1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH HOÀNG QUANG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHIỆM VỤ,
QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang
HÀ NỘI - 2013 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Đinh Hoàng Quang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
VÀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
7
1.1.
Một số vấn đề lý luận về thi hành án phạt tù
7
1.1.1.
Những khái niệm có liên quan đến thi hành án phạt tù
7
1.1.2.
Mục đích và ý nghĩa của việc thi hành án phạt tù
15
1.1.3.
Cơ sở pháp lý của thi hành án phạt tù
17
1.1.4.
Cơ quan thi hành án phạt tù
23
1.2.
Nhận thức chung về kiểm sát thi hành án phạt tù
28
1.2.1.
Khái niệm, chủ thể, đối tượng, phạm vi, đặc điểm hoạt động
kiểm sát thi hành án phạt tù
28
1.2.2.
Lịch sử hình thành và phát triển quy định của pháp luật về
kiểm sát thi hành án phạt tù tại Việt Nam từ khi thành lập
Viện Kiểm sát nhân dân
46
2.1.1.
Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành
án phạt tù đúng quy định của pháp luật
46
2.1.2.
Yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự tự kiểm tra, cung
cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án phạt tù
49
2.1.3.
Phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật trong thi
hành án phạt tù theo thẩm quyền
50
2.1.4.
Đề nghị miễn, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án; tham gia việc
xét giảm, miễn thời hạn chấp hành án
55
2.1.5.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án phạt tù
58
2.2.
Thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi
hành án phạt tù
61
2.2.1.
Tình hình chấp hành án phạt tù
61
2.2.2.
Thực trạng công tác kiểm sát thi hành án phạt tù
68
Tiêu chuẩn hóa cán bộ kiểm sát thực hiện nhiệm vụ kiểm sát
thi hành án phạt tù
98
3.3.
Tăng cường điều kiện hoạt động của Viện kiểm sát trong thi
hành án phạt tù
100
3.3.1.
Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm cho hoạt động
kiểm sát thi hành án phạt tù
100
3.3.2.
Cải tiến chế độ, chính sách đối với cán bộ kiểm sát trực tiếp
thực hiện nhiệm vụ kiểm sát thi hành án phạt tù
102
3.4.
Xây dựng mối quan hệ phối hợp với các cơ quan có liên quan
đến thi hành án phạt tù
102
3.4.1.
Quan hệ phối hợp với Tòa án nhân dân các cấp và tương đương
102
3.4.2.
Quan hệ phối hợp với cơ quan Công an các cấp
103
3.4.3.
Quan hệ phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan
hữu quan
103
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp
hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với
pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực
tế. Thi hành án hình sự liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ
gìn trật tự, an toàn xã hội; góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hiến
pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có
hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người
và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành" [27].
Xác định thi hành án hình sự mà trong đó là thi hành án phạt tù là
công tác quan trọng nên Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này như: Thông tư liên
ngành số 02/TTLN/BNV-VKSNDTC ngày 06/9/1989 về công tác giam, giữ,
cải tạo và kiểm sát giam giữ, cải tạo; Thông tư liên tịch số 07/2004/TTLT-
BCA-VKSNDTC ngày 29/4/2004 hướng dẫn một số quy định về thi hành
hình phạt tù đối với phạm nhân chấp hành hình phạt tù tại Nhà tạm giữ;
Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKSNDTC
ngày 18/5/2006 hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm
đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù
đang bị bệnh nặng; Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT -BTC-BCA-BQP
ngày 12/02/2010 hướng dẫn thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao
động, dạy nghề phạm nhân trong các trại giam; Thông tư 40/2011/TT-BCA
9
ngày 27/6/2011 quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại
chấp hành án phạt tù cho phạm nhân; Thông tư 58/2011/TT-BCA ngày
09/8/2011 quy định về đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ
án phạt tù, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau,
những khía cạnh, phương diện khác nhau về thi hành án phạt tù và nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát thi hành án phạt tù, cụ thể là:
- Trần Quang Tiệp (2002), Một số vấn đề về thi hành án hình sự,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- Viện Khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2003),
"Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp", Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội;
- Vũ Trọng Hách (2006), Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực
thi hành án hình sự ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006), Pháp luật thi hành án
hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), "Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án
phạt tù theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, Vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam,
quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù", Kỷ yếu đề tài khoa học, Hà Nội.
Các công trình nêu trên nghiên cứu về thi hành phạt tù ở những khía
cạnh và mức độ khác nhau, hầu hết đề cập đến thực trạng và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án phạt tù, tuy nhiên chưa có công trình
nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
trong thi hành án phạt tù, đặc biệt là theo Luật Thi hành án hình sự năm 2010.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu và làm rõ những vấn đề chung
về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát hoạt động
11
thi hành án phạt tù, phân tích kết quả thực tiễn của hoạt động này, từ đó đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án phạt tù
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề
cải cách tư pháp được thể hiện trong các nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X
và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày
26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp, đó là: Phương pháp nghiên cứu
lịch sử - cụ thể, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, tổng hợp.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ
một luận văn thạc sĩ luật học về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân trong kiểm sát thi hành án phạt tù, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề
quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới thi hành án phạt tù ở Việt Nam
theo Luật Thi hành án hình sự năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2011).
Những điểm mới của luận văn là:
- Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về
khái niệm thi hành án phạt tù và kiểm sát thi hành án phạt tù, tìm hiểu thực
trạng của công tác kiểm sát thi hành án phạt tù làm phong phú thêm cho hoạt
động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án phạt tù.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật kiểm
sát thi hành án phạt tù, luận văn đã đưa ra được những điểm bất cập cần sửa
13
đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật
thi hành án hình sự về công tác thi hành án phạt tù và kiểm sát thi hành án
phạt tù.
- Trên cơ sở đánh giá thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án phạt tù,
luận văn đã phân tích những nguyên nhân và đề xuất các định hướng và giải
loại hình phạt nghiêm khắc, vì người bị kết án bị tước tự do, bị cách ly với
cuộc sống bình thường của xã hội, họ phải lao động, cải tạo trong một môi
trường riêng biệt dưới sự quản lý và giám sát của cơ quan có trách nhiệm.
Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi không đề cập đến miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện (án treo) {miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện
(án treo) là trường hợp ngoại lệ đặc biệt của việc thi hành hình phạt tù, trong
đó người bị kết án phạt tù có thời hạn không buộc phải chấp hành hình phạt tù
tại các cơ sở giam giữ; không bị cách ly khỏi xã hội mà được chấp hành hình
phạt ngoài xã hội với những điều kiện ràng buộc nhất định. Miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện (án treo) được áp dụng đối với những trường hợp
người phạm tội bị Tòa án tuyên hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt là
không quá ba năm và không cần phải bắt người phạm tội cách ly khỏi xã hội
nhưng cũng đạt được mục đích của hình phạt}.
Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Tù có thời hạn là việc
buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn
nhất định " [28] và Điều 34 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Tù chung
thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình " [28].
15
Như vậy, hình phạt tù là hình phạt buộc người bị kết án phải chấp
hành hình phạt tại trại giam. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các văn bản luật khác
và trong thực tế, chúng tôi cho rằng việc quy định trong điều luật chưa thật sự
chính xác, bởi vì người bị kết án phạt tù có thể phải chấp hành hình phạt tại
Trại tạm giam (gồm Trại tạm giam Bộ Công An, Trại tạm giam Bộ Quốc
phòng và Trại tạm giam Công an tỉnh) và Nhà tạm giữ Công an huyện. Khoản 2
Điều 171 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định:
Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm
giam, tạm giữ để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời
hạn từ 5 năm trở xuống không phải là người chưa thành niên, người
Các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được
thi hành bao gồm: các bản án, quyết định được quy định tại Điều 255 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003 và Điều 2 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, nhưng
chưa quá thời hiệu thi hành bản án theo Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định những bản án và
quyết định được thi hành, theo đó, những bản án và quyết định được thi hành
là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật (bao gồm những bản
án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
trình tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm).
Điều 2 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định về bản án, quyết
định được thi hành, bao gồm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đã có
quyết định thi hành (bản án hoặc phần bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; Bản án của Tòa án cấp
phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án). Bản án
hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự; Quyết định của Tòa án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp
hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định
thi hành. Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt
17
Nam cho nước ngoài; Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng.
So sánh hai quy định trên, ta thấy được quy định về bản án, quyết
định được thi hành khác nhau, Điều 2 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã
bổ sung quy định "và đã có quyết định thi hành" do Chánh án Tòa án đã xét
xử sơ thẩm ra quyết định hoặc do Chánh án Tòa án được ủy thác ra quyết
định so với khoản 1 Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Nhưng
thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật với thời điểm
Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định hoặc do Chánh án Tòa án
phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
Như vậy, thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện
các quyết định hình phạt tù trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật trên thực tế; tức là, buộc người đang chấp hành án phạt tù có
thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo để
họ trở thành người có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, xung quanh bản chất pháp lý về thi hành án nói chung và
thi hành án phạt tù nói riêng cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm
thứ nhất: Thi hành án là một giai đoạn của tố tụng [56, tr. 8], [62, tr. 23-24].
Quan điểm thứ hai: Thi hành án là một giai đoạn độc lập mang tính hành
chính - tư pháp [56, tr. 10-11]. Quan điểm thứ ba: Thi hành án vừa mang tính
tố tụng, vừa mang tính hành chính - tư pháp được điều chỉnh bởi pháp luật tố
tụng và pháp luật về hành chính - tư pháp [56, tr. 8].
Trước hết, về quan niệm coi thi hành án là một giai đoạn tố tụng,
chúng tôi đồng ý với quan điểm này, bởi vì theo từ điển Luật học, thi hành án
"giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được
xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, bản án sau khi đã có hiệu lực pháp luật thì phải được thi hành nghiêm
chỉnh" [43, tr. 464-465]. Thi hành bản án hình sự "giai đoạn cuối cùng của tố
tụng hình sự, là việc thi hành trên thực tế một bản án hoặc quyết định cụ thể
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [43, tr. 464-465]. Như vậy, thi hành án
19
hình sự là một trình tự tiếp nối và kết thúc của quá trình giải quyết vụ án hình
sự; địa vị của thi hành án hoàn toàn độc lập và cần thiết được xem xét trong
mối liên hệ với các giai đoạn tố tụng trước. Nói cách khác việc thi hành án
được quy định trong tố tụng hình sự và không ngừng được hoàn thiện cùng
với các quy định của các giai đoạn tố tụng trước là hoàn toàn cần thiết để đảm
bảo tính đồng bộ, hệ thống của tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm cho rằng thi hành án
chức, hoạt động và cơ chế quản lý các cơ quan thi hành án hình sự (gồm hệ
thống các cơ quan thi hành án hình sự; các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu
quan có trách nhiệm thi hành án ). Các quan hệ này liên quan đến việc hình
thành cơ cấu tổ chức; quy định thẩm quyền và quy chế hoạt động của Cơ quan
thi hành án hình sự. Những mối quan hệ này được thể hiện cụ thể trong thực
tiễn như: mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với Cơ quan thi hành án
hình sự; cơ cấu tổ chức, hoạt động trong hệ thống các cơ quan thi hành án
hình sự; giữa Cơ quan thi hành án hình sự và Cơ quan thi hành án dân sự;
giữa Cơ quan thi hành án cấp trên và Cơ quan thi hành án cấp dưới về mặt tổ
chức [62, tr. 32-33]. Như vậy, hoạt động thi hành án mang tính hành chính.
Thứ hai, về hoạt động tư pháp, xung quanh khái niệm này cũng có
nhiều cách hiểu khác nhau: Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, hoạt động tư pháp
cần được hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động xét xử của Tòa án và các hoạt
động của các cơ quan khác của nhà nước khác và các tổ chức khác được nhà
nước cho phép thành lập, trực tiếp liên quan hoặc phục vụ cho việc xét xử của
Tòa án [13, tr. 7-11]. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, hoạt động tư pháp là dạng
(hình thức) thực hiện những thẩm quyền tương ứng do luật định của hệ thống
Tòa án mà thông qua đó các chức năng của nhánh quyền lực thứ ba trong Nhà
nước pháp quyền được biến thành hiện thực [5, tr. 188]. Có năm dạng hoạt
động tư pháp tương ứng với năm chức năng của quyền tư pháp gồm: nhân
danh và thực hiện việc bảo vệ công lý; bảo vệ các quyền và tự do của con
người và của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp
luật khác trên toàn bộ lãnh thổ của quốc gia; giải thích các quy phạm pháp
21
luật (mà trước hết là Hiến pháp) để đảm bảo tính thống nhất và hiệu lực của
việc áp dụng các quy phạm đó trên toàn bộ lãnh thổ của quốc gia; xét xử, tức
là hoạt động tố tụng tư pháp (tài phán) về Hiến pháp, hành chính, hình sự, dân
sự và kinh tế (trọng tài); giám sát của Tòa án đối với tính hợp pháp và có căn
cứ của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất tố
quan trực tiếp và hướng tới mục đích nhằm giải quyết vụ án một cách đúng
đắn, khách quan. Và như vậy, thi hành án là giai đoạn tố tụng thì trong giai
đoạn thi hành án có hoạt động tư pháp.
Như vậy, rõ ràng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ
quan tư pháp còn tiến hành một loại hoạt động được điều chỉnh bằng pháp
luật hành chính chứ không được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, vì vậy nó
cũng không được coi là hoạt động tư pháp. Trong quá trình thực hiện hoạt
động tư pháp, giữa những người ở các cơ quan tư pháp khác nhau luôn tồn tại
một loại quan hệ được gọi là quan hệ hành chính - tư pháp (ví dụ, hoạt động
báo cáo công tác của cấp dưới với cấp trên, hoạt động tổng kết công tác của
mỗi cơ quan, hoạt động thanh tra ) [13, tr. 10-11]. Do đó, hoạt động thi hành
án hình sự có mang tính hành chính - tư pháp.
Từ những phân tích trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng thi
hành án vừa mang tính tố tụng, vừa mang tính hành chính - tư pháp được điều
chỉnh bởi pháp luật tố tụng và pháp luật về hành chính - tư pháp, và thực tiễn hiện
nay, hoạt động thi hành án hình sự được điều chỉnh bởi Luật tố tụng hình sự và
Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự (đối với hình phạt tiền). Nói
tóm lại, xét về bản chất hoạt động thi hành án nói chung, hoạt động thi hành án
phạt tù nói riêng vừa mang tính tố tụng, vừa mang tính hành chính - tư pháp.
1.1.2. Mục đích và ý nghĩa của việc thi hành án phạt tù
Mục đích là "cái đích đặt ra để hướng tới, đạt tới" [64, tr. 1064]. Mục
đích của thi hành án phạt tù không nằm ngoài mục đích của hình phạt trong
luật hình sự Việt Nam là phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Ở góc độ
phòng ngừa riêng thì mục đích của thi hành án phạt tù là sự trừng trị kết hợp
với giáo dục nhằm cải tạo người bị kết án, giúp họ nhận thức được lỗi lầm để
cải tạo những thói hư, tật xấu của bản thân, cố gắng rèn luyện, cải tạo để trở
23
thành người lương thiện có ích cho gia đình và cho xã hội, không tái phạm, có
ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa,
Cơ sở được hiểu là "cái làm nền tảng để dựa vào đó hay từ đó mà phát
triển " [64, tr. 355]. Cơ sở của thi hành án phạt tù chính là cái làm nền tảng để
dựa vào đó hay từ đó để thi hành án phạt tù. Như vậy, cơ sở của thi hành án
phạt tù cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng là điều kiện pháp lý cần và đủ để thực
hiện hình phạt tù trong thực tế. Các điều kiện này được quy định trong Hiến pháp,
Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Thi hành
án hình sự năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Quan hệ pháp luật
về thi hành án phạt tù được phát sinh trên cơ sở các quyết định pháp lý nhất định.
Các cơ quan, tổ chức thi hành hình phạt tù phải bắt buộc dựa trên và tuân theo
các điều kiện pháp lý đó để có thể đưa người bị kết án thi hành hình phạt tù.
Theo nghĩa này, việc thi hành án hình sự nói chung và thi hành hình phạt tù
nói riêng chỉ phát sinh từ khi một người bị coi là có tội, tức là từ khi người đó
bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và tất nhiên phải
là bản án kết tội và áp dụng hình phạt (chứ không phải bản án kết tội nhưng
miễn hình phạt). Căn cứ này xuất phát trên nguyên tắc: "Không ai có thể bị coi là
có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án" [32, Điều 9].
Ngoài ra, cơ sở thi hành hình phạt tù kể trên (hiểu theo nghĩa rộng) còn dựa trên
cơ sở nguyên tắc "Đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án" đòi
hỏi bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành
và được tôn trọng (Điều 22 Bộ luật Tố tụng hình sự). Bên cạnh các quy định
trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 26 Bộ luật Hình sự cũng quy định: "Hình
phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định" [28],
Điều 33 Bộ luật Hình sự quy định: "Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết
án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định" [28].
Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nói chung được phát sinh trên cơ sở
các sự kiện pháp lý, đó là sự kiện phạm tội và các quyết định pháp lý của các
cơ quan có thẩm quyền theo luật tố tụng hình sự quy định. Việc thi hành hình
phạt tù - nói cách khác, quan hệ pháp luật về thi hành án hình sự nói chung và
25