LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị
nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Mai
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành tại Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và
Chính sách thuộc Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn của Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Đỗ Kim Chung, người hướng
dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và định hướng tôi trưởng thành trong công tác nghiên cứu
khoa học và hoàn thiện khóa luận. Bản thân tôi đã học được ở GS.TS. Đỗ Kim Chung rất
nhiều kiến thức mới về công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt về phương pháp tư duy để
giải quyết các vấn để trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống. Trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô
giáo trong Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa kinh tế và Phát triển nông
thôn. Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô về sự hỗ trợ quý báu này.
Tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo các Ban quản lý siêu thị trên địa bàn Hà Nội đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong thời gian đi thực tế tại các đơn vị. Tôi cũng xin cảm ơn đến các siêu
thị bán rau đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện đề tài. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Th.S
Nguyễn Thị Tân Lộc, thuộc bộ môn Kinh Tế Thị Trường, Viện Nghiên cứu Rau quả. Đồng
thời, ở đây tôi cũng rất biết ơn sự tạo điều kiện của các lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả,
các cô, chú cán bộ nghiên cứu tại Bộ môn Kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu Rau quả đã
rất dày công giúp chúng tôi tiếp cận thực tế địa bàn khảo sát và trong thời gian thực tập.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến bạn bè và gia đình: bố, mẹ tôi luôn luôn
động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn
thành luận văn này. Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả mọi người đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
bày hàng và niềm yết giá, nhãn mác của sản phẩm. Lượng bán trong ngày của các loại siêu
thị là khác nhau đối với Đại siêu thị khoảng 1250 kg/ngày, siêu thị vừa khoảng 1300
kg/ngày, siêu thị nhỏ khoảng 100 kg/ngày. Và xu hướng tiêu thụ rau có xu hướng tăng
trong những năm gần đây do như cầu về rau an toàn của người dân tăng cao. Những mặt
đạt được của hệ thống siêu thị kinh doanh rau : về cơ sở hà tầng và dịch vụ ngày càng đươc
cải thiện, nguồn gốc rau và tiêu chí rau an toàn bán trong siêu thị được nâng cao. Bên cạnh
những mặt đạt được thì còn một số hạn chế như : nhãn mác cụ thể của một số loại rau còn
chưa có, nguồn gốc và quy trình sản xuất rau còn chưa được ghi rõ ràng, làm cho khách
hàng chưa rõ. Các yêu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa
bàn Hà Nội là : nguồn lực của chủ doanh nghiệp, nguồn cung ứng rau, chất lượng sản
phẩm, giá cả loại sản phẩm, cơ sở hạ tầng, đối thủ cạnh tranh, nhãn mác. Quản lý chất
lượng, quy mô siêu thị.
Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
trên địa bàn Hà Nội: Mở rộng quy mô siêu thị.Nâng cao cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch
vụ tại hệ thống siêu thị. Nhãn mác cần được ghi cụ thể nguồn gốc xuất xứ cụ thể của từng
loại mặt hàng: nơi xuất xứ, địa chỉ, số điện thoạt, quy trình sản xuất rau. Sử dụng hiệu quả
vốn cho hoạt động kinh doanh rau. Nâng cáo chất lượng và đa dạng sản phẩm, hàng hóa.
Nâng cao đội ngũ lao động trong ngành hàng rau và đẩy mạnh công tác quản lý siêu thị.
Tối thiểu hóa chi phí. Đẩy mạnh hoạt động công tác marketing
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
TÓM TẮT KHÓA LUẬN 2
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển tiêu thụ
rau tại các siêu thị trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
trên địa bàn Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng tiêu thụ rau tại các siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội
trong những năm vừa qua.
- Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ rau tại các siêu
thị trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các siêu thị có bán rau trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu thực trạng tình hình tiêu thụ rau xanh hàng năm của một số siêu thị trên
địa bàn Thành phố Hà Nội.
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Nghiên cứu tại địa bàn Thành phố Hà Nội.
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu thực trạng tình hình tiêu thụ rau của siêu thị thuộc Thành phố từ năm
2011-2013.
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THÔNG SIÊU THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Cơ sở lý luận của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
2.1.1.1 Khái niệm về siêu thị
* Khái niệm
Siêu thị là dạng cửa hàng tự phục vụ, thường đặt ở các đô thị.
Tiêu chuẩn xếp hạng siêu thị ở Việt Nam:
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, siêu thị được phân làm 3 hạng:
• Siêu thị hạng I:
Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản, khu vệ
sinh, khu giải trí, các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
+ Có diện tích kinh doanh từ 5.000m
2
trở lên;
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
+ Diện tích từ 1.000m
2
trở lên;
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên.
• Siêu thị hạng II
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
+ Có diện tích kinh doanh từ 2.000m
2
trở lên;
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
+ Diện tích từ 500m
2
trở lên;
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
• Siêu thị hạng III:
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
+ Có diện tích kinh doanh từ 500m
2
trở lên;
thải những hàng hóa không được thị trường chấp nhận.
+ Quy luật cung cầu:
Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sự cần thiết
của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà cá thể sẵn sàng có khả
năng thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ đó.
Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán và khả năng bán về
một loại hàng hóa nào đó.
- Quy luật cầu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượng
cung về hàng hóa dịch vụ.
b) Marketing:
Theo quan niệm của các nghiên cứu thì định nghĩa về Marketing được
trình bày theo hai khái niệm khác nhau phù hợp với các giai đoạn phát triển
của Marketing đó là Marketing cổ điển và Marketing hiện đại.
Theo quan điểm cổ điển: Marketing là quá trình mà ở đó nhu cầu về hàng hóa
và dịch vụ được dự đoán về thỏa mãn thông qua một quá trình bao gồm nhận
thức thúc đẩy và phân phối.Về thực chất, Marketing là hoạt động kinh doanh
nhằm hướng luồng hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu
dùng. Đặc trưng của Marketing cổ điển là hoạt động Marketing chỉ diễn ra
trên thị trường trong khâu lưu thông. Hoạt động đầu tiên là hoạt động thị
trường sau đó là tổ chức các kênh phân phối; các chủ trương và biện pháp đều
nhằm mục tiêu là bán được hàng hóa, tăng được doanh số và lợi nhuận.
Theo quan điểm hiện đại: Từ những năm 50 của thế kỷ XX, kinh tế và
khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, cạnh tranh trên thị trường gay gắt, giá cả
biến động mạnh, rủi ro trong kinh doanh nhiều, khủng hoàng kinh tế diễn ra
buộc các nhà kinh doanh phải có những biện pháp mới ứng xử với thị trường.
Chính vì vậy Marketing hiện đại ra đời. Marketing hiện đại có đặc trưng cơ
bản là coi khách hàng là trung tâm, coi nhu cầu của người mua là quyết định.
Marketing hiện đại bắt đầu từ việc nghiên cứu phát hiện nhu cầu và làm mọi
cách để thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, từ đó nhằm đạt mục tiêu kinh
doanh. Khẩu hiệu của Marketing hiện đại là “ Hãy bán cái thị trường cần,
trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theo quan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá
trình xuất hiện từ trước khi tổ chức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc
sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, là quá
trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế. Quá
trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ,
vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuất kinh doanh được hoàn thành. Tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điều kiện thu hồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để
thực hiện tái sản xuất mở rộng.
b. Khái niệm về tiêu thụ rau
Tiêu thụ sản phẩm rau là quá trình người sản xuất rau bán sản phẩm của mình ra thị
trường để mang lại thu nhập. Thu nhập từ việc tiêu thụ sản phẩm rau giúp người sản xuất
sử dụng nhanh chóng thực hiện quá trình tái sản xuất.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm rau trên thị trường được cấu thành bởi rất nhiều các yếu tố
khác nhau, chủ thể kinh tế tham gia bao gồm:
+ Người sản xuất: là người trực tiếp tạo ra sản phẩm rau nhằm thỏa mãn nhu cầu
của thị trường.
+ Người thu gom: thu mua sản phẩm hàng hóa của người sản xuất và bán lại cho
người bán buôn, bán lẻ.
+ Người bán buôn: là những người mua hàng hóa với số lượng lớn rồi bán cho
những người bán lại hoặc bán lẻ.
+ Người bán lẻ: là những người trực tiếp chuyển giao sản phẩm hàng hóa đến
người tiêu dùng.
+ Người tiêu dùng: là những người tham gia vào khâu cuối cùng của kênh phân
phối, có nhu cầu về sản phẩm. Họ mua sản phẩm để tiêu dùng cho cá nhân và gia đình.
2.1.1.4 Khái niệm về kênh tiêu thụ
Có rất nhiều định nghĩa về kênh tiêu thụ. Kênh tiêu thụ có thể được coi là đường đi
của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Nó cũng được coi như một
dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá khi chúng được mua bán qua các tác nhân khác
nhau. Một số ý kiến khác lại cho rằng, kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của
gạo. Những năm vừa qua, các doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần ổn định giá cả thóc,
gạo.
- Giúp phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt trung gian Nhà nước đứng ra làm trung gian
xuất nhập khẩu rất có lợi nếu thực hiện đúng chức năng yêu cầu.
* Một số mặt tiêu cực của trung gian cần phải hạn chế:
- Qua nhiều trung gian làm cho giá mua tăng lên đối với người tiêu dùng, nếu
không quản lý chắt chẽ những người này sẽ làm ảnh hưởng đến chính sách, chữ tín của
những người sản xuất.
- Độc quyền của các trung gian lớn: Phải hạn chế độc quyền của các trung gian lớn,
phải cạnh tranh lành mạnh.
* Phân loại theo độ dài kênh:
1- Kênh phân phối ngắn: Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanh nghiệp đến
người sử dụng sản phẩm hoặc có sử dụng người mua trung gian tham gia xen giữa khách
hàng và doanh nghiệp.
2- Kênh phân phối dài: Là kênh phân phối có nhiều loại, nhiều cấp mua trung gian.
Hàng hóa của doanh nghiệp có thể được chuyển dần quyền sở hữu cho một loại các nhà
buôn bán lớn đến nhà buôn bán nhỏ rồi qua nhà bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
* Phân loại theo số cấp:
1: Là kênh trực tiếp từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh này có
đặc điểm nhanh, giảm chi phí lưu thông, quan hệ giao dịch và chi phí mua bán.
2: Lưu chuyển phân phối qua trung gian, người bán lẻ. Đây là loại kênh ngắn.
Thuận lợi cho người tiêu dùng cuối cùng. Hàng hóa nhanh, người cung ứng cuối cùng
được giải phóng khỏi chức năng bán lẻ như siêu thị, cửa hàng lớn.
3: Nhiều khâu trung gian và bán buôn, bán lẻ, từng khâu được chuyên môn
hoá, thuận lợi mở rộng thị trường, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật.
4: Hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng như kênh 3. Nhưng trong quan
hệ mua bán, giao dịch xuất hiện môi giới trung gian. Nó giúp cả người sản xuất và người
tiêu dùng có đầy đủ thông tin về thị trường, đem lại hiệu quả cho các bên tham gia.
Kênh tiêu thụ của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm nhưng
phải đảm bảo các yếu tố như:
vụ tiếp theo. Thu nhập từ việc tiêu thụ sản phẩm rau giúp người sản xuất sử dụng hợp lý
nguồn vốn sản xuất, tránh ứ động vốn và nhanh chóng thực hiện quá trình tái sản xuất.
- Đáp ứng nhu cầu hàng ngày cho người tiêu dùng. Đảm bảo lợi ích của người sản
xuất và các tác nhân tham gia quá trình tiêu thụ rau.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất phải hướng tới tiêu dùng và lấy tiêu dùng
làm mục tiêu để hoạt động sản xuất kinh doanh.Tiêu thụ đóng vai trò quan trọng trong đầu
mối này. Thông qua tiêu thụ sản phẩm mà nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng về số lượng,
mẫu mã, chủng loại mặt hàng.
Ngược lại, tiêu thụ sản phẩm cũng chuyển tải những kết quả của lĩnh vực sản xuất
sang lĩnh vực tiêu dùng. Vì vậy tiêu thụ sản phẩm kịp thời và nhanh chóng là tiền đề quan
trọng thực hiện phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp,
đặc biệt là trong sản xuất rau.
Giá cả phụ thuộc vào lượng hàng nông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn
chế dẫn đến tình trạng rau có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ. Điều này ảnh hưởng đến quyết
định sản xuất cũng như lợi ích của nông dân.
2.1.2.2 Vai trò của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
- Tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp các nhà sản xuất,
phân phối hiểu thêm về kết quả sản xuất phân phối của mình và nhu cầu của khách hàng. Rau
được bán trong siêu thị sẽ tạo điều kện tiếp cận tới nhiều đối tượng khách hàng, từ đó hiểu
được nhu cầu căn bản của người tiêu dùng hướng đến cho người sản xuất cần phải làm gì và
làm như thế nào.
- Siêu thị là nơi bày bán những mặt hàng uy tín, đảm bảo về mặt chất lượng vị vậy
khi rau được bán thông qua kênh siêu thị sẽ tạo thương hiệu rau riêng cho cơ sở sản xuất
rau,nâng cao thu nhập cho người trồng rau từ đó sẽ được nhiều người tiêu dùng biết đến.
- Tiêu thụ rau thông qua kênh tiêu thụ giúp cho sự liên kết từ khâu sản xuất đến
khâu tiêu thụ được từ đó giảm thiểu khó khăn trong khâu tiêu thụ của người sản xuất cũng
như người tiêu dùng khi lựa chọn rau.
- Rau trước kia chỉ được bày bán ở các chợ thị nay đã có mặt trong các siêu thị điều
này cho thấy rau bán trong các siêu thị giúp mở rộng thị trường tiêu thụ ngành hàng rau.
- Siêu thị bán hàng theo phương thức tự phục vụ (self-service hay libre - service):
hỏng.
- Rau bày bán ở siêu thị tương đối nhiều chủng loại, ngày càng gia tăng nhiều
chủng loại, tuy nhiên chủ yếu là các loại rau dễ bảo quản.
- Hình thức bán hàng ở siêu thị giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết về tên sản
phẩm, về giá. Tại siêu thị thì mặt hàng rau được xếp ngay ngắn, gọn gàng, tập trung vào 1
nơi, không rải rác như các chợ. Chính vì vậy, dễ nhận thấy là vấn về vệ sinh sạch sẽ.
- Xu thế phát triển ở nước Việt Nam: hiện nay nhu cầu tiêu dùng đang tăng tạo ra
thị trường tiêu thụ rau thông qua kênh siêu thị phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất
lượng sản phẩm.
2.1.4 Nội dung nghiên cứu hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị.
Tiêu thụ rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố
quyết định đến sự phát triển của người sản xuất rau cũng như người kinh doanh mặt hàng
rau. Nghiên cứu tình hình tiêu thụ rau là việc tìm hiểu về mạng lưới, đặc điểm thị trường,
các yếu tố đầu vào, doanh số bán hàng, đối tượng theo các tiêu chí khác nhau nhằm làm rõ
các khía cạnh khác nhau của vấn đề tiêu thụ.
Tình hình tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội hể
hiện qua các vấn đề sau:
- Mạng lưới các siêu thị có bán rau trên địa bàn Hà Nội nghiên cứu tại Hà Nội hiện
có bao nhiêu siêu thị và cơ cấu của siêu thị so với cả nước thế nào, nghiên cứu về sự phân
bố và tập trung của hệ thống các siêu thị trên địa bàn tại các vị trí khác nhau.
- Đặc điểm của siêu thị có bán rau trên địa bàn Thành phố Hà Nội: xác định quy
mô của các siêu thị, diện tích cho kinh doanh mặt hàng rau và cơ cấu so với tổng diện tích
của siêu thị, có cơ sở hạ tầng vật chất như thế nào sự khác nhau cơ bản giữa siêu thị lớn
với siêu thị vừa và siêu thị nhỏ, các thức vận hành và quản lý trong hoạt đông tiêu thụ rau
của siêu thị.
- Hoạt động kinh doanh rau của hệ thống siêu thị trên địa bàn nghiên cứu cần tìm
hiểu về chủng loại rau có bán tại các siêu thị, nguồn cung ứng rau cho siêu thị và tiêu chí
của siêu thị khi lựa chọn nhà cung cấp, cách siêu thị tổ chức hoạt động bán hàng như: trưng
bày sản phẩm, đóng gói và phâm loại sản phẩm, treo biển giá, nhãn mác lượng rau bán
được của các siêu thị trong thời điểm (trong ngày), giá của các mặt hàng rau giữa các siêu
bất lợi, vì doanh nghiệp có thể nhanh chóng chuyển sang đặt hàng của nhà cung cấp khác,
do đó, nhà cung cấp buộc phải chấp nhận tình trạng bị ép giá. Sức mạnh nhà cung cấp tăng
lên, nếu mức độ tập trung trong lĩnh vực cung cấp cao.
+ Chi phí thay đổi nhà cung cấp. Chi phí này cao thì doanh nghiệp sẽ càng phải
chịu nhiều khoản bất lợi mà nhà cung cấp đặt ra.
+ Nguy cơ tang cường hợp nhất giữa các nhà cung cấp và đơn vị sản xuất. Khả
năng này cao thì sức mạnh nhà cung cấp càng lớn.
+ Sức mạnh của doanh nghiệp thu mua. Trong giao dịch thương mại, sức mạnh của
khách hàng đương nhiên sẽ làm giảm sức mạng của nhà cung cấp. Sức mạnh này được thể
hiện rõ một kho khách hàng tẩy chay không mua sản phẩm
- Giá cả sản phẩm: Giá cả là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm. Trong
nền kinh tế thị trường, giá cả là tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người mua
và người bán; giữa người sản xuất, kinh doanh và thị trường. Giá cả nhiều khi lại là yếu
tố quyết định đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm hàng hoá, doanh nghiệp. Chất lượng
sản phẩm càng cao thì càng được người tiêu dùng thừa nhận. Nâng cao chất lượng sản
phẩm tạo thuận lợi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, tăng chất lượng và hiệu quả sử
dụng vốn, đồng thời góp phần tăng uy tín của sản phẩm trên thị trường.
- Cơ sở hạ tầng của siêu thị: cơ sở hạ tầng vật chất rất quan trong trong việc chọn
lựa của khách hàng, cơ sở vật chất hiện đại, tốt hấp dẫn nhiều người tiêu dùng ghé qua
- Đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh là người, công ty, doanh nghiệp kinh doanh
hay đầu tư cùng mặt hàng với chúng ta, vì quyền lợi của riêng mình nên hay xảy ra tranh
chấp nên sẽ ảnh hưởng tới quá trình tiêu thụ.
- Các yếu tố khác: Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản
phẩm như quản lý chất lượng sản phẩm trong siêu thị, quy mô của siêu thị.
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Cây rau có vai trò quan trọng trong đời sống con người, nó được phát triển dựa trên
sự phát triển của xã hội. Ở các nước phát triển thì rau được chú trọng hơn các nước đang
phát triển.
4. Ấn Độ 169
(Nguồn: theo Ku A met và M Shaj ham 2005)
Qua bảng 2.2 ta thấy nhu cầu tiêu thụ rau của con người cũng tăng theo sự phát
triển của xã hội, ở những nước phát triển thì nhu cầu cao hơn so với các nước đang phát
triển. Sản lượng rau trên thế giới ngày càng tăng do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng. Sức
tăng trưởng sản lượng rau của một số nước trên thế giới được thể hiện qua bảng 2.3.
Bảng 2.2: Sản lượng rau của một số nước trên Thế Giới qua các năm 1961-1996
TT Tên nước
1961-
1965
1971-
1975
1981-
1985
1991-
1995
1995 1996
Tăng
trưởng
69-95
(lần)
Tổng sản lượng
rau của thế giới
200234 293657 392060 519154 566368 565523
290
1. Hylạp 1407 3015 3990 4135 4103 4198 3.66
2. Italia 9859 11876 14378 144146 13555 13555 1.21
3. Tây ban nha 6124 7501 9023 10377 10184 10524 1.77
4. Anbani 165 240 368 398 470 460 2.90
5. Pháp 7849 6891 6987 7659 7929 7929 -0.08