Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN MẠNH HÙNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Văn Minh
Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS. Đặng Văn Minh,
là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề
tài và viết luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến chân thành của các Thầy
giáo, Cô giáo khoa Tài nguyên và Môi trường - trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Cục Đăng ký - Thống kê
- Tổng cục Quản lý đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh,
Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long, Phòng Quản lý đào tạo
sau đại học - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn
Trần Mạnh Hùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
MỤC LỤC

iv
1.3.1. Nhiệt độ không khí. 30
1.3.2. Lượng mưa. 30
1.3.3. Độ ẩm không khí. 30
1.3.4. Chế độ gió - bão. 31
1.3.5. Sương muối, sương mù: 31
1.4.1. Hệ thống sông chính: 31
1.4.2. Chế độ thuỷ triều: 31
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 32
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến
việc sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bản thành phố Hạ Long 40
3.2. Hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long 42
3.2.1. Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai 42
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2011 46
3.2.3. Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất đai 47
3.3. Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn
thành phố Hạ Long 48
3.3.1. Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất của các tổ chức
kinh tế 48
3.3.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 49
3.3.3. Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 61
3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ
chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long 64
3.4.1. Giải pháp về chính sách pháp luật 64
3.4.2. Giải pháp về kinh tế 64
3.4.3. Giải pháp về khoa học công nghệ 65
3.4.4. Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh
tế trong thời gian tới 65

: Khu dân cư

: Quyết định
QLNN
: Quản lý Nhà nước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vi
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Nhóm đất chính và sự phân bố các nhóm đất chính 32
Bảng 3.2: Dân số của các phường giai đoạn 2007-2011 39
Bảng 3.3: Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2011 46
Bảng 3.4: Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2011 47
Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế theo mục
đích sử dụng đất 2011 49
Bảng 3.6: Tổng số tổ chức, khu đất, diện tích sử dụng đất của các tổ
chức kinh tế 49
Bảng 3.7: Diện tích đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị hành chính 50
Bảng 3.8: Tình hình giao sử dụng đất và cho thuê đất 51
Bảng 3.10: Những nguyên nhân chính của các tổ chức kinh tế sử dụng
đất không đúng mục đích được giao, được thuê 58
Bảng 3.11: Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các
tổ chức kinh tế 60
diện tích tự nhiên toàn thành phố. Thành phố Hạ Long là một trong những cực
phát triển quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ , là Vùng đối trọng
vớ i Vù ng Hà Nộ i, sẽ là động lực kích thích phát triển kinh tế đố i vớ i chuỗ i đô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
thị Vùng duyên hải Bắc Bộ . Hạ Long còn đóng vai trò là điểm kết nối , mở ra
vùng biển Vịnh Bắc Bộ của trục hành lang kinh tế quốc tế Côn Minh - Lào
Cai - Quảng Ninh. Tại đây có cảng nước sâu Cái Lân là cử a ngõ thông thương
chiế n lượ c củ a Vù ng . Thành phố Hạ Long được biết đến với di sản thiên
nhiên thế giớ i Vịnh Hạ Long có mộ t nề n tả ng kinh tế vữ ng chắ c trong sự phá t
triể n củ a tỉ nh Quả ng Ninh . Thành phố Hạ Long nằm tro ng dả i hà nh lang ven
biể n củ a Vị nh Bắ c Bộ , là một cực quan trọng trong tam giác tăng trưởng Hà
Nộ i - Hải Phòng - Quảng Ninh, vớ i lợ i thế về phá t triể n cả ng nướ c sâu , du
lịch, kinh tế biể n , khoáng sản , hệ thố ng giao thông th uậ n lợ i . Hạ Long có
nhiề u ưu thế để có thế phá t triể n trong tương lai. Do vậy, việc thực hiện đề tài
"Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh" được
đặt ra với mong muốn đưa ra những giải pháp thiết thực và tích cực nhằm
tăng cường vai trò nắm chắc, quản chặt quỹ đất của Nhà nước (đại diện chủ
sở hữu đối với đất đai) nói chung và diện tích đất đang giao cho các tổ chức
quản lý sử dụng nói riêng và đặc biệt là diện tích đang giao cho các tổ chức
kinh tế quản lý sử dụng trên địa bàn thành phố Hạ Long và góp phần thực
hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
2. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
* Mục đích của đề tài
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất của từng tổ chức kinh tế, từ đó tổng
hợp để xác định rõ diện tích đất mà các tổ chức đang quản lý, sử dụng, diện
tích đất lấn chiếm và bị lấn chiếm, diện tích đất sử dụng sai mục đích, diện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là
một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên đối với từng ngành cụ thể trong nền
kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau.
Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng), đất đai làm nền tảng,
làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Trong nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng
đầu của ngành sản xuất này. Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao
động mà còn là nguồn thức ăn cho cây trồng. Mọi tác động của con người vào
cây trồng đều được dựa vào đất đai và thông qua đất đai. Đất đai sử dụng
trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất [17].
1.1.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.1.2.1. Nhân tố điều kiện tự nhiên
Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố hạn chế
hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa
hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác.
- Điều kiện tự khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện tự nhiên sinh hoạt của con người.
- Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng)
Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông
nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thủy lợi hóa và cơ giới hóa.

việc sử dụng đất.
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công
trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và đem lại giá trị kinh tế [17].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
1.1.3. Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại
Chương II Điều 18 quy định [21] "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất
đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu
quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài".
Theo Luật Đất đai năm 2003 [20] , một số khái niệm liên quan đến các tổ
chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai bằng
quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng
hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng
ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho
người đó.
Nhận chuyển quyền sử dụng đất là việc xác lập quyền sử dụng đất do
được người khác chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thông
qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử
dụng đất hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới.
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Người sử dụng đất quy định tại Luật Đất đai năm 2003 liên quan đến tổ
chức như sau:

Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép hoặc chủ sử dụng đất cho phép sử dụng hoặc việc sử
dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn tạm
giao, mượn đất mà không trả lại đất.
1.1.4. Khái quát chung về quỹ đất của các tổ chức:
Quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất,
cho thuê đất được kiểm kê bao gồm quỹ đất thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế -
xã hội, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao,
tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam [3] .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Theo Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi
trường ngày 02 tháng 8 năm 2007 hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất
đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất [2] , quỹ đất của các tổ chức
trên địa bàn toàn quốc được thống kê phân theo các loại: giao đất không thu
tiền sử dụng đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất.
1.2. Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
- Luật Đất đai năm 1993 [18];
- Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998 [19];
- Luật Đất đai năm 2003 [20];
- Nghị định số 85/CP của Chính phủ ngày 17 tháng 12 năm 1996 quy
định việc thi hành pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và Chỉ thị số 245/TTg ngày 22 tháng 4
năm 1996 [6];
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành
Luật Đất đai năm 2003 [7];

* Trung Quốc:
Theo khoản 4 Điều 10 Hiến pháp 1982 Trung Quốc [24], không tổ chức,
cá nhân nào được phép chiếm đoạt, mua, bán, cho thuê hay chuyển nhượng
đất đai dưới bất kỳ hình thức nào. Như vậy, không khác gì thời kỳ kinh tế tập
trung của Việt Nam, ở Trung Quốc lúc bấy giờ không hề tồn tại cơ chế thị
trường nào cho người SDĐ để họ có thể trao đổi đất đai như một loại hàng
hóa. Hậu quả là đất đai bị sử dụng một cách không hiệu quả và lãng phí. Quy
định hạn chế nói trên rõ ràng đi ngược lại với quy luật khách quan của sự phát
triển kinh tế – xã hội cho nên chỉ phát huy được hiệu lực trong một thời gian
ngắn. Người SDĐ trên thực tế vẫn tiến hành trao đổi đất đai như một loại
hàng hóa. Chính vì vậy, thị trường đất đai “không chính thức” – còn gọi là
“chợ đen” (black market) nhưng năng động đã bắt đầu xuất hiện ở Trung
Quốc. Ở đó, nhiều nông dân, hợp tác xã đã lén lút bán hoặc cho thuê đất của
mình cho các doanh nghiệp có nhu cầu. Đây chính là nhân tố tạo đà cho quá
trình thực hiện cải cách chính sách đất đai ở nước này [28].
Việc đưa đất đai vào quan hệ thị trường khởi nguồn từ những cải cách
trong hệ thống SDĐ cuối những năm 1980. Từ việc cho thuê đất ở Thượng
Hải dưới sự đồng ý của Chính phủ và việc đấu giá quyền sử dụng đất (QSDĐ)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
đầu tiên ở Thẩm Quyến theo Hiến pháp sửa đổi của Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa năm 1988, hệ thống phân phối đất đai không thu tiền và không xác định
thời hạn đã bị chấm dứt, đất đai chính thức được tham gia vào thị trường như
một loại hàng hóa. Luật Quản lý nhà nước về đất đai năm 1986 [26] đã quy
định cơ cấu SDĐ thông qua việc giao và cho thuê có đền bù (allocation and
lease with compensation), từ đây đã tạo nền tảng cho việc hình thành thị
trường đất đai [28].
Vào tháng 11/1987, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã ban hành quyết

đất đặc biệt đối với đất ở đô thị.
* Hàn Quốc
Hàn Quốc có diện tích đất 99.392 Km
2
trong đó rừng chiếm 66%, đất
nông nghiệp 21,4%, 7% là các loại đất khác và đất ở đô thị chỉ chiếm 4,8%.
Quá trình đô thị hóa ở Hàn Quốc diễn ra manh mẽ trong các thập niêm 60 đến
90 của thế kỷ XX. Quá trình này có đặc điểm nổi bật là tốc độ cao và tập
trung về không gian.
Đô thị hóa tốc độ cao và sự tăng vọt dân số đô thị đã dẫn đến những vấn
đề khó khăn trong quản lý và sử dụng đất đô thị ở Hàn Quốc như hoạt động
đầu cơ đất đai trên phạm vi lớn, lợi nhuận từ gia tăng giá từ đất đai chỉ dồn
vào một nhóm chủ đất giầu có, các mâu thuẫn xã hội chất chứa do đầu cơ đất
đai sẽ không chỉ gây cản trở cho phát triển kinh tế mà còn có nguy cơ phá vỡ
cơ cấu chính trị xã hội của quốc gia. Tuy nhiên Hàn Quốc đã vượt qua được
các khó khăn này một cách khá thành công nhờ ban hành một loại các giải
pháp tổng hợp về chống đầu cơ đất đã được Chính phủ ban hành gồm:
- Hợp nhất tất cả các hệ thống định giá đất của Chính phủ lại thành một
hệ thống duy nhất, hệ thống này phản ánh đúng giá trị trên thị trường của lô
đất và là cơ sở để tính thuế lô đất đó.
- Thuế được đánh trên diện tích tổng hợp của tất cả các lô đất của chủ sở
hữu (dù chúng ở các vị trí khác nhau). Thuế này gọi là thuế nắm giữ đất tổng
hợp nhằm nắm rõ sự thừa thãi quá mức của một chủ sở hữu hay nhu cầu giả
về nắm giữ đất (đầu cơ đất). Trên cơ sở đó sẽ đánh thuế lũy kế tiến lên những
diện tích đầu cơ và do đó khuyến khích họ bán đi các phần đất này làm tăng
nguồn cung trên thị trường đất đai
- Ba giải pháp mới có tên gọi là giải pháp “Gong-Kae-nyom” bao gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
giảm giá đất đai, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển [29].
* Hungary
Kể từ năm 1988, Chính phủ Hungary công bố một số luật mới liên quan
đến tổ chức và quyền sở hữu doanh nghiệp:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
Luật VI năm 1998 mở rộng sự lựa chọn hình thức pháp lý của doanh
nghiệp và mở của cho các doanh nghiệp với quyền sở hữu tư nhân.
Luật Đầu tư nước ngoài XXIV/1988 tạo điều kiện thu hút đầu tư nước
ngoài thông qua việc miễn giảm thuế.
Luật V/1990 quy định tự do hóa doanh nghiệp tư nhân. Để tách biệt
quyền lực quản lý và quyền sở hữu nhà nước.
- Các hình thức sở hữu đất:
Đất đai được phân chia lại theo quyền sở hữu Nhà nước, tư nhân và hỗn
hợp. Nhà nước chủ yếu nắm quyền sở hữu về đất đai dùng cho mục đích công
cộng, xã hội và những vùng quan trọng. Quyền sở hữu đất công cộng được
thực hiện trên các vùng đất được sử dụng hoặc dự định được sử dụng phục vụ
lợi ích của toàn xã hội hoặc cộng đồng địa phương. Một số loại đất được xác
định rõ quyền sở hữu nhà nước như rừng, vùng lãnh thổ được bảo vệ, bảo tồn
thiên nhiên, vườn quốc gia, khu vực bờ sông, đất ngập nước, sông, hồ, suối,
đường giao thông, các toà nhà công cộng Tư nhân chủ yếu nắm giữ quyền
sở hữu đất cho sản xuất, đặc biệt là đất nông nghiệp.
- Thời hạn sử dụng đất:
Thời hạn sử dụng đất cũng được phân biệt rõ ràng theo hình thức sở
hữu: đất thuộc sở hữu tư nhân có thời hạn sử dụng vĩnh viễn; đất thuê của
nhà nước có thời hạn sử dụng tối đa là 99 năm và tối thiểu là 1 năm, tuy
nhiên, từng đối tượng đất cụ thể sẽ có thời hạn thuê khác nhau. Nhà nước
cũng có quy đinh cụ thể về quyền và nghĩa vụ của những sở hữu tư nhân

phân phối vào các quy trình khai thác hợp lý, có hiệu quả, sự vận động này là
sự vận động tự giác điều tiết qua cơ chế thị trường nhưng có sự điều khiển
quản lý vĩ mô của nhà nước.
Bài học của Hàn Quốc về đánh thuế lũy tiến lên đất đai đầu cơ cho thấy
chính quyền phải có một lập trường kiên định, dám thực hiện các biện pháp
cứng rắn với các đối tượng cần thiết để điều chỉnh cho được sự phân phối đất
đai trên thị trường, để thực hiện được cơ chế thị trường thì cần cải tiến và phát
triển các yếu tố hỗ trợ như: phát triển hệ thống đăng ký đất đai; các giải pháp
đổi mới của chính phủ Hàn Quốc sẽ không bao giờ thực hiện thành công được
nếu không có hệ thống đăng ký đất đai hiện đại của Hàn Quốc hỗ trợ (để nắm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
chắc tổng số diện tích đất sở hữu của mỗi chủ và qua đó đánh thuế lên đất dư
ra do đầu cơ).
1.3.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2008 của các tổ chức đang quản lý,
sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-
TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ:
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
Năm 2008, cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích được
giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26%. Trường hợp tổ
chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích,
đất bị lấn chiếm tỷ lệ 2,74%.
- Cơ quan nhà nước có 15.189 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích
là 33.838,42 ha, đạt 95,63% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện
tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với
các cơ quan nhà nước không nhiều nhưng vẫn có tình trạng xảy ra (cả nước có
235 cơ quan nhà nước cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái

16,74 ha đạt 78,41% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức
ngoại giao có 01 tổ chức cho thuê trái pháp luật với diện tích 0,07 ha.
- Tổ chức kinh tế có 49.723 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là
458.179,32 ha, đạt 90,42% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ
chức kinh tế có 992 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển
nhượng trái phép với diện tích 1.608,56 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho
thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm
21,60% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho
mượn chiếm 12,31% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước).
- Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 10.970 tổ chức, diện tích
sử dụng đúng mục đích là 319.042,97 ha, đạt 97,40% so với tổng diện tích
đang quản lý, sử dụng; tuy nhiên UBND cấp xã của nhiều địa phương vẫn để
xảy ra tình trạng cho thuê, cho mượn thậm chí chuyển nhượng trái pháp luật,
đặc biệt là tình trạng cho thuê trái pháp luật của khối tổ chức UBND cấp xã
chiếm đến 50,72% tổng số diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
chiếm 15,49% diện tích đất cho mượn trái pháp luật của cả nước. Đối với
những tổ chức cho thuê đất trái phép ở các tổ chức là UBND xã, phường, thị
trấn thường xảy ra tình trạng lấy đất nông nghiệp (sử dụng vào mục đích công
ích), đất phi nông nghiệp (đã giao cho UBND xã, phường, thị trấn sử dụng
vào mục đích công cộng của địa phương) cho hộ gia đình, cá nhân thuê nhưng
không làm các thủ tục thuê đất theo đúng quy định pháp luật đất đai. Hoặc
cho hộ gia đình, cá nhân thuê phần diện tích đất của đơn vị không có nhu cầu
sử dụng, hay chưa sử dụng để sản xuất kinh doanh.
- Nông, lâm trường có 653 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là
5.615.419,13 ha, đạt 92,05% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các
nông lâm trường có 42 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển

Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là
313.969,03 ha, trong đó đất có tranh chấp có 1.184 tổ chức với diện tích
34.232,63 ha, đất lấn chiếm có 4.077 tổ chức với 25.703,21 ha và đất bị lấn,
bị chiếm có 3.915 tổ chức với diện tích 254.033,19 ha.
- Diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại
hình tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường,
UBND cấp xã, tổ chức sự nghiệp công. Như vậy qua kiểm kê đã cho thấy, số
tổ chức có diện tích đất đang tranh chấp có số lượng không nhỏ. Nguyên nhân
chủ yếu do khi thực hiện giao đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ,
không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể; một số khu
đất đã có mốc giới nhưng qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc
mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn. Do vậy khi phát sinh tranh
chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn.
- Diện tích đất bị lấn, bị chiếm: tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử
dụng chưa hết diện tích được giao ở hầu hết các loại hình tổ chức đã dẫn đến
một phần diện tích bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ yếu các loại
hình tổ chức như: tổ chức sự nghiệp công, UBND cấp xã, tổ chức kinh tế, quốc
phòng an ninh, nông lâm trường. Nguyên nhân của tình trạng này là do việc sử
dụng đất của các tổ chức không được kiểm tra thường xuyên; việc lập hồ sơ
và lưu giữ các giấy tờ để theo dõi, quản lý không được quan tâm đúng mức.
Mặt khác các mốc ranh giới khu đất đã được giao không được quản lý chặt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất của các tổ chức Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status