Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua
bán người trong luật hình sự Việt Nam
Đoàn Ngọc Huyền
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự; Mã số: 60 38 01 04
Người hướng dẫn: Thiếu tướng,TS. Bạch Thành Định
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Tội mua bán người; Luật hình sự; Pháp luật Việt Nam
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới đã đem lại cho đất nước ta nhiều thành tựu quan trọng, nền kinh tế
tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt trên nhiều mặt, vị thế của nước ta trên
trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng làm phát sinh những yếu tố tiêu cực cho đời sống xã hội.
Tình hình tội phạm nói chung và tội mua bán người nói riêng trở thành một vấn nạn, mang tính
thời sự nóng bỏng và gây bức xúc trong toàn xã hội, không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn
thế giới với diễn biến ngày càng phức tạp; tính chất và thủ đoạn hoạt động ngày càng nghiêm
trọng, tinh vi, xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia. Đáng
chú ý đã xuất hiện một số đường dây đưa người sang Trung Quốc bán nội tạng cho các bệnh viện
tư, dẫn đến nạn nhân bị tử vong.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống mua bán người,
đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn
còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập.Điều này thể hiện ở chỗ:
Về lý luận, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm bảo vệ quyền
con người nói chung, quyền của phụ nữ và trẻ em nói riêng như: Hiến pháp; Luật Hôn nhân và
gia đình; Bộ luật hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Bình đẳng giới; Luật Xử lý vi phạm
hành chính 2012… góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa, ngăn chặn, trừng trị tội phạm mua
bán người. Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản liên quan đến các lĩnh vực mà bọn tội
phạm có thể lợi dụng để lừa gạt phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài bán. Chúng ta đã tăng cường phối
hợp với các nước, các tổ chức quốc tế, nhất là hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong
khu vực như: Trung Quốc, Campuchia, Lào, Thái Lan và các tổ chức Cơ quan Phòng, chống
theo luật hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do tội mua bán người có diễn biến phức tạp và có tính chất”xuyên quốc gia” nên ở trong
và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những
khía cạnh, phương diện khác nhau về tội mua bán người như:
Phát hiện, điều tra các tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới của lực lượng
cảnh sát nhân dân (Luận án tiến sĩ luật học (2006) của Trần Minh Hưởng bảo vệ tại Học viện
Cảnh sát nhân dân). Đấu tranh phòng chống mua bán phụ nữ ở Việt Nam (Luận văn tiến sĩ luật
học (2008) của Nguyễn Văn Hương bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội). Đấu tranh phòng,
chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
(Luận văn Thạc sĩ luật học (2006) của Nguyễn Quyết Thắng bảo vệ tại Trường Đại học Luật
Hà Nội. Tội mua bán phụ nữ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Luận văn cử nhân luật
(2007) của Trần Thị Lý bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đấu tranh phòng,
chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới tại tỉnh An Giang (Luận văn thạc sĩ Luật học
(2007) của Nguyễn Minh Diễm Quỳnh (bảo vệ tại Trường Đại học Luật TP.HCM)… Các bài
viết: Cần từng bước hoàn thiện pháp luật về công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ,
trẻ em của tác giả Lương Thanh Hải (Tạp chí Tòa án nhân dân số 7/2006); Luật Phòng, chống
mua bán người - Cơ sở pháp lý đấu tranh chống tội phạm mua bán người trong thời gian tới
của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Tạp chí CAND số chuyên đề tháng 8 năm 2011); Một số giải
pháp phòng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em của tác giả Đặng Thu Hiền (Tạp chí
Kiểm sát số 21/2006); Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống mua bán người của tác giả Ngô
Đức Thắng (Tạp chí Công an Nhân dân số 8/2011)…
Trong các công trình kể trên một số tác giả đã nghiên cứu về thực trạng, tìm ra nguyên
nhân và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội mua bán phụ nữ, trẻ em trên toàn quốc hoặc ở một
số địa phương nhất định, một số tác giả đề cập đến những vấn đề chuyên sâu như: các giải pháp
phòng ngừa tội phạm hay vấn đề hoàn thiện pháp luật để phòng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ,
trẻ em dưới góc độ tội phạm học. Tuy nhiên, kể từ khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm
2009 và Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 ra đời đến nay, chưa có một công trình nào
những giải pháp trên phương diện lập pháp hình sự và phương diện thực tiễn, nâng cao hiệu quả
áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn tình hình tội mua bán người từ năm 2009 2013 trong phạm vi cả nước, có phân tích, đánh giá so sánh với địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ
nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm
của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải
cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X, XI và các Nghị quyết số 8NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và
đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so
sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thông kê, điều tra
xã hội học để tổng hợp các tri thực khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên
cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực
tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về tội mua
bán người từ khi tội phạm này được sửa đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
hình sự năm 2009, trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan
tới tội mua bán người trong luật hình sự Việt Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Xây dựng khái niệm tội mua bán người và phân tích ý nghĩa của việc quy định tội phạm
này trong luật hình sự Việt Nam;
- Phân tích những dấu hiện pháp lý hình sự và hình phạt của tội mua bán người trong luật
hình sự Việt Nam;
- Phân tích tội mua bán người trong pháp luật một số nước trên thế giới;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn xét xử tội mua bán người, đồng thời phân tích làm rõ
một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định Bộ luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người
Hà Nội.
6.
Lê Cảm (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội.
7.
Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình
sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
8.
Công an TP Hà Nội (2010), Báo cáo sơ kết Đề án II-130 của Phòng PC45- Công an Thành
phố Hà Nội năm 2010, (ngày 15/11), Hà Nội.
9.
Công an TP Hà Nội (2011), Báo cáo sơ kết Đề án II-130 của Phòng PC45- Công an Thành
phố Hà Nội năm 2011, (ngày 15/11), Hà Nội.
10. Công an TP Hà Nội (2012), Báo cáo sơ kết Đề án II-130 của Phòng PC45- Công an Thành
phố Hà Nội năm 2012, (ngày 15/11), Hà Nội.
11. Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, NXB Tư
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Liên Hợp quốc (1989), Công ước về quyền trẻ em, (ngày 25/11).
Liên hợp quốc (2000), Nghị định thư không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và
văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em, bổ sung cho Công
ước về quyền trẻ em, (ngày 25/5).
Liên hợp quốc (2000), Nghị định thư về việc phòng ngừa, trấn áp về trừng trị hành vi buôn
bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc, (ngày 15/11).
Hồ Chí Minh (1945), Bản tuyên ngôn độc lập, (ngày 02/9/1945).
Đặng Phong (2005), “Chống mua bán phụ nữ phải bắt đầu từ xóa đói giảm nghèo”, Báo
Công an thành phố Hồ Chí Minh, (ngày 29/9/2005).
Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1985, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Quốc hội (1992), Hiến pháp 1992, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2003, (ngày 25/12/2001), Hà Nội.
Quốc hội (2004), Luật bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004, (ngày 15/6), Hà
Nội.
Quốc hội (2005), Luật Giáo dục năm 2005, ngày 14/7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Quốc hội (2011), Luật phòng, chống mua bán người năm 2011, (ngày 29/3), Hà Nội.
Tòa án nhân dân tối cao (2013), Thông kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm tội
mua bán người, mua bán trẻ em (Điều 119, Điều 120 BLHS) năm 2009, Hà Nội.
Tòa án nhân dân tối cao (2013), Thông kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm tội
mua bán người, mua bán trẻ em (Điều 119, Điều 120 BLHS) năm 2010, Hà Nội.
Tòa án nhân dân tối cao (2013), Thông kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm tội
mua bán người, mua bán trẻ em (Điều 119, Điều 120 BLHS) năm 2011, Hà Nội.
Tòa án nhân dân tối cao (2013), Thông kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm tội
mua bán người, mua bán trẻ em (Điều 119, Điều 120 BLHS) năm 2012, Hà Nội.
Tòa án nhân dân tối cao (2013), Thông kê thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm tội
47. http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/philippines-cuu-29-co-dau-bi-du-sang-han-quoc2839452.html
48. http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i
37.