Thực trạng và giải pháp thực hiện đền bù thiệt hại khi thu hồi đất qua một số dự án trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 25

Lời nói đầu
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội,
an ninh và quốc phòng . Tuy nhiên, đất đai lại là một tài nguyên có hạn và
cần được khai thác sử dụng một cách có hiệu quả nhất
Vai trò của đất đai trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày càng
được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học . Đặc biệt, đất nước ta là đất
nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì các nhu cầu
sử dụng đất để phục vụ cho mục đích về kinh tế, xã hội cũng như an ninh
quốc phòng ngày càng tăng.
Việc đền bù thiệt hại cho những cá nhân, tổ chức, hé gia đình có
đất khi bị nhà nước thu hồi phục vụ lợi Ých công cộng, lợi Ých quốc gia là
một công việc khá phức tạp, khó khăn, liên quan đến đời sông, kinh tế,
chính trị, xã hội của một nước.
Ngày 24/4/1998 Chính Phủ đã ban hành Nghị định 22/CP quy định
rõ về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi Ých quốc gia, lợi Ých công cộng nhằm đưa
công tác đền bù thiệt hại khi giải phóng mặt bằng vào nề nếp, trật tù. Đến
nay đă thực thi nghị định này được 5 năm và có những kết quả nhất định,
song vẫn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc làm chậm tiến độ của các dự
án.
Thực hiện đường lối đổi mới và chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội trong những năm tới với hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng các công
trình giao thông thuỷ lợi, công trình xây dựng giáo dục, khoa học kỹ
thuật, thể dục thể thao và hàng loạt các dự án phát triển khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu đô thị mới v.v đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng và
chính sách đền bù phải có sự cải tiến về mọi mặt. Chính sách đền bù thiệt
hại khi thu hồi đất là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện
các dự án, từ đó nâng cao hiêu quả sử dụng vốn đầu tư. Công tác này có
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi Ých của nhà nước, của chủ đầu tư, ảnh hưởng

Diện tích đất đai có hạn. Sự giới hạn đó là toàn bộ diện tích bề mặt
của trái đất cũng như diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ bị
giới hạn. Sự giới hạn đó còn thể hiện ở chỗ nhu cầu sử dụng đất đai của các
ngành kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày càng
tăng. Do diện tích đất đai có hạn nên người ta không thể tuỳ ý muốn của
mình tăng diện tích dất đai lên bao nhiêu cũng được. Đặc điểm này đặt ra
yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số llượng, chất lượng đất,
cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng nhưcơ cấu sử dụng đất đai theo
các thành phần kinh tế và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch
phân bố và sử dụng đất đai có cơ sở khoa học. Đối với nước ta diện tích đất
đai bình quân đầu người vào dạng thấp so với các quốc gia trên thế giới .
Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững lại càng
đặc biệt quan trọng.
Đất đai được sử dụng cho các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh
tế, xã hội. Việc mở rộng các khu công nghiệp, các khu chế xuất, việc mở
rộng các khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp đều phải sử dụng đất đai. Để đảm bảo cân đối trong
việc phân bổ đất đai cho các ngành, các lĩnh vực, tránh sự chồng chéo và
lãng phí, cần coi trọng công tác quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất dai
có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong công tác này
Đất đai có vị trí cố định, tính chất hoá học vật lý, hoá học và sinh
học trong đất cũng không đồng nhất. Đất đai được phân bổ trên một diện
tích rộng. Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ
nhưỡng, thời tiết khí hậu, nước, cây trồng và gia sóc ) và các điều kiện
kinh tế như kết cấu hạ tầng, dân số, công nghiệp Trên các vùng các khu
vực nên tính chất của đất có khác nhau. Vì vậy việc sử dụng đất đai vào các
quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính
chất của đất sao cho phù hợp. Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng
đất phải thích hợp với các điều kiện tự nhiên kinh tế và chất lượng ruộng
đất của từng vùng để mang lại hiệu quả cao. Để kích thích sản xuất hàng

vùng đất là tất yếu khách quan. Để đáp ứng nhu cầu đó là một trong những
nhiệm vụ quan trọng nhất nhằm phát triển kinh tế – xã hội đất nước.
Ở nước ta, dùa trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thì
cả nước có 7 vùng kinh tế sinh thái. Đó là vùng miền núi và trung du Bắc
Bộ, vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng khu IV cũ, vùng duyên hải miền
Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông
Cửu Long. Mỗi vùng có những sắc thái riêng về đất đai và các điều kiện tự
nhiên khác. Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai của mỗi vùng là một trong
những nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và ở
hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo từng ngành sản xuất, từng
lĩnh vực của đời sống, đất đai được phân thành các loại khác nhau. Ở nước
ta đất được phân thành 6 loại.
- Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản
xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc để
nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.
- Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào mục
đích sản xuất lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh mới, bảo vệ, phục hồi
rừng tự nhiên, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp.
- Đất khu dân cư nông thôn là loại đất để xác định chủ yếu vào xây
dựng nhà ở và công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn.
- Đất đô thị là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn được sử dụng để xây
dựng nhà ở, trụ sở các cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ
sở hạ tầng phục vụ kợi Ých công cộng, quốc phòng, an ninh và vào các
mục đích khác.
- Đất chuyên dùng là đất được sử dụng vào mục đích không phải là
nông nghiệp, lâm nghiệp, nhà ở, bao gồm : đất xây dựng, các công trình,
công nghiệp, khoa học kỹ thuật, hệ thống giao thông, hệ thống thuỷ lợi, đê
điều, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, dịch vụ, đất sử dụng
cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, đất làm đồ gốm, gạch ngãi và các vật

và có thể thay đổi cả mục đích sử dụng đất. Nói đến bản chất của công tác
này chúng ta phải đề cập tới vấn đề sở hữu đất đai của nước ta. Thực tiễn
cho chóng ta thấy đất đai vô cùng quý giá, ngày càng có ý nghĩa quan trọng
trong việc hoạch định các chính sách kinh tế – xã hội của đất nước. Trải
qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới
tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay. Văn kiện Đại Hội VIII của
Đảng năm 1996 đã khẳng định : “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, không
tư nhân hoá, không cho phép mua bán đất đai. Thực hiện đúng Luật
Đất đai, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và chính sách đất đai.
Trong việc giao quyền sử dụng hay cho thuê đất phải xác định đúng giá
các loại đất để sử dụng có hiệu quả, duy trì và phát triển quỹ đất, đảm
bảo lợi Ých của toàn dân. Khắc phục tình trạng đầu cơ đất và những
tiêu cực yếu kém trong quản lý và sử dụng đất''.
Năm 1998 Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai sửa đổi và bổ sung
trên cơ sở luật đất đai hiện hành, các Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của
tổ chức trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài, các Nghị định của
Chính phủ và các văn bản pháp luật thi hành Luật Đất đai. Trong luật có
sửa đổi một số vấn đề bất hợp lý gây ách tắc trong quá trình phát triển kinh
tế – xã hội, bổ sung những vấn đề phát sinh trên thực tế mà luật chưa quy
định. So với Luật Đất đai hiện hành thì Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung một
số vấn đề về đối tượng được giao đất, cho thuê đất, quyền của tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Quyền của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân được xác lập quyền sử dụng đất thông qua việc
chuyển quyền sử dụng đất, sửa đổi thời hạn giao đất, cho thuê đất; thẩm
quyền giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vấn
đề hạn mức giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp; xác định giá đất; chế độ sử
dụng các loại đất, trong đó làm rõ hơn chế độ sử dụng đất lâm nghiệp, đất
chuyên dùng và một số vấn đề cụ thể khác.
Những nội dung chủ yếu của chính sách đất đai trong giai đoạn này là:
- Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai từ ba hình thức sở hữu là : Nhà

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với đời sống toàn dân và
với sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà
nước quản lý, Nhà nước cho tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân, hộ gia đình sử
dụng ổn dịnh lâu dài
Một mặt: Sở hữu toàn dân về đất đai là cần thiết trong sự nghiệp
phát triển kinh tế hiện nay cũng như lâu dài là phù hợp với xu hướng tất
yếu của CNXH.
Mặt khác, việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân hoàn toàn
không gây trở ngại gì cho người dân thực hiện quyền sử dụng đất của
mình. “Luật Đất đai 1993 ra đời là một bước tiến bộ quan trọng trong việc
thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng và có ý nghĩa to lớn về kinh tế,
xã hội và pháp lý, thể hiện tinh thần đổi mới nhằm từng bước đưa công tác
quản lý và sử dụng đất đai vào kỷ cương chặt chẽ, khuyến khích mọi tổ
chức, cá nhân sử dụng đất yên tâm đầu tư khai thác có hiệu quả mọi tiềm
năng đất đai, triệt để tiết kiệm đất góp phần vào công cuộc cải tạo
XHCN, đảm bảo công bằng xã hội.
Đền bù thiệt hại khi thu hồi đất thực chất chưa có một định nghĩa cụ
thể nhưng ai cũng hiểu nó là việc chi trả và bù đắp những thiệt hại, tổn thất
về đất, nhà cửa, những tài sản gắn liền với đất như : vật kiến trúc, cây cối,
hoa màu, công trình hạ tầng và các chi phí để ổn định đời sống, chuyển dổi
nghề nghiệp. Bản chất của việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất là
việc đền bù những tổn thất do có sự thay đổi mục đích sử dụng giữa các
loại đất và thay đổi chủ sử dụng các loại đất này. Mục đích thu hồi đất là để
phục vụ cho nhà nước sử dụng vào các mục đích như : quốc phòng, an
ninh, lợi Ých quốc gia và các lợi Ých công cộng khác. Suy cho cùng đều
phục vụ lợi Ých của nhân dân và thể hiện tự do, dân chủ của nước ta.
Việc đền bù giải phóng mặt bằng không chỉ đơn giản giải quyết vấn
đề bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất, thể hiện quan hệ kinh tế
thông thường mà nó còn thể hiện mối quan hệ xã hội. Đặc biệt là quan hệ
giữa những người sử dụng đất với Nhà nước ( chủ sở hữu đất đai ). Đó là

nước .
Luật Đất đai năm 1993 đã khẳng định : Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao Đất cho các tổ chức,
hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước có chính sách bảo
đảm cho người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có đất để
sản xuất.
Như vậy, xét về nguồn gốc đất đai là sản phẩm tự nhiên có trước lao
động. Trong quá trình phát triển của xã hội, đất đai được sử dụng nhằm
mục đích phục vụ sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nên đất đai
không thuộc sở hữu riêng của một ai mà là của chung của toàn xã hội. Quỹ
đất đai của nước ta ngày nay là thành quả của việc khai hoá, bồi bổ cải tạo
và bảo vệ của bao nhiêu thế hệ. Do đó đất đai không phải của riêng ai mà
nó là tài sản chung của toàn xã hội.
Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt xét trên cả phương diện tự
nhiên, kinh tế và xã hội. Vì vậy Nhà nước phải nắm quyền sử dụng đất đai
về mặt pháp lý, nắm quyền quản lý và quyền sở hữu đất đai. Nhà nước phải
xây dựng chế độ sở hữu cho phù hợp với lợi Ých của toàn xã hội nhằm
tránh tình trạng đất đai để hoang hoá, vô chủ,lãng phí, không hiệu quả. Nhà
nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng nhằm đảm
bảo đất đai có chủ sử dụng thực sự và cụ thể. Nhà nước giao quyền quản lý
đất đai đồng thời đưa ra những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối
với quản lý và sử dụng đất đai. Nhằm phát huy tốt hơn chức năng quản lý
đất đai theo cơ chế mới, phù hợp với điều kiện mới của sự phát triển kinh
tế – xã hội trong cơ chế thị trường, ổn định tình hình đất đai vốn phức tạp
do lịch sử để lại. Luật đất đai cũng quy định khi nhà nước thu hồi đất để sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi Ých quốc gia, lợi Ých công
cộng thì Nhà nước có trách nhiệm đền bù thiệt hại.
Luật đất đai năm 1993 đã quy định rõ quyền và lợi Ých của người sử
dụng đất cũng như trách nhiệm của nhà nước khi thu hồi đất. Đất có vai trò
vô cùng quan trọng đối với xã hội loài người, nó là điều kiện cho sự sống

đất đai và nhà ở cho đối tượng sử dụng theo các phạm vi không gian và
trong từng thời gian nhất định, với mục đích phục vụ tốt nhất cho chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và cho phép sử dụng hợp lý,
có hiệu quả các yếu tố đất đai và nhà ở.
Kế hoạch sử dụng đất đai và nhà ở bao gồm việc xác định phương
hướng, mục tiêu, các chỉ tiêu về sử dụng đất đai, xây dựng và phát triển
nhà ở cũng như các biện pháp cần thiết để đạt được các mục tiêu đó một
cách tốt nhất. Quy hoạch sử dụng đất đai nhà ở căn cứ vào quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và nó được cụ thể hoá bằng kế
hoạch sử dụng đất đai, nhà ở trong từng thời gian nhất định ( 1 năm hoặc 5
năm ). Thực hiện quy hoạch kế hoạch là thực hiện việc bố trí các khu đất ở
các khu vực, các vùng để phát triển các ngành nghề khác nhau như nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc là việc chuyển các loại đất
khác nhau sang các mục đích sử dụng khác nhau. Ví dụ chuyển đất nông
nghiệp, lâm nghiệp, đất chưa sử dụng sang đất ở, đất chuyên dùng. Như
vậy việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai xây dựng và phát
triển nhà ở đã bao gồm cả việc đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng.
2.4.Để thực hiện các dự án phát triển kinh tế –xã hội liên quan
đến việc sử dụng đất đai, xây dựng phát triển nhà ở :
Ở bất kỳ một quốc gia nào trong mét giai đoạn nhất định sự phát
triển kinh tế –xã hội đều có những bất hợp lý. Ví dụ như chưa có quy
hoạch sử dụng đất đai, nhà ở hoặc đã có quy hoạch sử dụng đất đai, nhà ở
nhưng do tốc độ, nhu cầu phát triển phát triển nảy sinh những vấn đề mới,
những yếu tố mới trong vấn đề sử dụng đất đai, xây dựng và phát triển nhà
ở do đó cần phải có sự điều chỉnh lại quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai,
xây dựng phát triển nhà ở cụ thể hoá bằng các dự án phát triển kinh tế xã
hội có liên quan.
Khi thực hiện các dự án đã nói ở phần trên như dự án mở rộng một
con đường, dự án xây dựng một khu đô thị mới, dự án xây dựng khu công
nghiệp, dự án xây dựng nhà chung cư cao tầng, dự án xây dựng hệ thống

định cư như sau:
Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho hé gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp,
mỗi xã chỉ được để lại không quá 5% đất nông nghiệp dành cho nhu cầu
công Ých của xã, quỹ đất công Ých này có thể được dùng để đền bù đất
xây dựng các công trình công cộng tại xã được cơ quan có thẩm quyền
cho phép.
Nghị định 02/ CP ngày 15/1/1993 về công tác giao đất lâm nghiệp
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm
nghiệp. Điều 15 quy định quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất lâm
nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được đền bù, bồi
hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất lâm nghiệp được giao theo
thời gian giá thị trường và đất trồng rừng trong trường hợp bị Nhà nước thu
hồi theo quy định của pháp luật.
Để xác định mức đền bù theo thiệt hại cho phù hợp với từng trường
hợp đã hoàn thành hay chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước,
Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 về việc thu tiền sử dụng đất và lệ phí địa
chính quy định : trừ trường hợp được giao đất sử dụng vào mục đích nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, đất quốc phồng an
ninh, đất sử dụng vào mục đích công cộng, các trường hợp được giao đất
khác đều phải có nghĩa vụ nép tiền sử dụng đất là một căn cứ quan trọng
quyết định mức đền bù phù hợp với mức độ thiệt hại thực tế.
Đối với trường hợp đất bị thu hồi thuộc khu vực đô thị, điều 15 –
Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 của chính phủ về quản lý và sử dụng đất
đô thị quy định : “Uỷ ban nhân dân các cấp theo và trách nhiệm được giao
chỉ đạo các cơ quan chuyên trách tô chức thực hiện đo đạc, định giá đất,
giao đất,cho thuê đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, phát triển cơ sở hạ
tầng để phục vụ cho việc cải tạo và xây dựng đô thị theo quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất được duyệt”
2. Những quy định của nhà nước về chính sách đền bù thiệt hại

xá, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân
vận động, cơ sở huấn luyện thể dục thể thao, nhà thi đấu thể thao, sân bay,
bến cảng, bến tàu, bến xe, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu an
dưỡng.
* Đất sử dụng xây dựng nhà máy thuỷ điện, trạm biến thế điện, hồ
nước dùng cho công trình thuỷ điện, dường dây tải điện, đường dây thông
tin, đường ống dẫn dầu, đường ống dẫn khí, đài khí tượng thuỷ văn, các
loại trạm quan trắc phục vụ việc nghiên cứu và dịch vụ công cộng, kho
tàng dự trữ quốc gia;
* Đất sử dụng xây dựng trụ sở làm việc của cơ quan Nhà nước, tổ
chức chính trị-xã hội ;
* Đất sử dụng xây dựng các công trình thuộc các ngành và lĩnh vực
sự nghiệp về kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, kỹ thuật, và các
lĩnh vực sự nghiệp kinh tế khác của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã
hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
* Đất do tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng cho dù án sản xuất, kinh
doanh, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu vui chơi
giải trí, khu du lịch và các dự án đầu tư khác đã được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định cấp phép đầu tư theo quy định của pháp luật;
* Đất sử dụng cho dù án phát triển các khu đô thị mới, các khu dân
cư tâp trung và các khu dân cư khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định;
* Đất sử dụng cho công trình công cộng khác và các trường hợp đặc
biệt khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định;
* Đất sử xây dựng các công trình phục vụ công Ých và công cộng
khác không nhằm mục đích kinh doanh của địa phương do uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định.
b) Đối tượng phải đền bù thiệt hại
Tổ chức, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài được nhà nước

2.2.1 Đền bù thiệt hại về đất
a) Nguyên tắc đền bù thiệt hại về đất
Khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi Ých quốc gia, lợi Ých công cộng tuỳ từng trường hợp cụ thể,
người có đất bị thu hồi được đền bù bằng tiền, nhà ở hoặc bằng đất
Khi thực hiện đền bù bằng đất hoặc bằng nhà ở mà có chênh lệch về
diện tích hoặc gía trị thì phần chênh lệch được giải quyết theo từng trường
hợp cụ thể.
b) Điều kiện để được đền bù thiệt hại về đất
Người bị Nhà nước thu hồi đất được đền bù thiệt hại phải có một
trong các điều kiện sau :
Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
về đất đai
Có quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.
Có giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
Có giấy tờ thanh lý, hoá giá, mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cùng
với quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật hoặc quyết định
giao nhà ở hoặc cấp nhà ở gắn liền với đất ở thuộc sở hữuNhà nước của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
Bản án có hiệu lực thi hành của Toà án Nhân dân về việc giải quyết
tranh chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất hoặc quyết định của cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Trường hợp không có các giấy tờ quy định ở các phần trên, người bị
thu hồi đất được đền bù thiệt hại phải có các giấy tờ chứng minh được đất
bị thu hồi là đất đã sử dụng ổn định trứoc ngày 15/10/1993 thuộc một trong
các trường hợp sau:
- Đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 8/1/1988 được UBND xã,
phường xác nhận.

quyền phê duyệt và đã công bố hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình,
người lấn chiếm đất trái phép, thì khi Nhà nước thu hồi không được đền bù
thiệt hại về đất. Trong một số trường hợp có thể cân nhắc xem xét để hỗ
trợ.
d) Giá đất để tính đền bù thiệt hại.
- Giá tính đền bù thiệt hại do chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương quyết định cho từng dự án theo đề nghị của Sở Tài Chính
- Vật giá, có sự tham gia của các ngành liên quan.
- Giá đất để tính đên bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của
địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K để
đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển
nhượng QSDĐ ở địa phương.
e) Quỹ đất dùng để đền bù thiệt hại gồm:
- Đất chưa sử dụng.
- Đất chưa sử dụng nhưng đã được xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ
đền bù.
- Đất thu hồi theo quy định tại Điều 26, 27 của Luật đất đai.
- Đất công Ých theo quy định tại Điều 45 của Luật đất đai.
- Trong Nghị định 22/CP quy định cụ thể về đền bù thiệt hại đối với
từng loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất có
mặt nước nuôi trồng thuỷ thủ sản, đất đô thị, đất ở thuộc nông thôn, đất ở
nói chung.
2.2.2 Đền bù thiệt hại về tài sản .
a) Nguyyên tắc đền bù.
- Đền bù thiệt hại về tài sản bao gồm nhà, công trình kiến trúc, cây
trồng, vật nuôi và các loại tài sản khác, gắn liền với đất hiện có tại thời
điểm thu hồi đất.
- Chủ sở hữu tài sản là người có tài sản hợp pháp theo quy định trên
mà bị thiệt hại thì được đền bù theo giá hiện có của tài sản.
- Chủ sở hữu tài sản có trên đất bất hợp pháp thì tuỳ từng trường hợp

mặt nước được tính bằng gía trị sản lượng thu hoạch tring một năm theo
năng suất bình quân của 3 năm trước đó với gía tri trung bình của nông
sản, thủ sản cùng loại ở địa phương tại thời điểm đền bù.
- Mức đền bù thiệt hại đối với cây lâu năm được tính bằng giá trị
hiện có của vườn cây( không bao hàm giá trị đất) tại thời điểm thu hồi đất
theo đơn giá của địa phương.
2.2.3. Chính sách hỗ trợ.
a) Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống.
- Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống cho những người phải di
chuyển chỗ ở được tính trong thời hạn 6 tháng với mức lương trợ cấp bằng
tiền cho 1 nhân khẩu/ 1tháng tương đương 30kg gạo theo giá trung bình ở
thị trường địa phươngtại thời điểm đền bù. Đối với những dự án quy mô sử
dụng đất lớn, hộ gí đình, cá nhân phải di chuyển đến tái định cư ở tỉnh khác
mà sản xuất và đời sống bị ảnh hưởng kéo dàithì trợ cấp ổn định sản xuất
và đời sống cho những người phải di chuyển chổ ở với thời gian là một
năm và còn được hưởng chính sách di chuyển vùng kinh tế mới
- Đối với doanh nghệp khi bị thu hồi đất, phải di chuyểncơ sở đến
địa điểm mới, tuỳ thuộc quy mô và khả năng ổn định sản xuất, kinh doanh
tại địa điểm mới, chủ dự án sử dụng đất có trách nhiệm đền bù thiệt hại
theo chế độ trợ cấp ngừng việc cho cán bộ, công nhân viên của doanh

Trích đoạn Chớnh sỏch bồi thường thiệt hại62 Đỏnh giỏ chung về thực hiện chớnh sỏch đền bự thiệt hại khi thu hồ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status