hiện lập các ổ nhóm sử
dụng trái phép chất ma túy cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho

23
việc sử dụng trái phép ma túy mà không phải là các hành vi lôi kéo,
cưỡng bức hay chứa chấp thuộc Điều 185m và Điều 185k Bộ luật
hình sự năm 1985 [11, tr. 4].
Tuy nhiên hiện nay, các nhà khoa học hình sự đã đưa ra định nghĩa
khoa học đầy đủ nhất về tội phạm, là cơ sở để đưa ra khái niệm của từng loại
tội phạm cụ thể khác nhau như sau: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội, trái pháp luật hình sự (tức là hành vi bị luật hình sự cấm), do người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)" [9, tr. 297]. Bởi vậy, khái niệm tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ đáp ứng bốn tiêu chí (chặt chẽ, chính
xác, ngắn gọn, đầy đủ) mà còn phải thể hiện được đầy đủ cả ba bình diện
(bình diện khách quan, bình diện pháp lý, bình diện chủ quan) tương ứng với
năm đặc điểm cơ bản trên của tội phạm.
Tại Thông tư số 17/2007/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ban
hành ngày 24/12/2007 tại khoản 6, mục II đã quy định: Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy là một trong các hành vi sau đây: Chỉ huy, phân công, điều
hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; Chỉ huy,
phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương
tiện, dụng cụ, dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng

lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện bằng lỗi
cố ý trực tiếp.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy trong Luật Hình sự Việt Nam
Việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật
hình sự của Việt Nam có ý nghĩa quan trọng dưới các góc độ chính sau đây:
Thứ nhất, dưới góc độ chính trị - xã hội, đã góp phần cụ thể hóa các quy
định của Hiến pháp về việc bảo vệ chế độ độc quyền quản lý, sử dụng các chất

25
ma túy của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, an ninh trật tự an
toàn xã hội vào Bộ luật hình sự. Điều 61 Hiến pháp 1992 quy định: "… Nghiêm
cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện
và các chất ma túy khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và
chữa bệnh xã hội nguy hiểm " [40]. Như vậy, việc bảo vệ chế độ độc quyền
quản lý và sử dụng ma túy của Nhà nước đã được Hiến pháp xác lập, ghi nhận
và được pháp luật hình sự bảo vệ. Những quy định trong Chương XVIII -
"Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật hình sự nói chung, Điều 197 về "Tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy" nói riêng đã thể hiện thái độ kiên quyết
đấu tranh chống các tội phạm về ma túy và tội phạm tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy của Đảng và Nhà nước ta. Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2009) là văn bản pháp lý hiện hành và có vị trí đặc biệt quan
trọng trong hệ thống pháp luật, là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu
của Nhà nước ta để bảo vệ sự nghiệp cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như bảo đảm hiệu lực quản lý
của Nhà nước đối với xã hội, tiến tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa vững mạnh.
Thứ hai, về mặt lý luận, là cơ sở pháp lý hình sự đầy đủ và thống nhất
để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có căn cứ để tiến
hành điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma

hậu quả nặng nề do chính sách cai trị của thực dân Pháp gây ra với chủ trương
xóa bỏ triệt để việc sử dụng thuốc phiện. Ngày 3/9/1945, trong phiên họp Chính
phủ bàn về "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.
Tiếp sau đó, ngày 5/3/1952 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ
quản lý thuốc phiện. Điều 1, 2, 3, 4 của Nghị định quy định khoanh vùng
trồng cây thuốc phiện. Người trồng cây thuốc phiện có nghĩa vụ nộp thuế
bằng hiện vật là một phần ba số thuốc phiện nhựa, phần còn lại phải bán toàn

Trích đoạn Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay Bộ luật hình sự Nhật Bản Bộ luật hình sự Canada Bộ luật hình sự của Liên bang Nga Khách thể của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status