Đánh giá thực trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG TIẾN ĐẠT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯƠNG TIẾN ĐẠT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số ngành: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN THẾ ĐẶNG
Thái Nguyên - 2013
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./.
TÁC GIẢ
Lương Tiến Đạt
i
2

1.3. Tình hình sử dụng đất của các tổ chức tại Việt Nam 15
1.3.1. Tình hình giao đất, công nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức 18
1.3.2. Thuê đất 20
1.4. Thực trạng sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 20
1.4.1. Kết quả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức 20
1.4.2. Thực trạng giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh 22
Chương 2: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 25
2.2. Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất trên địa bàn
thành phố Hạ Long 25
2.2.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất đã giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế trên
địa bàn thành phố Hạ Long 25
2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 25
2.2.4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất đã giao cho các tổ
chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long 25
2.2.5. Định hướng giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với đất đã giao cho các tổ
chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Phương pháp điều tra cơ bản 26
2.3.2. Phương pháp chuyên gia 27
2.3.3. Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá 28
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 28
2.3.5. Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài 28
iii
4
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long ảnh 29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 29

2. Kiến nghị 72
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GTSX:
Giá trị sản xuất
GTGT:
Giá trị gia tăng
GPMB:
Giải phóng mặt bằng
ĐTM:
Đánh giá tác động môi trường
BVMT:
Bảo vệ môi trường
HĐND:
Hội đồng nhân dân
UBND:
Uỷ ban nhân dân
GCNQSDĐ:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
iv
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 13
Bảng 1.2. Diện tích đất của các tổ chức phân theo các vùng địa lý tự nhiên kinh tế 16
Bảng 1.3. Tổng số tổ chức phân theo loại hình sử dụng 17
Bảng 1.4. Tình hình giao đất, công nhận quyền sử dụng đất 19
Bảng 1.5. Kết quả giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
giai đoạn 2009 - 2012 24
Bảng 3.1. Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính của thành phố Hạ Long năm
2012 34

dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai
trò của đất đai và các quan hệ đất đai ngày càng được nhìn nhận đầy đủ hơn, toàn
diện hơn và khoa học hơn. Thực tế cho thấy, với quỹ đất có hạn, trong khi nhu cầu
sử dụng đất của xã hội ngày càng tăng đang đặt ra nhiều thách thức với con người
và xã hội. Những sai lầm của chúng ta trong quá trình sử dụng đất đã làm nẩy sinh
nhiều mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường ngày càng gay gắt, đang làm hủy
hoại tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên đất đai nói riêng. Để phát huy
nguồn lực đất đai, khai thác, bảo tồn và sử dụng có hiệu quả đất đai thì việc quản lý
của Nhà nước đối với đất đai là việc làm hết sức cần thiết.
Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng
đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu,
đó là quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai. Việc trao quyền sử dụng đất cho
các đối tượng sử dụng được Nhà nước thực hiện qua việc trao quyền sử dụng đất
cho các đối tượng sử dụng thông qua công tác giao đất, cho thuê đất. Chính vì vậy
mà công tác giao đất, cho thuê đất không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
đất đai của Nhà nước mà nó còn có ý nghĩa ảnh hưởng tới các chủ thể sử dụng đất
được Nhà nước giao đất, được thuê đất.
Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, là nơi tập trung
các đầu mối của nhiều tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển,… Thành
phố có vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận tiện cho phát triển nền
kinh tế đa dạng. Trong quá trình phát triển, thành phố Hạ Long đã trở thành địa điểm có
sức thu hút đầu tư lớn của tỉnh Quảng Ninh với các dự án tại khu công nghiệp và ngoài
khu công nghiệp trong nhiều lĩnh vực kinh doanh đa dạng.
Trước quá trình đô thị hóa và xây dựng nền kinh tế công nghiệp hiện đại
đang diễn ra ngày một mạnh mẽ thì nhu cầu sử dụng đất tăng mạnh là điều tất yếu.
2
Mặt khác việc thu hút đầu tư và mở rộng phát triển các khu đô thị đang diễn ra ngày
càng tăng về số lượng và quy mô đầu tư. Cùng với đó các loại hình đầu tư đã trở
nên đa dạng và phức tạp hơn. Vì vậy công tác quản lý đất đai ngày càng nhiều vấn
đề nhạy cảm và phức tạp, đặc biệt là đối với các tổ chức kinh tế. Do đó, việc xem

- Nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng làm hạn chế hiệu quả sử dụng
đất. Các yếu tố khiến người sử dụng đất phải sử dụng đất có hiệu quả thông qua các
chính sách ưu đãi đầu tư, tạo quỹ đất sạch để đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu
dự án, chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…để điều tiết có hiệu quả nhiệm
vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai.
- Thông qua kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, như: cải cách thủ tục hành chính, cơ chế tài
chính hóa trong quản lý đất đai của các tổ chức kinh tế, xây dựng kế hoạch cụ thể để
chủ động điều hành trong quản lý đất đai (chủ động giải phóng mặt bằng, thu hút
đầu tư hay hạn chế đầu tư ở những khu vực không khuyến khích …).
4. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để hoạch định các chính sách và
giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với tài nguyên đất của thành phố Hạ Long. Là
tài liệu tham khảo khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đất đai của các địa
phương có điều kiện tương đồng với Thành phố.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tuy nhiên khi kết tinh lao động của con
người vào trong đó thì đất đai lại trở nên quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia. Các quan hệ về đất đai đã chuyển dần từ quan hệ khai
thác, chinh phục tự nhiên sang quan hệ kinh tế - xã hội về quyền sở hữu và sử dụng
một loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng. Các quan hệ về đất đai là một trong
những vấn đề được quan tâm nhất, vì nó liên quan tới các quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng
và lợi ích mỗi cá nhân. Ở nước ta, cùng với việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, xừy dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
thì vai trò của đất đai và các quan hệ đất đai ngày càng được nhìn nhận một cách

dân, nhưng phải tới Luật Đất đai 1998 thì quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử
dụng của người nhận đất từ Nhà nước mới được phân định rõ ràng như hiện nay.
Luật Đất đai năm 1987 quy định: Nhà nước có quyền được giao đất và thu hồi
đất đã giao.
Luật Đất đai 1993 có một số sửa đổi, bổ sung so với Luật Đất đai 1987, trong
đó: Nhà nước không chỉ có quyền được giao đất và thu hồi đất mà còn có quyền cho
thuê đất. Đất đai ngày càng trở nên khan hiếm, nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng
thì xu hướng cho thuê sẽ trở nên phổ biến. Việc cho thuê đất đai thực chất là cho thuê
quyền sử dụng đất đai. Với quyền này, đối tượng sử dụng đất đã được mở rộng khá
lớn, bao gồm không chỉ những tổ chức, cá nhân được giao đất mà cả những tổ chức và
cá nhân được thuê đất. Nếu như người sử dụng đất trong diện giao đất chủ yếu là hộ
nông dân thì người sử dụng đất trong diện thuê đất lại chủ yếu là các tổ chức, cá nhân ở
đô thị. Đừy là một bước tiến quan trọng trong quá trình sử dụng đất, đáp ứng nhu cầu
sử dụng đất của các cá nhân, tổ chức cũng như việc sử dụng đất ở các đô thị.
Luật Đất đai 2003 quy định việc giao đất, cho thuê đất theo các hình thức: giao
đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; Nhà nước cho thuê đất
trả tiền thuê đất hàng năm và Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả
6
thời gian thuê. Các đối tượng giao đất, cho thuê đất cũng được mở rộng và quy định cụ
thể. Trên cơ sở giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của
các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân cũng được Luật Đất đai quy định rõ.
Đất đai là tài sản của quốc gia, là lãnh thổ bất khả xâm phạm của cả dân tộc.Vì
vậy không thể có bất kỳ một cá nhân nào, một nhóm người nào có thể chiếm hữu tài
sản chung thành của riêng và tuỳ ý áp đặt quyền định đoạt cá nhân đối với tài sản
chung đó. Chỉ có Nhà nước - người đại diện hợp pháp duy nhất của mọi tầng lớp nhân
dân mới được giao quyền quản lý tối cao về đất đai.
Đất đai là yếu tố đầu vào của các ngành sản xuất, là cơ sở, là nền tảng của các tổ
chức nói chung và của các tổ chức kinh tế nói riêng. Nhà nước với tư cách đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai giao quyền quản lý, sử dụng với mục tiêu tăng cường quản

và cá nhân có tư liệu sản xuất hoặc địa điểm để sản xuất. Thông qua việc quản lý
của Nhà nước sẽ giúp cho các đối tượng được giao đất, thuê đất yên tâm đầu tư sản
xuất và sử dụng đất đai được hiệu quả hơn. Ngoài ra, từ việc Nhà nước giao đất, cho
thuê đất đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sẽ là cơ sở để tiến tới cấp GCN
QSD đất. Về phía Nhà nước, giao đất, cho thuê đất cùng với cấp GCN QSD đất
giúp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý được quỹ đất tiết kiệm và
đạt hiệu quả cao. Đối với người sử dụng đất thì họ sẽ được Nhà nước bảo vệ khi có
những xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp trong việc sử dụng đất của mình,
cùng với đó sẽ được Nhà nước tạo điều kiện trong việc nâng cao kiến thức về sản
xuất, kinh doanh, cải tạo và bồi dưỡng đất đai. Tuy nhiên, khi nhận thấy việc sử
dụng đất của các đối tượng không đem lại hiệu quả cao, lãng phí, thất thoát đất đai
thì Nhà nước có quyền thu hồi đất đang sử dụng đó.
Khi Nhà nước có quyết định giao đất, cho thuê đất, người sử dụng đất được
cấp GCN QSD đất thì các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất được
bảo đảm, đi đôi với quyền lợi thì người sử dụng đất cũng cần phải thực hiện đầy đủ
các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước. Người sử dụng đất hoàn thành nghĩa vụ
sử dụng đất là họ đã góp phần vào việc quản lý sử dụng đất cũng như việc duy trì bộ
máy quản lý Nhà nước về đất đai.
Đề cập đến mối quan hệ giữa công tác giao đất, cho thuê đất và quản lý sử
8
dụng đất thì không thể không nói tới quyền sử dụng đất và thị trường quyền sử dụng
đất (thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp). Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ
xem xét thị trường sơ cấp. Thị trường quyền sử dụng đất sơ cấp là thị trường trong
đó Nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện việc cung đất
cho các nhu cầu của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong xã hội sử dụng.
Trong thị trường này, Nhà nước thực hiện vai trò của người cung duy nhất về đất
cho nhu cầu sử dụng đất của toàn xã hội.
Từ quyền sử dụng đất đến thị trường quyền sử dụng đất (sơ cấp) là một bước
phát triển về chất của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN trong lĩnh vực đất đai ở Việt

- Dự án đầu tư của tổ chức có sử dụng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc dự án có vốn đầu tư nước
ngoài đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư.
- Văn bản thẩm định về nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư của tổ
chức kinh tế không sử dụng vốn ngân sách nhà nước hoặc không phải là dự án có
vốn đầu tư nước ngoài.
- Việc chấp hành tốt pháp luật về đất đai của người xin giao đất, thuê đất đối
với trường hợp người xin giao đất, thuê đất đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
trước đó để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Trên cơ sở tự
kê khai của người xin giao đất, thuê đất về tất cả diện tích đất, tình trạng sử dụng
đất đã được Nhà nước giao, cho thuê trước đó và tự nhận xét về chấp hành pháp luật
về đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất đang làm thủ tục giao đất, cho
thuê đất có trách nhiệm liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất đã giao,
đã cho thuê để xác minh mức độ chấp hành pháp luật về đất đai của người sử dụng
đất trong quá trình thực hiện các dự án đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
- Quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy
hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng
đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xét duyệt.
10
Nhằm quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý phục vụ
mục tiêu phát triển bền vững cho nhu cầu của hiện tại những không làm ảnh hưởng
đến lợi ích của thế hệ tương lai, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã tập
trung tháo gỡ những khó khăn, mà bước đột phá đầu tiên là Luật Đất đai năm 1993,
sửa đổi năm 1998, năm 2001 và Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội thông
qua. Bên cạnh đó, nhiều bộ luật liên quan khác cũng đã được ban hành, như Luật
Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Bảo vệ môi trường; và các nghị định, thông tư,
văn bản hướng dẫn thi hành Luật do Chính phủ, các bộ, ngành, UBND tỉnh Quảng

khác (dân cư, đầm lầy, đất ngập mặn ). Diện tích đất có thể dùng cho canh tác
được đánh giá vào khoảng 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác khoảng 1.500 triệu ha.
Tại các vùng khác nhau, các nước khác nhau, tỉ lệ đất đã sử dụng canh tác so với đất
có tiềm năng canh tác cũng khác nhau. Đáng chú ý là khu vực Châu Á, tỉ lệ này rất
cao, đạt đến 92%; trái lại, ở Châu Mỹ Latinh con số này chỉ đạt 15%, các nước phát
triển là 70%, các nước đang phát triển là 36%. Trong diện tích đất canh tác, đất cho
năng suất cao chiếm 14 %, năng suất trung bình là 28% và năng suất thấp là 58%.
Hàng năm trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kinh tế nông nghiệp trở
nên khó khăn hơn. Hoang mạc hoá hiện đang đe doạ 1/3 diện tích trái đất, ảnh hưởng
đời sống ít nhất 850 triệu người. Ở Việt Nam từ năm 1978 đến nay, 130.000 ha bị lấy
cho thủy lợi, 63.000 ha cho phát triển giao thông, 21 ha cho các khu công nghiệp.
Theo số liệu của Viện Tài nguyên Thế giới, năm 1993 quỹ đất của toàn thế giới
khoảng 13 tỉ ha, mật độ dân số 43 người/km
2
. Một số nước có quỹ đất hạn hẹp như Hà
Lan, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore (chỉ 0,3ha/người). Diện tích nước ta là
trên 33 triệu ha diện tích bình quân đầu người khoảng 0,4 ha. Quỹ đất trồng trọt tăng
không đáng kể trong khi dân số tăng nhanh nên diện tích đất trên đầu người ngày càng
giảm. Đất ngày bị sa mạc hóa, bạc màu… do sự khai thác của con người.
Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm
trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô
nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất. Khoảng 40% đất nông nghiệp đã
bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và
khai thác sử dụng không hợp lý. Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000
ha đất nông nghiệp và đồng cỏ. Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10 -
12
20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới.
Tỷ trọng đóng góp gây thoái đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai
thác rừng quá mức (chặt cây cối làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%,
canh tác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây ô nhiễm 1%. Vai trò

thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát
triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường,
cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia.
1.2.2. Tình hình sử dụng đất trong nước
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về kết quả kiểm kê đất đai
năm 2011, thì: tổng diện tích các loại đất của cả nước là 33.093.857 ha bao gồm:
nhóm đất nông nghiệp; nhóm đất phi nông nghiệp; nhóm đất chưa sử dụng. Diện
tích, cơ cấu sử dụng các nhóm đất chính như 1.1:
Bảng 1.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2011
Năm 2011
Số
TT
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích các loại đất
33.093.857
100,00
I
Diện tích đất nông nghiệp
26.100.160
78,87
1
Đất sản xuất nông nghiệp
10.117.893
38,77
2
Đất lâm nghiệp
15.249.025
58,43

100.939
2,75
5
Đất sông suối và MNCD
1.075.736
29,31
6
Đất phi nông nghiệp khác
3.936
0,11
III
Đất chưa sử dụng
3.323.512
10,04
1
Đất bằng chưa sử dụng
236.569
18,54
2
Đất đồi núi chưa sử dụng
2.769.796
48,89
3
Núi đá không có rừng cây
317.147
0,40
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường) 3
14
Đất có mặt nước ven biển (nằm ngoài đường triều kiệt trung bình và không
được tính vào tổng diện tích các loại đất của cả nước), cả nước hiện có 47.254 ha

soạn thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ quan
liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật. Do đó đã bộc
lộ một số tồn tại như: Việc tính thuế trong giao dịch đất đai rất khó khăn vì Nhà
nước chưa thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị, chưa quy định rõ những cơ sở
pháp lý cần thiết để điều chỉnh về quan hệ đất đai trong quá trình chuyển sang nền
kinh tế thị trường, trong quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp và
phân công lại lao động trong nông thôn, chính sách tài chính đối với đất đai chưa rõ
nét, đặc biệt là giá đất, chưa có điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong
những chính sách cũ vv…
Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và
đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp địa
phương. Tuy nhiên, đất nông nghiệp đã giao cho nông dân sử dụng lâu dài nhưng
công tác quản lý chưa được chặt chẽ.
1.3. Tình hình sử dụng đất của các tổ chức tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về kết quả kiểm kê quỹ đất
của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo
Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ, thì hiện
trạng sử dụng đất của các tổ chức như sau:
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng trên toàn quốc là
7.833.142,70 ha (chiếm 23,65% tổng diện tích tự nhiên của cả nước), trong đó chủ
yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp 6.687.695,59 ha (chiếm
85,38%), sử dụng mục đích phi nông nghiệp 845.727,62 ha (chiếm 10,80%), diện
tích đất chưa sử dụng 299.719,49 ha (chiếm 3,83%), đất mặt nước ven biển được
giao, cho thuê là 0,23%.
Tính đến ngày 01/4/2008, cả nước có 144.485 tổ chức đang quản lý, sử
dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với 338.450 thửa đất, khu đất;
trong đó, số lượng tổ chức tập trung chủ yếu tại các vùng: Đồng bằng sông Hồng
(chiếm 22,69%), Đông Bắc (15,15%), Bắc Trung bộ (14,19%), Đông Nam bộ
(13,49%), Đồng bằng sông Cửu Long (13,13%) trung bình mỗi tỉnh có khoảng
16

1.429.531,73
18,25
Duyên hải Nam Trung Bộ
1.077.398,60
13,75
Đông Nam Bộ
986.741,82
12,60
Tây Nguyên
2.515.166,38
32,11
Đồng bằng sông Cửu Long
374.661,97
4,78
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường) [1]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status