Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TÂN LỘC

NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ RAU
THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 62.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2016


Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. ĐỖ KIM CHUNG

Phản biện 1: GS.TS. HOÀNG NGỌC VIỆT

Phản biện 2: PGS.TS. NGÔ THỊ THUẬN

Phản biện 3: PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG LONG

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi


tiêu thụ mang lại thu nhập ổn định không chỉ cho những người làm công tác thu
gom mà cả cho những người sản xuất và NTD cũng hoàn toàn yên tâm với nguồn
sản phẩm.
Bên cạnh đó, người sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội chịu rất nhiều
áp lực: về tốc độ đô thị hóa, biến đổi khí hậu, nguồn nước, môi trường ô nhiễm....
cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc.
Vậy trong bối cảnh đó, các đối tượng sản xuất rau trên địa bàn thành phố đã
thực hiện tiêu thụ sản phẩm của họ làm ra như thế nào? Kênh nào là kênh tiêu thụ
phù hợp với họ hiện tại và chiến lược trong tương lai?
Đã có một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những vấn đề về kỹ thuật,
thị trường hoặc về tiêu dùng hoặc chỉ tập trung vào RAT song chưa có nghiên cứu
nào đi sâu nghiên cứu từ việc tiêu thụ rau của người sản xuất, để thấy được thuận
lợi, khó khăn và giải pháp giúp cho thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ
thống chợ và siêu thị, từng bước khắc phục tình trạng bán sản phẩm tại các vị trí
không chính thống mà Hà Nội lâu nay chưa giải quyết được.

1


1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu chung
Phản ánh hiện trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển tiêu
thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, thông qua
đó góp phần thúc đẩy sản xuất rau phát triển, ổn định tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu
về rau ngày càng cao của NTD Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ rau
thông qua hệ thống chợ và siêu thị.
- Phản ánh hiện trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến tiêu thụ rau
thông qua chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.

cấp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu có liên quan; Làm sáng tỏ nội dung về tiêu thụ
rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Thấy được kinh nghiệm quản lý hai hệ thống
này ở một số nước trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển. Nghiên cứu đã xây
dựng phương pháp tiếp cận và khung phân tích về thực trạng tiêu thụ rau thông qua
hai hệ thống kể trên. Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiện trạng tiêu thụ rau thông qua
hai hệ thống và xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ.
- Về thực tiễn: Đã phản ánh rõ hiện trạng tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống
chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội. Phát hiện được đối tượng tiêu thụ rau qua siêu thị
thành công hơn cả là các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp nhờ vào công
tác tổ chức từ sản xuất đến tiêu thụ. Lượng rau tiêu thụ thông qua kênh siêu thị chỉ
đáp ứng 3% nhu cầu rau của toàn thành phố. Song lượng rau được sản xuất tại Hà
Nội chỉ chiếm 70% lượng rau được tiêu thụ tại các siêu thị hiện nay, tức tương đương
với 66,5 tấn/ngày, ước đạt 4,04% sản lượng rau của Hà Nội. Trong khi đó lượng rau
tiêu thụ thông qua hệ thống chợ là 40,31% và cũng lượng như vậy được tiêu thụ
thông qua bán rong và những vị trí không chính thống. Nghiên cứu đã xác định được
3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới việc tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị.
Đồng thời đề xuất được 3 nhóm giải pháp nhằm phát triển tiêu thụ rau thông qua hai
hệ thống. Các giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống này không chỉ
có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với ngành hàng rau của Hà Nội mà còn là bài học
kinh nghiệm cho các nông sản khác trong cùng địa bàn và các địa phương khác góp
phần cải thiện việc quản lý trong tiêu thụ rau và làm đẹp mỹ quan thành phố. Kết quả
luận án là cơ sở khoa học cho việc định hướng và đưa ra giải pháp phát triển tiêu thụ
rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Luận án là kênh cung cấp thông tin quan
trọng cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý của Bộ, Thành phố, các cơ
quan tham mưu, các tổ chức nghiên cứu, kinh tế - xã hội và các cá nhân tham khảo.
1.5. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Nội dung chính của luận án: Gồm 6 phần được trình bày trong 150 trang. Phần
mở đầu bao gồm 6 trang, phần 2 từ trang 7 đến trang 35, phần 3 từ trang 36 đến trang
54, phần 4 từ trang 55 đến trang 124, phần 5 từ trang 125 đến 146, phần 6 có 4 trang.


lớp nhân dân và nhu cầu đa dạng của NTD, Hà Nội cần: Duy trì cả hai hệ thống chợ
và siêu thị; Quản lý chất lượng rau trên địa bàn thành phố, đặc biệt tại hệ thống chợ;
Luôn tính đến khả năng tham gia của người nghèo vào chuỗi giá trị rau; Quản lý
người bán hàng trên địa bàn thành phố, tại các chợ cũng như việc xây dựng, cải tạo
và nâng cấp chợ cần được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau giúp nâng cao
hiệu quả của việc khai thác chợ và thu hút họ hoạt động trong chợ; Đặc biệt thúc đẩy
liên kết giữa các tác nhân trong ngành hàng rau nhằm duy trì quan hệ giữa người sản
xuất và người kinh doanh bền vững ở cả hai hệ thống.
PHẦN 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Hà Nội là một địa bàn có vùng sản xuất rau lớn tại các huyện ngoại thành và có
thị trường tiêu thụ khối lượng rau rất lớn. Diện tích gieo trồng rau của Hà Nội có xu
hướng tăng dần, đạt kỷ lục 30.040 ha (2013), nhưng sản lượng rau đạt kỷ lục vào năm
2015 là 655 nghìn tấn. Các chủng loại rau được sản xuất tại Hà Nội đa dạng, khoảng
40 loại, tuy nhiên, chủ yếu sản xuất rau theo mùa, phần sản xuất rau trái vụ chưa được
nhiều do chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết. Địa bàn Hà Nội có 3 đối tượng tham
gia sản xuất rau chủ yếu: hộ nông dân thuộc các HTX NN hoặc HTX DV NN quản lý
(gọi chung là HTX NN); Hộ nông dân thuộc các HTX kiểu mới hoặc nhóm sản xuất
rau hữu cơ (RHC) và từ 2008 có xuất hiện các doanh nghiệp.
Hà Nội với đa dạng kênh phân phối rau như chợ truyền thống, người bán rong và
từ sau 1993 xuất hiện các cửa hàng tự chọn và siêu thị nên từ 1997 đã có RAT được
bán tại các hệ thống kênh phân phối hiện đại. Hai hệ thống chợ và siêu thị được thành
phố xác định là hai kênh tiêu thụ chính thống. Tuy nhiên, tiêu thụ rau đang chịu tác
động từ nhiều khía cạnh (thói quen mua, suy giảm kinh tế, chuyển đổi mạng lưới
chợ…) nên những người kinh doanh rau chuyên nghiệp cũng như người sản xuất phải
đối mặt với nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, kênh siêu thị đang được ủng hộ để
phát triển nên có sự cạnh tranh ngày càng rõ khi số lượng điểm bán RAT tại các cửa
hàng và siêu thị ngày càng gia tăng.
3.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận

Nguồn và đối tượng cung.
Chủng loại và khối lượng tiêu thụ.
Đối tượng bán và khách hàng.
Giá bán và hình thức thanh toán.
Rủi ro của người bán và người mua.
Kết quả hoạt động tiêu thụ rau.

1
2
3
4
5
6

Ngƣời mua
Hộ gia đình
Người bán buôn
Người bán lẻ
Bếp ăn
Nhà hàng.
Hàng cơm.

Nhóm những nhân tố ảnh hƣởng tới thiêu thụ rau thông qua hệ thống ch và siêu thị

1. Nhóm nhân tố ảnh
hƣởng đến nguồn cung.
- Quy hoạch vùng sản xuất
rau và RAT.
- Đặc điểm của các đối
tượng tham gia sản xuất.


2. Giải pháp tiếp tục hỗ tr
đầu tƣ công cho sản xuất
và tiêu thụ rau và RAT.
- Đầu tư cho sản xuất rau và
RAT.
- Đầu tư cho tiêu thụ rau và
RAT.
- Khuyến khích thực hiện
các chính sách quản lý chất
lượng và tiêu thụ rau qua
hợp đồng.

3. Giải pháp thúc đẩy tiêu
dùng rau.
- Cung cấp đầy đủ thông
tin cho NTD qua các kênh
khác nhau.
- Quảng bá giúp NTD nhận
diện sản phẩm.

Hình 3.1. Khung phân tích tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch và siêu thị

7


3.2.3.Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu
Đối với người sản xuất: 5 huyện được chọn đại diện theo phương pháp chọn có
chủ đích là Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Trì, Đông Anh và Sóc Sơn. Từ các địa bàn
này chọn các đối tượng là các hộ gia đình sản xuất rau tại các HTX NN và HTX mới

nhau của các các đối tượng sản xuất, kênh tiêu thụ và hệ thống chung cho quy mô
toàn thành phố.
3.2.6. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các nhóm chỉ tiêu như thể hiện nguồn cung cấp rau (Số

8


chủng loại rau được sản xuất, diện tích gieo trồng rau, Tỷ lệ rau được tiêu thụ qua các
kênh khác nhau, giá bán và số lượng các đơn vị cung cấp rau); Thể hiện tiêu thụ rau
tại chợ và siêu thị (Diện tích giành cho việc bày bán rau/điểm; Số lượng chủng loại
rau được bán; Khối lượng rau được tiêu thụ/ngày; Giá bán; Số lượng phương tiện vận
chuyển sản phẩm được sử dụng; Số lần kiểm tra, kiểm soát nguồn rau tại các hệ
thống bán); và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ (Diện tích vùng sản xuất rau và
RAT được quy hoạch; Số lượng GCN RAT hoặc VietGAP được cấp; Chính sách
quản lý sản xuất, tiêu thụ và chất lượng rau ra đời; Số điểm bán RAT của thành phố;
Tỷ lệ rau bán được thông qua hợp đồng; Tỷ lệ sản phẩm được cung ứng thông qua
liên kết sản xuất và tiêu thụ thông qua liên kết; Số lượng chợ được cải tạo, xây mới;
Số lượng siêu thị tại từng giai đoạn và Số lần mua rau/tuần).
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. THỰC TRẠNG TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ
SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1.1. Hệ thống ch và siêu thị trên địa bàn thành phố
Hiện nay, trên toàn địa bàn thành phố có 411 chợ, trong đó đã có 380 chợ được
phân hạng: 12 chợ loại I, 69 chợ loại II và 299 chợ loại III. Các chợ này được phân
bố rải rác khắp các quận, huyện trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, chợ loại I chỉ có ở
một số huyện và quận trung tâm. Trong số 12 chợ loại I, có 8 chợ hiện đang hoạt
động với hình thức chợ đầu mối có bán các sản phẩm rau. Với sự phân bố như hiện
nay, mạng lưới chợ đã rất thuận lợi cho cả người bán và người mua hoạt động.
Số lượng siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng luôn ở trạng thái gia tăng


Thị trƣờng
rau Hà Nội

Đến các tỉnh Đông
Bắc & miền Trung
(Quảng Ninh, Nghệ
An,…)

Xuất khẩu
(Hàn Quốc, Pháp…)

Nhập khẩu
(Trung Quốc, Mỹ…)
Nguồn bổ sung rau vào Hà Nội
(48-50% nhu cầu rau của Hà Nội)
Ước từ 553.846 đến 600.000 tấn/năm)

Chuyển rau ra khỏi Hà Nội
(4,5-7,0% sản lượng rau của Hà Nội)
(Ước từ 27.000 đến 42.000 tấn/năm)

Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tại thị trƣờng Hà Nội và rau Hà Nội
cung ứng cho địa bàn khác (ngoài Hà Nội)
Đối tượng tham gia cung ứng rau: Trên địa bàn Hà Nội có ba đối tượng tham
gia sản xuất cung ứng rau ra thị trường đó các hộ thuộc các HTX NN, HTX kiểu mới
và nhóm sản xuất RHC và doanh nghiệp. Bằng cách xác định các thành phần tham gia
sản xuất trên từng địa bàn và tham khảo thống kê số lượng hộ tham gia sản xuất rau
của Sở NN và PTNT Hà Nội, tính toán được các số liệu phản ánh tại bảng 4.1.
Bảng 4.1. Tỷ lệ diện tích và sản lƣ ng rau của các đối tƣ ng

Đối tượng tham gia cung ứng rau tới hệ thống chợ và siêu thị có sự khác nhau,
đó là các nhà cung ứng vào siêu thị phải do siêu thị đã lựa chọn, còn tại chợ, ai có sản
phẩm nào hoặc có khả năng kinh doanh đều có thể tham gia. Tại chợ bán buôn và bán
lẻ, tiêu chí chính lựa chọn nhà cung ứng là giá bán và bề ngoài sản phẩm, còn các tiêu
chí khác như độ an toàn của rau (GCN) thì không ai yêu cầu. Tại các siêu thị, có 6 tiêu
chí lựa chọn nhà cung ứng được đặt ra là: giá, độ an toàn (GCN), mức độ đa dạng của
chủng loại rau, Tình trạng pháp lý của nhà cung ứng, lượng hàng/lần giao, bề ngoài của
rau và ngoài ra còn có siêu thị quan tâm đến mức độ chuyên nghiệp của nhà cung ứng
(đóng gói, giao hàng đúng giờ…). Từ 2012 trở lại đây, các siêu thị quan tâm nhiều đến

10


tiêu chí an toàn thay bằng tiêu chí về giá được ưu tiên so với trước đây.
Nguồn hàng rau tới hệ thống chợ và siêu thị: Tóm tắt sơ đồ tiêu thụ rau thông
qua các kênh tại hệ thống chợ như sơ đồ 4.2.
Người
sản
xuất

Người
thu gom

Người bán
buôn (Tại ch
bán buôn

Người
tiêu
dùng

Người bán buôn
(Ch bán buôn)

Sơ đồ 4.3. Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội
Nguồn rau tươi tới các siêu thị hiện tại bao gồm chủ yếu nguồn rau được sản
xuất tại Hà Nội. Ước nguồn từ Hà Nội được bán tại các siêu thị chiếm 70% tổng
lượng rau do các siêu thị bán được. Chủ yếu là các loại rau ăn lá theo mùa.
Quan hệ giữa nhà cung ứng và người kinh doanh: Tại các chợ bán buôn có
62,5% những người thu gom, bán buôn thường duy trì quan hệ thường xuyên. Tỷ lệ
này là 68% tại các chợ bán lẻ. Có 25% người được hỏi lại không muốn duy trì việc
trao đổi thường xuyên vì lo rằng khi người bán có rau xấu vẫn nài ép mua, tỷ lệ này ở
chợ bán lẻ là 29%. Số còn lại cho rằng thuận mua, vừa bán. Giữa họ thường không có
những bản hợp đồng, nếu họ đã quen biết chỉ cần thoả thuận miệng. Đối với các siêu
thị, 100% mong muốn duy trì quan hệ thường xuyên và việc mua bán thông qua hợp
đồng, thời hạn ký kết thường là 1 năm. Các chỉ tiêu về tiêu chuẩn sản phẩm cũng
được đề cặp tại các phụ lục hợp đồng.

11


Các phương tiện xử dụng trong cung ứng rau: Xe máy, ô tô là hai phương tiện
chủ yếu được sử dụng trong vận chuyển cung ứng rau tới hai hệ thống. Xe lạnh chỉ sử
dụng trong vận chuyển nội bộ giữa các địa điểm của các siêu thị lớn. Tại các chợ có
cả quang gánh, xe thồ, xe đạp, xe bò cải tiến. Trước đây 5 năm, xe máy là phổ biến
thì ny họ tính toán ở nhiều góc độ và đã đầu tư mua xe tải (trên 40% số người bán
hàng tại chợ bán buôn) và đã có một số người tại chợ bán lẻ, họ là những người có
mối giao cho các hàng cơm, nhà hàng.
4.1.3. Chủng loại và lƣ ng rau đƣ c tiêu thụ thông qua hệ thống ch và siêu thị
Tại các chợ, chủng loại rau thường phong phú. Giữa các chợ có sự khác nhau
về số lượng chủng loại, tùy thuộc vào chợ đó nằm trong khu vực dân cư giầu, hay

Big C
Metro
Intimex
Fivimart
Unimart
Rosa
Loại rau theo
Chính vụ Chính vụ Chính vụ Chính vụ Chính vụ Chính
mùa
Trái vụ Trái vụ
Trái vụ
Trái vụ
Trái vụ
vụ
Số chủng loại
50-59
14 - 26
45-50
39 - 43
5 -7
Số nhà cung cấp
5-6
5-6
2-3
5-6
5-6
1
TB lượng
2,0-3,0 2,5-3,5
0,4-0,5

Người bán rong và các vị trí không chính thống
1.330
42,00
Cửa hàng
95
3,00
Siêu thị
95
3,00
Trực tiếp tới người tiêu dùng
31,66
1,00
Trực tiếp tới các bếp ăn
158
5,00
Tổng lƣ ng rau cần tiêu thụ
3.166
100,00
Như vậy, lượng rau được tiêu thụ thông qua hệ thống chợ là chủ yếu, chiếm
46% và bán rong là 42% và qua siêu thị chỉ là 3%.
Đi sâu nghiên cứu về việc tiêu thụ rau được sản xuất tại địa bàn Hà Nội cho
thấy chúng được tiêu thụ thông qua các kênh khác nhau với các tỷ lệ như bảng 4.4.
Tóm lại, lượng rau được tiêu thụ qua hệ thống chợ và bán rong chiếm tỷ lệ rất lớn:
82,31%, trong đó bán bởi người bán rong và không chính thống đạt 42%. Tình trạng
của Hà Nội hiện nay là các khu đông dân cư, gần các trường học, công ty… việc bày
bán thực phẩm nói chung và rau nói riêng khắp nơi, mặc dù các cơ quan chức năng ra
sức dẹp bỏ, song hiện tượng này như “bắt cóc bỏ đĩa”. Lượng rau tiêu thụ qua hệ
thống siêu thị chỉ đạt 4,04% tổng lượng rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội, tức
tương đương với 66,5 tấn/ngày, chiếm 70% lượng rau bán được bởi các siêu thị. Các
siêu thị chia sẻ, nhiều NTD Hà Nội thích một số sản phẩm rau từ Tây Bắc và Lâm


4.1.4. Các đối tƣ ng bán và khách hàng tại hệ thống ch và siêu thị
Qua khảo sát thống kê được các đối tượng tham gia bán rau được sản xuất tại
Hà Nội và khách hàng của họ tại hai hệ thống chợ và siêu thị như bảng dưới đây.
Bảng 4.6. Các đối tƣ ng tham gia bán hàng và khách hàng mua rau
sản xuất tại Hà Nội tại hệ thống ch và siêu thị trên địa bàn Hà Nội
TT
Đối tượng tham gia bán rau
I
Tại hệ thống ch
A
Tại các chợ bán buôn
1
Người sản xuất
2
3
B
1
2

Người thu gom
Người bán buôn
Tại các chợ bán lẻ
Người sản xuất
Người bán lẻ

II
A

Tại hệ thống siêu thị

nào rất linh hoạt giữa các chợ và giữa những khách hàng khác nhau trong cùng một
chợ. Thực tế, giá rau muôn hình muôn vẻ. Thanh toán tại chợ chủ yếu bằng tiền mặt,
trả ngay: tại các chợ bán buôn là 92,33%, tại các chợ bán lẻ là 98,67%. Phần trả sau
cũng bằng tiền mặt: tại chợ bán buôn là 1% và chợ bán lẻ là 1,33%. Riêng tại chợ bán
buôn có 6,67% được trả bằng cách chuyển khoản. Giá mua của siêu thị cũng dựa vào
biến động giá trên thị trường. Cơ sở xác định giá bán tại các siêu thị là căn cứ vào giá
14


mua vào và giá bán của các siêu thị xung quanh và mức lãi nhất định. Tại các siêu thị,
khách hàng của siêu thị bán buôn cũng chỉ có 13% trả chậm sau khi mua hàng. Riêng
đối với siêu thị bán lẻ, 100% khách hàng phải trả tiền trước khi họ ra khỏi siêu thị.
4.1.6. Rủi ro của ngƣời bán và ngƣời mua
Tại hệ thống chợ: Có phần rủi ro đối với những người thu gom, bán buôn do
những người mua lớn chịu và không trả. Có những người mất từ 15-30 triệu
đồng/năm. Người sản xuất chịu rủi ro như mất cắp, bị ép giá, người mua buôn khi trả
tiền thường bớt khi thanh toán. Người mua hàng để bán lại bị rủi ro khi thời tiết mưa
bất chợt, song chỉ từ 3-5 lần/năm. Người mua về dùng lo rủi ro về độ an toàn. Có
8/170 người đã phải bỏ rau đi không ăn (1 lần/trong năm).
Tại hệ thống siêu thị: Siêu thị cũng bị rủi ro khi rau thu hoạch bị trời mưa nên
dễ thối, hỏng, song tỷ lệ bị không nhiều. Rủi ro lớn nhất đó là việc ước lượng hàng để
đặt và mức bán. Trong số những người được hỏi chưa có ai bị rủi ro về độ an toàn,
song họ vẫn lo lắng và áp dụng biện pháp ngâm nước muối hoặc sục ozôn.
4.1.7. Kết quả và hiệu quả của hoạt động bán rau tại ch và siêu thị
4.1.7.1. Đối với những người bán rau tại hệ thống chợ
Tiêu thụ các loại rau được sản xuất tại Hà Nội trước hết kể đến ba đối tượng làm
ra sản phẩm, cụ thể kết quả và hiệu quả sản xuất của họ như tại bảng 4.5.
Bảng 4.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các đối tƣ ng tham gia sản xuất
ĐVT: Triệu đ/ha/năm
TT

Minh Hiệp
1.166,34
Đạo Đức
1.208,00
Tự Nguyện
583,17
Doanh nghiệp
Cty XNK ĐNA
400,00
Cty TNHH Thế Công
1.105,14
Cty SX, CB & TT RAT Ba Chữ
1.115,74
Cty CP TP AT Hà An
466,00

15

Thu nhập
272,15
310,05
544,29
563,73
453,00
839,76
869,76
437,37
220,00
718,34
725,23

thị mà mức lãi từ kinh doanh rau có tỷ lệ khác nhau dao động trung bình từ 10-20%
so với mức giá mua vào tùy thuộc từng loại rau.
Như vậy, mức lãi từ kinh doanh rau so với mức thu được của người sản xuất
luôn là con số gợi ra câu hỏi làm thế nào để lợi ích của các tác nhân trong chuỗi
được hài hoà?
4.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ
THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ
4.2.1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc tạo nguồn rau cung cấp tới hệ thống ch
và siêu thị
4.2.1.1. Quy hoạch vùng sản xuất rau và sản xuất RAT
Từ các vùng được quy hoạch sản xuất RAT đã giúp hình thành số lượng đơn vị
nhóm, HTX sản xuất rau kiểu mới được hình thành; Đã có 184 đơn vị được cấp GCN
đủ điều kiện sản xuất RAT (4.931 ha), 21 GCN VietGAP (171 ha), chứng nhận PGS

16


cho RHC (24 ha) và 54 cơ sở đạt chứng nhận sơ chế RAT. Nhờ có các GCN mà các
đơn vị sản xuất ký kết được hợp đồng tiêu thụ tới các siêu thị và các bếp ăn tập thể
hoặc xuất khẩu.
4.2.1.2. Đặc điểm của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa bàn Hà Nội
Quy mô sản xuất: Diện tích sản xuất rau của hộ nhỏ, trung bình là dưới 2.000
m2 phân bố trên 4-6 mảnh ruộng nên khó bố trí sản xuất. Năng lực tổ chức sản xuất
và tiêu thụ: Các hộ thuộc các HTX NN là yếu nhất, các hộ thuộc các HTX kiểu mới
đã được trải nghiệm và các hộ thuộc các nhóm sản xuất RHC đã được tập huấn. Công
nghệ phục vụ sản xuất rau: Còn sử dụng các công cụ, dụng cụ thô sơ, thiết bị hiện đại
mới có ở một số doanh nghiệp và HTX kiểu mới, song số lượng chưa nhiều.
4.2.1.3. Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Giữa các hộ thuộc các HTX NN chưa có sự liên kết chặt chẽ nhằm gia tăng
khả năng cung ứng cũng như chưa có sự liên kết chặt chẽ với các tác nhân khác

Quyết định 62/2013/QĐ-TTg được ban hành ngày 25/10/2013 về chính sách
khuyến khích phát triển liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng
cánh đồng mẫu lớn. Đây là một trong những thuận lợi hy vọng sẽ giúp cho sản
xuất rau có những chuyển biến mới.
4.2.3. Nhóm nhân tố về tiêu dùng
4.2.3.1. Về độ tuổi và thu nhập: Những người mua rau tại siêu thị tập trung ở lửa
tuổi từ 30-50 và có mức thu nhập từ 10 triệu đồng/tháng/hộ trở lên. Thu nhập là 1 yếu
tố có ảnh hưởng nhiều đến việc quyết định mua rau ở đâu.
4.2.3.2. Mục đích mua rau: Ngoài các hộ gia đình đến chợ mua rau về dung tại gia
đình, những khách hàng khác mua về bán lại tại các chợ, siêu thị, phục vụ tại các nhà
hàng, bếp ăn và hàng cơm. Mục đích mua là một nhân tố có ảnh hưởng đến việc
quyết định mua rau ở chợ hay siêu thị.
4.2.3.3. Tiêu chí lựa chọn địa điểm mua rau và lựa chọn rau khi mua
Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm cơ bản của người mua rau tại chợ và
siêu thị là thích sự thuận tiện, đa dạng chủng loại rau và rau tươi. Người mua ở chợ
quan tâm nhiều đến tiêu chí giá, sự thuận tiện và những người mua rau tại siêu thị
quan tâm nhiều đến độ an toàn và nguồn gốc rau. Song với NTD Hà Nội, vừa quan
tâm đến độ an toàn của rau, vừa quan tâm đến hình thức bên ngoài và cả yếu tố giá.
Chính từ điều này đã tạo ra bài toán cho người sản xuất và nhà phân phối: làm thế
nào để có sản phẩm rau đảm bảo an toàn, bề ngoài hấp dẫn và giá cả phù hợp? Thực
tế ba tiêu chí này đồng hành là thực sự khó.
4.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG
Bằng phương pháp phân tích SWOT, đưa ra bức tranh tổng thể về tiêu thụ qua
mỗi kênh, qua đó có những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức khác nhau. Cần
phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu từ mỗi kênh để phát triển tiêu
thụ rau trên toàn địa bàn thành phố được cải thiện theo hướng thuận tiện cho người
bán, người mua và quản lý được chất lượng của rau và duy trì trật tự xã hội.

18


những địa phương khác.
5.2.1.2. Cải thiện hiện trạng của các HTX NN
a) Khắc phục tình trạng quy mô sản xuất nhỏ và khó khăn về lao động
Thực hiện dồn điền, đổi thửa theo tinh thần chung của thành phố.
Thành lập các HTX theo mô hình HTX kiểu mới, hoặc có thể thành lập các

19


nhóm, tổ triển khai sản xuất hoặc chuyển đổi để HTX NN thay đổi hướng đi. Cụ thể,
có thể triển khai theo hai hướng: Hướng thứ nhất: Ủng hộ các thành viên trong các
HTX NN có nhu cầu hình thành các HTX kiểu mới; Hướng thứ hai: Giữ nguyên quy
mô của HTX NN nhưng hỗ trợ cho BGĐ của HTX dần chuyển đổi theo chức năng và
nhiệm vụ của mô hình HTX kiểu mới. Đồng thời tuyên truyền cho các thành viên
trong HTX (hộ) hiểu để họ chủ động tham gia các hoạt động và cùng BGĐ xây dựng
các kế hoạch sản xuất và tiêu thụ.
b) Cơ khí hóa một số khâu trong quá trình sản xuất và thu hoạch: (i) Cơ khí hóa
trong khâu làm đất và (ii) Dịch vụ trong khâu phun thuốc BVTV.
c) Hỗ trợ năng cao năng lực quản trị sản xuất và tiêu thụ và hình thành cơ chế hoạt
động: Trong phần này tập trung nâng cao năng lực cho các cán bộ trong BGĐ của các
HTX và hình thành cơ chế giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi. Để làm
được việc này cần có sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu, sự trợ giúp của các cấp chính
quyền và các thành viên trong các BGĐ.
d) Cải tiến công nghệ và sử dụng phương tiện trong sản xuất và sau thu hoạch
Các công nghệ hiện đã được áp dụng mang lại hiệu quả cần được phổ biến,
nhân rộng. Cải tiến những công nghệ hiện có và đầu tư trang bị để có được các dụng
cụ, công cụ và thiết bị phục vụ sản xuất tốt như nhà lạnh, xe lạnh… phục vụ tốt hơn
quá trình sản xuất và sau thu hoạch.
5.2.1.3. Xây dựng và phát triển liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau
Liên kết cần được xây dựng theo hướng cả liên kết dọc và liên kết ngang: hình

rau phân phối theo kênh này.
5.2.2.3. Khuyến khích thực hiện các chính sách có liên quan đã ban hành
a) Thực hiện công tác thanh tra, kiểm soát chất lượng rau trên địa bàn thành phố
- Về phía Nhà nước: Cần duy trì và bổ sung các chính sách về quản lý chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và ban hành các văn bản hướng dẫn để việc triển
khai tại các địa phương được thuận lợi.
- Về phía Thành phố Hà Nội cần kiểm tra tốt chất lượng nguồn rau do chính Hà
Nội sản xuất ra trước. Cần xem xét đến căn nguyên dẫn đến độ an toàn của rau không
được đảm bảo đó là việc sử dụng các vật tư đầu vào phục vụ sản xuất. Cần tổ chức
thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất các cơ sở kinh doanh vật tư đầu vào của
sản xuất rau trên địa bàn các vùng trồng rau đã được quy hoạch và xử phạt nghiêm
minh các cơ sở vi phạm. Việc giám sát nội bộ của các đơn vị sản cuất được đánh giá
cao và lựa chọn hình thức, cách làm giống như các nhóm sản xuấ RHC đang làm.
Cách thức thực hiện giải giải pháp: (i) Tài liệu hóa quá trình kiểm tra nội bộ; (ii)
Tổ chức tập huấn cho những người làm công tác kiểm tra, thanh tra (lý thuyết); (iii) Tổ
chức giao lưu chia sẻ kinh nghiệm giữa những người đã làm với những người mới
làm để khắc phục những điểm chưa rõ và áp dụng được đúng, mang lại hiệu quả.
- Thành phố cũng cần tổ chức tốt việc kiểm tra chất lượng sản phẩm rau đưa từ
ngoài tỉnh vào thị trường Hà Nội. Do đặc thù của Hà Nội có đến 48-50% rau đưa từ
ngoài vào nên cần thiết duy trì kiểm tra nguồn rau chặt chẽ theo hình thức định kỳ và bất
thường lấy mẫu kiểm tra, phân tích nhằm giảm thiểu rủi ro về độ an toàn của rau.

21


b) Khuyến khích tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng
Hiện đã áp dụng quyết định 62/2013/QĐ-TTg được ban hành ngày 25/10/2013
do đó rất cần phổ biến chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản theo hợp đồng và
hình thức áp dụng để từ đó các hộ nhận rõ được tác dụng và chủ động thực hiện.
5.2.3. Thúc đẩy tiêu dùng rau

nguồn rau nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc.

22


Lượng rau tiêu thụ qua hệ thống chợ chiếm 46% nhu cầu rau của toàn thành
phố, và 42% được tiêu thụ bởi những người bán rong và những người ngồi ở các vị
trí không đúng quy định. Lượng rau được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị chỉ đáp ứng
3,0% nhu cầu rau của thành phố. Việc phân phối rau thông qua các siêu thị đã được
cải thiện nhiều song do sự gia tăng nhu cầu rau của thành phố lớn hơn nên khả năng
đáp ứng được vẫn còn ở một con số khiêm tốn. Hiện Hà Nội rất vất vả trong việc
quản lý những người bán hàng không chính thống và cả nguồn rau của họ bán ra mặc
dù đánh giá cao ở góc độ về lượng hàng bán được (42%) là lớn hơn lượng rau bán tới
tay NTD cuối cùng thông qua chợ.
3) Thực trạng tham gia sản xuất và khả năng cung ứng rau của các đối tượng tham gia
sản xuất rau tại Hà Nội: Nguồn cung ứng rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội do 3 đối
tượng chính đó là: (i) Các hộ thuộc các HTX NN, đối tượng chính, sản xuất ra > 90% sản
lượng rau của toàn thành phố, song tỷ lệ bán hàng cho các đối tượng như thu gom- mang đến
chợ bán buôn 25% - mang đến chợ bán lẻ: 53%- 25_ và gần 15%. Phần tại chợ bán lẻ bán
cho người bán lẻ và NTD; (ii) Các hộ thuộc HTX kiểu mới, sản xuất rau trên diện tích 3%
diện tích đất song có khả năng tạo ra >4% sản lượng rau của toàn thành phố. 90% sản phẩm
của họ chủ yếu được cung ứng tới các bếp ăn tập thể, siêu thị, cửa hàng và quầy hàng RAT.
10% sản phẩm còn lại có thể bán cho các HTX khác để cân đối lượng hàng đáp ứng nhu cầu
của khách hàng hoặc bán ra chợ khi thời tiết không ủng hộ. (iii) Các doanh nghiệp, tham gia
sản xuất lượng rau nhỏ (0,5%) so với sản lượng rau của thành phố song thực hiện cung cấp
được cho các đối tác có nhu cầu rau lớn hàng ngày như các siêu thị và các bếp ăn tập thể.
Thành công các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp tiêu thụ thông qua siêu thị là
nhờ công tác tổ chức sản xuất và tiêu thụ.
Tiêu thụ rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội thông qua nhiều kênh khác
nhau song lượng rau được tiêu thụ qua hệ thống chợ là chủ yếu (40,31%), kênh siêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status