m
-
^
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ TÂN LỘC
NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ RAU
THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÃ SỐ: 62.31.01.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2016
Ì1
Công trình hoàn thành tại:
—
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn: GS.TS. ĐỖ KIM CHUNG
-
Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
•
•
•
oo•1
•
ỉ
•
•
« ỉ
•
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ hay siêu thị luôn là câu hỏi mà những người sản
xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội cân nhắc. Khâu tiêu thụ sản phẩm luôn là vấn đề
khó khăn nhất đối với họ. Sự liên kết giữa các tác nhân thành chuỗi cung ứng rau còn lỏng
lẻo, chưa bền vững dẫn tới giá cả sản phẩm bán ra thị trường với mức giá không ổn định,
thúc đẩy sản xuất rau phát triển, ổn định tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu về rau ngày càng
3
cao của NTD Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ
thống chợ và siêu thị.
-
Phản ánh hiện trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến tiêu thụ rau thông
qua chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.
-
Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống
chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu
1) Tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị bao gồm các nội dung nào?
2) Những bài học kinh nghiệm nào có thể áp dụng cho thành phố Hà Nội từ thực tiễn tiêu
thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới?
3) Người mua rau tươi tại hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội mong đợi chất lượng
rau như thế nào?
4) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị
trên địa bàn thành phố Hà Nội?
5) Để phát triển tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội, cần
áp dụng những giải pháp nào?
1.3.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
40,31% và cũng lượng như vậy được tiêu thụ thông qua bán rong và những vị trí không
chính thống. Nghiên cứu đã xác định được 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới việc tiêu thụ rau
thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Đồng thời đề xuất được 3 nhóm giải pháp nhằm phát
triển tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống. Các giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hai
hệ thống này không chỉ có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với ngành hàng rau của Hà Nội mà
còn là bài học kinh nghiệm cho các nông sản khác trong cùng địa bàn và các địa phương
khác góp phần cải thiện việc quản lý trong tiêu thụ rau và làm đẹp mỹ quan thành phố. Kết
quả luận án là cơ sở khoa học cho việc định hướng và đưa ra giải pháp phát triển tiêu thụ
rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Luận án là kênh cung cấp thông tin quan trọng cho
các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý của Bộ, Thành phố, các cơ quan tham mưu,
các tổ chức nghiên cứu, kinh tế - xã hội và các cá nhân tham khảo.
1.5. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Nội dung chính của luận án: Gồm 6 phần được trình bày trong 150 trang. Phần mở
đầu bao gồm 6 trang, phần 2 từ trang 7 đến trang 35, phần 3 từ trang 36 đến trang 54, phần
4 từ trang 55 đến trang 124, phần 5 từ trang 125 đến 146, phần 6 có 4 trang.
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. KHÁI NIỆM VỀ TIÊU THỤ VÀ CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
2.1.1. Khái niệm về tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, kinh doanh rau.
Là quá trình dịch chuyển sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng và chuyển dần từ
trạng thái vật chất sang hình thái tiền tệ. Là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
người sản xuất, kinh doanh rau.
Gần đây, hình thành phương thức marketing mới là dựa vào nhu cầu của thị trường để
có những quyết định sản xuất và kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn nhất.
2.1.2. Khái niệm về ch ợ, siêu thị và hệ thống ch ợ và siêu thị
Có nhiều khái niệm khác nhau về chợ, song theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP thì
khái niệm về chợ "Là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang
tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua
bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư";
Thực tế phân chia ra các chợ theo các cách gọi khác nhau: chợ loại 1, chợ loại 2 và
trong quá trình vận chuyển, chi phí bảo quản lớn.
Đặc điểm riêng: Đó là 1 kênh truyền thống và 1 kênh hiện đại. Chúng có điều kiện
cơ sở hạ tầng và hình thức quản lý khác nhau. Đặc biệt là công tác quản lý chất lượng rau
của đơn vị bán hàng và cơ quan nhà nước. Như vậy, chúng ta thấy bức tranh nghịch cảnh
giữa hai hệ thống chợ và siêu thị: tự do và yêu cầu chặt chẽ và qua đây khiến chúng ta suy
nghĩ: ai là người sản xuất có thể tiếp cận để bán được hàng vào siêu thị? Tỷ trọng rau Hà
Nội bán theo từng hệ thống?
2.3. THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TIÊU THỤ RAU THÔNG
QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM
2.3.1.
Tại một số nước trên thế giới
Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới đã có
được bài học về sự cần thiết của hệ thống chợ bên cạnh vai trò quan trọng của hệ thống siêu
thị. Tại các nước phát triển, tiêu thụ rau chủ yếu thông qua kênh siêu thị song hiện nay họ
thấy được sự cần thiết của hệ thống chợ nên việc duy trì hệ thống chợ nông sản trong lòng
địa bàn thành phố đã bổ sung và cùng nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của NTD. Đồng thời
6
chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện cho các loại chợ không chính thức hoạt động.
Thấy được một trong những yếu tố quan trọng là tổ chức ngành hàng chặt chẽ của siêu thị
với các nhà cung ứng và hạn chế tối đa các khâu trung gian. Khuyến khích người sản xuất
bán hàng trực tiếp cho NTD tại các chợ nông sản. Tất cả các nguồn rau tại chợ và siêu thị
cùng được kiểm soát.
2.3.2.
Tại một số địa phương ở Việt Nam
Tiêu thụ rau qua chợ là kênh tiêu thụ truyền thống, đã diễn ra từ bao đời nay đáp ứng
nhu cầu của người sản xuất và NTD. Hệ thống chợ nằm rải rác ở khắp các địa phương, tùy
theo từng địa bàn mà quy mô chợ khác nhau song đến nay việc tiêu thụ rau tại chợ vẫn là
xuất hiện các doanh nghiệp.
Hà Nội với đa dạng kênh phân phối rau như chợ truyền thống, người bán rong và từ
7
sau 1993 xuất hiện các cửa hàng tự chọn và siêu thị nên từ 1997 đã có RAT được bán tại
các hệ thống kênh phân phối hiện đại. Hai hệ thống chợ và siêu thị được thành phố xác định
là hai kênh tiêu thụ chính thống. Tuy nhiên, tiêu thụ rau đang chịu tác động từ nhiều khía
cạnh (thói quen mua, suy giảm kinh tế, chuyển đổi mạng lưới chợ...) nên những người kinh
doanh rau chuyên nghiệp cũng như người sản xuất phải đối mặt với nhiều khó khăn. Trong
bối cảnh đó, kênh siêu thị đang được ủng hộ để phát triển nên có sự cạnh tranh ngày càng rõ
khi số lượng điểm bán RAT tại các cửa hàng và siêu thị ngày càng gia tăng.
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Phương pháp tiếp cận
Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiếp cận như theo chuỗi cung ứng; theo các
hình thức tổ chức sản xuất và tiêu thụ; Theo vùng địa lý; Tiếp cận theo khu vực công và tư
nhân và tiếp cận hệ thống.
3.2.2. Khung phân tích
Trên cơ sở các nội dung được xác định, các yếu tố ảnh hưởng và hướng đề xuất các nhóm
giải pháp, khung phân tích được thể hiện tại hình 3.1.
Nhóm giải pháp thúc đẩy tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch ợ và siêu thị
trên địa bàn TP Hà Nội
1. Giải pháp tạo nguồn cung
đảm bảo
- Đổi mới quy hoạch vùng
sản xuất rau và RAT,
- Cải thiện hiện trạng của
các đối tượng tham gia
sản xuất.
đích là Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Trì, Đông Anh và Sóc Sơn. Từ các địa bàn này chọn các
đối tượng là các hộ gia đình sản xuất rau tại các HTX NN và HTX mới hay nhóm sản xuất
RHC. Chọn các doanh nghiệp có sự linh hoạt hơn do các doanh nghiệp nằm rải rác tại các
địa bàn khác nhau.
Đối với người kinh doanh: Chọn đại diện 04 chợ bán buôn (chợ nội thành: Long
Biên, Đền Lừ, Minh Khai); chợ ngoại thành: Vân Nội); 05 chợ bán lẻ tại khu vực nội thành
(Chợ Hôm (chợ cũ), Nghĩa Tân (chợ mới), chợ 19/12 (mới chuyển đổi), chợ Gia Lâm (quận
mới), chợ tạm tại phường Kim Liên và 02 chợ khu vực ngoại thành như chợ Vàng và chợ
tạm tại khu đô thị Đặng Xá. Các chợ trên là đại diện cho chợ quy hoạch, chợ tạm. Chọn 06
siêu thị đại diện cho các siêu thị bán buôn, bán lẻ với các quy mô khác nhau và bản chất của
chúng là các siêu thị liên doanh hoặc của Việt Nam.
Người mua rau tại các chợ và siêu thị: Được chọn tại 11 chợ và 06 siêu thị kể trên.
3.2.4. Phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu
Thông tin thứ cấp: Là các thông tin đã công bố qua các nguồn khác nhau như báo
cáo, số liệu thống kê, báo, internet... có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Thông tin sơ cấp: Được thu thập bằng 4 phương pháp: Điều tra chọn mẫu, phỏng vấn
sâu, lấy ý kiến chuyên gia và quan sát ngoài thực tế. Các cuộc khảo sát và phỏng vấn trực
tiếp các đối tượng được thông qua các bản câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn.
Số lượng mẫu được khảo sát cụ thể như sau: 138 hộ sản xuất rau, trong đó: (i) 120 hộ
thuộc 4 HTX DV NN và HTX NN; (ii) 13 hộ thuộc 3 HTX kiểu mới; (iii) 05 hộ thuộc nhóm
sản xuất RHC. 04 doanh nghiệp (ở các hình thức khác nhau). 158 người bán rau thuộc 11
chợ và 06 siêu thị đã được lựa chọn. 170 người mua rau tại các chợ và siêu thị kể trên. Đồng
thời trao đổi trực tiếp với 09 Ban quản lý (BQL) chợ, 07 Ban giám đốc (BGĐ) HTX, 01 liên
trưởng nhóm sản xuất RHC và 01 nhóm trưởng nhóm RHC. Có tham quan tại nhiều điểm
sản xuất và kinh doanh khác trong toàn thành phố.
Nội dung phiếu điều tra các đối tượng đề cặp đến các khía cạnh khác nhau tùy từng
đối tượng là người sản xuất, thu gom, bán buôn, bán lẻ, NTD; BGĐ các HTX, các trưởng
nhóm và liên trưởng nhóm sản xuất RHC, doanh nghiệp, các siêu thị.
3.2.5. Phương pháp tổng h ọp thông tin và xử lý dữ liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel.
RAT chỉ được bán tại các siêu thị tổng hợp. Tính đến tháng 6/2014 có 156 siêu thị, trong đó
có 87 điểm bán rau trên toàn thành phố. Một số kênh siêu thị chính đó là Metro Casch &
Carry, Big C, Intimex, Fivimart...thuộc các siêu thị liên doanh và của Việt Nam. Chúng bao
gồm cả siêu thị bán buôn và bán lẻ. Trong 5 năm gần đây, các siêu thị đã nỗ lực trong việc
cung ứng rau nên chủng loại rau khá phong phú, khối lượng bán gia tăng và ngày càng thu
hút nhiều NTD mua rau tại siêu thị.
4.1.2. Nguồn và đối tượng cung rau
Về nguồn rau tại thị trường Hà Nội. Nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội mới đáp
ứng được 52% nhu cầu rau của toàn thành phố, nên thành phố Hà Nội vẫn thiếu rau, nhất là
các tháng mùa mưa. Lượng rau bổ sung vào Hà Nội từ các tỉnh lân cận, các vùng chuyên
canh và nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc. Các chủng loại rau nhập khẩu chủ yếu là cà
chua, cải bắp, cải thảo, khoai tây. (Trung Quốc) và khoai tây (Mỹ - vào các siêu thị). Mặc
dù thiếu, rau được sản xuất tại Hà Nội vẫn được đưa đến một số địa bàn khác trong nước ở
vụ đông và xuất khẩu (chủ yếu rau gia vị). Cụ thể thông tin được mô phỏng qua sơ đồ 4.1.
1
0
Nguồn bổ sung rau vào Hà Nội
Chuyển rau ra khỏi Hà Nội
(48-50% nhu cầu rau của Hà Nội)
(4,5-7,0% sản lượng rau của Hà Nội)
Ước từ 553.846 đến 600.000 tấn/năm) (Ước từ 27.000 đến 42.000 tấn/năm)
Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tai thi trường Hà Nôi và rau Hà Nôi
4,32
0,50
đó là các nhà cung ứng vào siêu thị phải do siêu thị đã lựa chọn, còn tại chợ, ai có sản phẩm
nào hoặc có khả năng kinh doanh đều có thể tham gia. Tại chợ bán buôn và bán lẻ, tiêu chí
chính lựa chọn nhà cung ứng là giá bán và bề ngoài sản phẩm, còn các tiêu chí khác như độ
an toàn của rau (GCN) thì không ai yêu cầu. Tại các siêu thị, có 6 tiêu chí lựa chọn nhà cung
ứng được đặt ra là: giá, độ an toàn (GCN), mức độ đa dạng của chủng loại rau, Tình trạng
pháp lý của nhà cung ứng, lượng hàng/lần giao, bề ngoài của rau và ngoài ra còn có siêu thị
quan tâm đến mức độ chuyên nghiệp của nhà cung ứng (đóng gói, giao hàng đúng giờ...).
Từ 2012 trở lại đây, các siêu thị quan tâm nhiều đến
1
1
tiêu chí an toàn thay bằng tiêu chí về giá được ưu tiên so với trước đây.
Nguồn hàng rau tới hệ thống chợ và siêu thị: Tóm tắt sơ đồ tiêu thụ rau thông qua các
kênh tại hệ thống chợ như sơ đồ 4.2.
Sơ đồ 4.2. Tóm tắt các kênh tiêu thu rau thông qua hệ thống ch ơ tại Hà Nội
Nguồn rau được sản xuất ra trên địa bàn Hà Nội được đưa đến các chợ chủ yếu bởi các hộ
thuộc các HTX NN, phần do các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp không đán kể, chỉ là
phần dôi dư so với kế hoạch hoặc rau không đủ tiêu chuẩn bán vào siêu thị hoặc bếp ăn.
Tóm tắt nguồn hàng cung ứng đến kênh siêu thị trên địa bàn thành phố (sơ đồ 4.3).
Sơ đồ 4.3. Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội
Nguồn rau tươi tới các siêu thị hiện tại bao gồm chủ yếu nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội.
Ước nguồn từ Hà Nội được bán tại các siêu thị chiếm 70% tổng lượng rau do các siêu thị bán được.
Max: 10
200
Min: 1,0 (chợ tạm)
Chưa sơ chế. Đã sơ chế
Bó và để tự do. Đóng gói (nấm)
Khối lượng và số lượng chủng loại rau được bán bởi những người tham gia họp chợ rất
khác nhau do ở chợ có đủ các thành phần là người sản xuất, thu gom, bán buôn....
Các phương tiện xử dụng trong cung ứng rau: Xe máy, ô tô là hai phương tiện chủ yếu
được sử dụng trong vận chuyển cung ứng rau tới hai hệ thống. Xe lạnh chỉ sử dụng trong vận
chuyển nội bộ giữa các địa điểm của các siêu thị lớn. Tại các chợ có cả quang gánh, xe thồ, xe đạp,
xe bò cải tiến. Trước đây 5 năm, xe máy là phổ biến thì ny họ tính toán ở nhiều góc độ và đã đầu tư
mua xe tải (trên 40% số người bán hàng tại chợ bán buôn) và đã có một số người tại chợ bán lẻ, họ
là những người có mối giao cho các hàng cơm, nhà hàng.
4.1.3.
Chủng loại và lượng rau được tiêu thụ thông qua hệ thống chợ và siêu thị
Tại các chợ, chủng loại rau thường phong phú. Giữa các chợ có sự khác nhau về số lượng
chủng loại, tùy thuộc vào chợ đó nằm trong khu vực dân cư giầu, hay trung bình.
Bảng 4.2. Thông tin về chủng loại, khối lượng rau được tiêu thụ thông
Giống như các chợ, các siêu thị, có sự khác nhau về khối lượng và chủng loại rau được bán
bởi từng kênh, và có sự khác nhau giữa các điểm bán trong cùng một kênh. Bảng 4.3. Một số đặc
điểm của tiêu thụ rau tại các siêu thị
Đại siêu thị
Siêu thị trung bình
Siêu thị mini
Big C Metro
Intimex Fivimart
Unimart Rosa
Loại rau theo
h
vụ
5 -7
1
2,0-3,0 2,5-3,5
0,4-0,5
8,0-10,0
0,5-0,7
0,030,05
Chưa sơ chế và đã sơ chế.
Chưa sơ chế, đã sơ chế
Chưa
và chế biến.
sơ
chế.
Bó, đóng gói và để tự do.
Bó, đóng gói.
Qua tính toán lượng rau tiêu thụ tại từng kênh trên địa bàn Hà Nội có được kết quả như bảng
4.4.
1
3
Bảng 4.4. Đánh giá lượng rau được tiêu thụ qua các kênh khác nhau
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Mức tiêu thụ qua các kênh, tính theo
Bán qua các kênh
Tính theo
Tiêu thụ qua các kênh
Khối lượng
Cơ cấu
(Tấn/ngày)
(%)
1.371,94
Hệ thống chợ (Chợ bán buôn, bán lẻ, bán rong)
82,31
Cửa hàng, quầy hàng RAT
4,04
66,5
4,04
Siêu thị
66,5
9,61
Khác (Các bêp ăn, trực tiêp tới NTD,.)
158,06
Tổng lượng rau cần tiêu thụ/ngày
1.644
100,00
Đi sâu nghiên cứu về việc tiêu thụ rau được sản xuất tại địa bàn Hà Nội cho thấy chúng được
tiêu thụ thông qua các kênh khác nhau với các tỷ lệ như bảng 4.4. Tóm lại, lượng rau được tiêu thụ
qua hệ thống chợ và bán rong chiêm tỷ lệ rất lớn: 82,31%, trong đó bán bởi người bán rong và không
chính thống đạt 42%. Tình trạng của Hà Nội hiện nay là các khu đông dân cư, gần các trường học,
công ty... việc bày bán thực phẩm nói chung và rau nói riêng khắp nơi, mặc dù các cơ quan chức
năng ra sức dẹp bỏ, song hiện tượng này như “bắt cóc bỏ đĩa”. Lượng rau tiêu thụ qua hệ thống siêu
thị chỉ đạt 4,04% tổng lượng rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội, tức tương đương với 66,5
tấn/ngày, chiêm 70% lượng rau bán được bởi các siêu thị. Các siêu thị chia sẻ, nhiều NTD Hà Nội
_____- m T / v • Ả______•
T
T
I
Tại hệ thống chợ
Người bán buôn
cơm, hộ gia đình.
B
Tại các chợ bán lẻ
1
Người sản xuất
- Hộ gia đình (chủ yếu).
2
Người bán lẻ
- Nhà hàng hoặc hàng cơm (Khi họ bị nhỡ
hoặc mua số lượng ít).
II
Tại hệ thống siêu thị
A
Tại các siêu thị bán buôn
của siêu thị bán buôn cũng chỉ có 13% trả chậm sau khi mua hàng. Riêng đối với siêu thị bán lẻ,
100% khách hàng phải trả tiền trước khi họ ra khỏi siêu thị.
1
5
4.1.6.
Rủi ro của người bán và người mua
Tại hệ thống chợ: Có phần rủi ro đối với những người thu gom, bán buôn do những người
mua lớn chịu và không trả. Có những người mất từ 15-30 triệu đồng/năm. Người sản xuất chịu rủi ro
như mất cắp, bị ép giá, người mua buôn khi trả tiền thường bớt khi thanh toán. Người mua hàng để
bán lại bị rủi ro khi thời tiết mưa bất chợt, song chỉ từ 3-5 lần/năm. Người mua về dùng lo rủi ro về
độ an toàn. Có 8/170 người đã phải bỏ rau đi không ăn (1 lần/trong năm).
Tại hệ thống siêu thị: Siêu thị cũng bị rủi ro khi rau thu hoạch bị trời mưa nên dễ thối, hỏng,
song tỷ lệ bị không nhiều. Rủi ro lớn nhất đó là việc ước lượng hàng để đặt và mức bán. Trong số
những người được hỏi chưa có ai bị rủi ro về độ an toàn, song họ vẫn lo lắng và áp dụng biện pháp
ngâm nước muối hoặc sục ozôn.
4.1.7.
Kết quả và hiệu quả của hoạt động bán rau tại chợ và siêu thị
4.1.7.1.
Đối với những người bán rau tại hệ thống chợ
Tiêu thụ các loại rau được sản xuất tại Hà Nội trước hết kể đến ba đối tượng làm ra sản phẩm,
cụ thể kết quả và hiệu quả sản xuất của họ như tại bảng 4.5.
Văn Đức
805,33
563,73
604,00
453,00
B
Tên các đơn vị
Doanh thu
Thu nhập
Hộ tại HTX kiểu mới và nhóm sản xuất RHC
1
Vân Nội
2
Minh Hiệp
1.166,34
Cty SX, CB & TT RAT Ba Chữ
Cty CP TP AT Hà An
1.115,74
466,00
725,23
256,59
2
3
4
Như vậy, các hộ thuộc các HTX sản xuất kiểu mới có hiệu quả sản xuất cao hơn so với các
đối tượng khác. Riêng các hộ thuộc các HTX nếu BGĐ có can thiệp vào việc tiêu thụ rau thì họ có
nhiều kênh tiêu thụ khác nhau nên sản xuất của họ đa dạng, hạn chế rủi ro. Các công ty sản xuất và
bán sản phấm tới các siêu thị, bếp ăn cũng có hiệu quả cao hơn trường hợp công ty Hà An tự sản xuất
và tự bán sản phẩm tại cửa hàng RAT. Trường hợp công ty này để duy trì được họ đã phải kinh
doanh một số mặt hàng thực phẩm khác như thịt, cá, trứng, sữa...
Kế tiếp, có 4 đối tượng chủ yếu tham gia bán sản phẩm tại các chợ: Người sản xuất; Người
1
6
thu gom/bán buôn/bán lẻ; Người bán buôn/bán lẻ và Người chuyên bán buôn. Tính toán mức thu
nhập của họ sau khi trừ đi các khoản chi phí tham gia kinh doanh rau mỗi ngày có kết quả tại bảng
4.8.
Bảng 4.8. Kết quả kinh doanh rau của các đối tượng khác nhau tại ch ợ
T
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo nguồn rau cung cấp tới hệ thống ch ợ và siêu thi
4.2.1.1.
Quy hoạch vùng sản xuất rau và sản xuất RAT
Từ các vùng được quy hoạch sản xuất RAT đã giúp hình thành số lượng đơn vị nhóm, HTX
sản xuất rau kiểu mới được hình thành; Đã có 184 đơn vị được cấp GCN đủ điều kiện sản xuất RAT
(4.931 ha), 21 GCN VietGAP (171 ha), chứng nhận PGS cho RHC (24 ha) và 54 cơ sở đạt chứng
nhận sơ chế RAT. Nhờ có các GCN mà các đơn vị sản xuất ký kết được hợp đồng tiêu thụ tới các
siêu thị và các bếp ăn tập thể hoặc xuất khẩu.
4.2.1.2.
Đặc điểm của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa bàn Hà Nội
Quy mô sản xuất: Diện tích sản xuất rau của hộ nhỏ, trung bình là dưới 2.000 m 2 phân bố trên
4-6 mảnh ruộng nên khó bố trí sản xuất. Năng lực tổ chức sản xuất và tiêu thụ: Các hộ thuộc các
HTX NN là yếu nhất, các hộ thuộc các HTX kiểu mới đã được trải nghiệm và các hộ thuộc các nhóm
sản xuất RHC đã được tập huấn. Công nghệ phục vụ sản xuất rau: Còn sử dụng các công cụ, dụng cụ
thô sơ, thiết bị hiện đại mới có ở một số doanh nghiệp và HTX kiểu mới, song số lượng chưa nhiều.
4.2.1.3.
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Giữa các hộ thuộc các HTX NN chưa có sự liên kết chặt chẽ nhằm gia tăng khả năng cung
ứng cũng như chưa có sự liên kết chặt chẽ với các tác nhân khác trong ngành hàng nên khâu tiêu thụ
sản phẩm luôn là vấn đề khó khăn nhất của các hộ. Các hộ thuộc các HTX kiểu mới và trong các
nhóm sản xuất RHC đã thực hiện tốt liên kết ngang và liên kết dọc.
1
a) Chính sách quản lý chất lượng rau: Nhờ có các chính sách này mà đã hình thành được nhiều
điểm bán RAT. Biểu hiện qua số lượng điểm tại các thời điểm như 2002 (32), 2007 (80), 2012
(122) và 2014 riêng siêu thị đã đạt 87 điểm.
b) Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng: Tiếp theo sau quyết định
80/2002/QĐ-TTg ban hành ngày 24/06/2002 kém hiệu lực đã có Quyết định 62/2013/QĐ-TTg
được ban hành ngày 25/10/2013 về chính sách khuyến khích phát triển liên kết sản xuất gắn
với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn. Đây là một trong những thuận lợi hy
vọng sẽ giúp cho sản xuất rau có những chuyển biến mới.
4.2.3.Nhóm nhân tố về tiêu dùng
4.2.3.1.
Về độ tuổi và thu nhập: Những người mua rau tại siêu thị tập trung ở lửa tuổi từ 30-50
và có mức thu nhập từ 10 triệu đồng/tháng/hộ trở lên. Thu nhập là 1 yếu tố có ảnh hưởng
nhiều đến việc quyết định mua rau ở đâu.
4.2.3.2.
Mục đích mua rau: Ngoài các hộ gia đình đến chợ mua rau về dung tại gia đình,
những khách hàng khác mua về bán lại tại các chợ, siêu thị, phục vụ tại các nhà hàng, bếp ăn
và hàng cơm. Mục đích mua là một nhân tố có ảnh hưởng đến việc quyết định mua rau ở chợ
hay siêu thị.
4.2.3.3.
Tiêu chí lựa chọn địa điểm mua rau và lựa chọn rau khi mua
Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm cơ bản của người mua rau tại chợ và siêu thị là thích sự
thuận tiện, đa dạng chủng loại rau và rau tươi. Người mua ở chợ quan tâm nhiều đến tiêu chí giá, sự
thuận tiện và những người mua rau tại siêu thị quan tâm nhiều đến độ an toàn và nguồn gốc rau.
Tiếp tục can thiệp vào những hoạt động mà mà tư nhân không làm được như
(i) Công tác tập huấn nâng cao năng lực cho người sản xuất; Công tác khuyến nông; Công tác kiểm
tra, thanh tra chất lượng rau; Chỉ đạo chung các chương trình sản xuất RAT; (ii) Xây dựng hệ thống
cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, đường giao thông nội đồng... ; (iii) Hình thành các mô hình tổ
chức sản và tiêu thụ RAT.
Phát huy sức mạnh của khối tư nhân như huy động các doanh nghiệp tham gia phát triển
tiêu thụ thực phẩm nói chung và sản phẩm rau nói riêng được đặt trong hệ thống kênh phân phối
chung của Hà Nội, trong đó hệ thống chợ và siêu thị là hai kênh chính.
5.1.3.
Căn cứ đề xuất các giải pháp
Các căn cứ đề xuất như sau: (i) Kết quả nghiên cứu; (ii) Kinh nghiệm và bài học từ những
việc làm trước của Hà Nội và các địa phương khác có liên quan; (iii) Kinh nghiệm và bài học từ một
số mô hình phát triển chuỗi giá trị rau của Hà Nội và (iv) Kết quả thử nghiệm sự hỗ trợ của tác giả tại
một số địa bàn tại các HTX NN và HTX kiểu mới, một số siêu thị và tiêu dùng tại hộ gia đình. Bám
sát chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước.
5.2.
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ
VÀ SIÊU THỊ
5.2.1.
Tạo nguồn cung đảm bảo tới hệ thống ch ợ và siêu thị
5.2.1.1.
Đổi mới quy hoạch vùng sản xuất rau tập trung
tiến những công nghệ hiện có và đầu tư trang bị để có được các dụng cụ, công cụ và thiết bị phục vụ
sản xuất tốt như nhà lạnh, xe lạnh... phục vụ tốt hơn quá trình sản xuất và sau thu hoạch.
5.2.1.3.
Xây dựng và phát triển liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau
Liên kết cần được xây dựng theo hướng cả liên kết dọc và liên kết ngang: hình thành liên kết
giữa những người cùng sản xuất rau và giữa các tác nhân trong ngành hàng rau trên địa bàn thành
phố Hà Nội và thậm chí cả các tỉnh khác. Phát triển sự liên kết giữa những người sản xuất để gia tăng
khả năng cung ứng về số lượng, chủng loại và khả năng giao hàng đều đặn và cả sự liên kết giữa các
tác nhân trong ngành hàng rau để việc sản xuất được tổ chức dựa theo kế hoạch tiêu thụ giúp giảm
thiểu rủi ro cho người sản xuất, hình thành sản xuất theo chuỗi cung ứng bền vững.
5.2.2.
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư công cho sản xuất và tiêu thụ rau và RAT
5.2.2.I.
Tiếp tục đầu tư cho sản xuất rau và RAT
Nâng cao năng lực thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practices - GAP) và thực
hành thị trường tốt (Good Trading Practices - GTP). Nếu làm tốt được việc nâng cao năng lực GAP
và GTP cho người sản xuất rau thì họ sẽ có khả năng áp dụng sang cho các sản phẩm nông nghiệp
khác. Do vậy cần làm thật tốt cho đối tượng các hộ sản xuất rau để họ có điều kiện áp dụng cho các
cây khác.
5.2.2.2.
Tiếp tục đầu tư cho tiêu thụ rau và RAT
2
0
việc sử dụng các vật tư đầu vào phục vụ sản xuất. Cần tổ chức thanh tra, kiểm tra thường
xuyên và đột xuất các cơ sở kinh doanh vật tư đầu vào của sản xuất rau trên địa bàn các vùng
trồng rau đã được quy hoạch và xử phạt nghiêm minh các cơ sở vi phạm. Việc giám sát nội bộ
của các đơn vị sản cuất được đánh giá cao và lựa chọn hình thức, cách làm giống như các
nhóm sản xuấ RHC đang làm.
Cách thức thực hiện giải giải pháp: (i) Tài liệu hóa quá trình kiểm tra nội bộ; (ii) Tổ chức
tập huấn cho những người làm công tác kiểm tra, thanh tra (lý thuyết); (iii) Tổ chức giao lưu chia sẻ
kinh nghiệm giữa những người đã làm với những người mới làm để khắc phục những điểm chưa rõ
và áp dụng được đúng, mang lại hiệu quả.
-
Thành phố cũng cần tổ chức tốt việc kiểm tra chất lượng sản phẩm rau đưa từ ngoài tỉnh vào
thị trường Hà Nội. Do đặc thù của Hà Nội có đến 48-50% rau đưa từ ngoài vào nên cần thiết
duy trì kiểm tra nguồn rau chặt chẽ theo hình thức định kỳ và bất thường lấy mẫu kiểm tra,
phân tích nhằm giảm thiểu rủi ro về độ an toàn của rau.
b) Khuyến khích tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng
Hiện đã áp dụng quyết định 62/2013/QĐ-TTg được ban hành ngày 25/10/2013 do đó rất cần
phổ biến chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản theo hợp đồng và hình thức áp dụng để từ đó các
hộ nhận rõ được tác dụng và chủ động thực hiện.
2
1
5.2.3.
Thúc đẩy tiêu dùng rau
lớn, và tỷ lệ rau của các đối tượng tham gia tiêu thụ, ý nghĩa của việc thúc đẩy tiêu thụ rau qua
hai hệ thống tiêu thụ chính thức:
Nhu cầu rau Hà Nội ước đến 3.166 tấn/ngày, song hiện Hà Nội chỉ có khả năng sản xuất được
52% nhu cầu và cần 48% lượng rau được bổ sung từ các tỉnh ngoài và nguồn rau nhập khẩu, chủ yếu
từ Trung Quốc.
Lượng rau tiêu thụ qua hệ thống chợ chiếm 46% nhu cầu rau của toàn thành phố, và 42%
được tiêu thụ bởi những người bán rong và những người ngồi ở các vị trí không đúng quy định.
Lượng rau được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị chỉ đáp ứng 3,0% nhu cầu rau của thành phố. Việc
phân phối rau thông qua các siêu thị đã được cải thiện nhiều song do sự gia tăng nhu cầu rau của
thành phố lớn hơn nên khả năng đáp ứng được vẫn còn ở một con số khiêm tốn. Hiện Hà Nội rất vất
vả trong việc quản lý những người bán hàng không chính thống và cả nguồn rau của họ bán ra mặc
dù đánh giá cao ở góc độ về lượng hàng bán được (42%) là lớn hơn lượng rau bán tới tay NTD cuối
cùng thông qua chợ.
3) Thực trạng tham gia sản xuất và khả năng cung ứng rau của các đối tượng tham gia sản xuất
2
2
rau tại Hà Nội: Nguồn cung ứng rau được sản xuất trên địa bàn Hà Nội do 3 đối tượng chính
đó là: (i) Các hộ thuộc các HTX NN, đối tượng chính, sản xuất ra > 90% sản lượng rau của
toàn thành phố, song tỷ lệ bán hàng cho các đối tượng như thu gom- mang đến chợ bán buôn
25% - mang đến chợ bán lẻ: 53%- 25_ và gần 15%. Phần tại chợ bán lẻ bán cho người bán lẻ
và NTD; (ii) Các hộ thuộc HTX kiểu mới, sản xuất rau trên diện tích 3% diện tích đất song có
khả năng tạo ra >4% sản lượng rau của toàn thành phố. 90% sản phẩm của họ chủ yếu được
cung ứng tới các bếp ăn tập thể, siêu thị, cửa hàng và quầy hàng RAT. 10% sản phẩm còn lại
có thể bán cho các HTX khác để cân đối lượng hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc
bán ra chợ khi thời tiết không ủng hộ. (iii) Các doanh nghiệp, tham gia sản xuất lượng rau nhỏ
(0,5%) so với sản lượng rau của thành phố song thực hiện cung cấp được cho các đối tác có
nhu cầu rau lớn hàng ngày như các siêu thị và các bếp ăn tập thể. Thành công các hộ thuộc các
HTX kiểu mới và doanh nghiệp tiêu thụ thông qua siêu thị là nhờ công tác tổ chức sản xuất và
đặc biệt tiêu thụ qua hệ thống chợ và siêu thị thành công.
6.2.
KIẾN NGHỊ
Đối với Nhà nước và Thành phố Hà Nội: Tiếp tục hỗ trợ phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất và tiêu thụ rau.
Đối với các cơ quan nghiên cứu: Nghiên cứu việc tiêu thụ rau qua hình thức bán hàng không
chính thống để có thêm cơ sở tư vấn cho UBND Thành phố, Sở Công Thương trong việc quản lý các
hình thức tiêu thụ. Có các nghiên cứu về tiêu dùng và NTD để thông qua đó hỗ trợ người sản xuất,
sản xuất tốt hơn đáp ứng nhu cầu của NTD.
Đối với các cơ quan chức năng của Hà Nội: Sở NN & PTNT, Sở Công Thương, Trung tâm
Khuyến nông và Trung tâm xúc tiến thương mại Hà Nội cần hỗ trợ người sản xuất nâng
cao kỹ năng GAP và GTP cũng như thực hiện phổ biến các khuyến cáo cho các tác nhân
như người sản xuất, người kinh doanh rau trong nước biết được những thay đổi trong
tiêu dùng rau ngày nay, nhu cầu và phản ứng của NTD để họ có những điều chỉnh trong
sản xuất và kinh doanh sẽ giúp phát triển tiêu thụ rau được sản xuất tại Hà Nội tốt hơn.
Đây là một trong những hoạt động nhằm góp phần gia tăng khả năng cạnh tranh của
rau trong nước, đẩy lùi nguồn rau nhập khẩu.
2
4
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Nguyễn Thị Tân Lộc và Đỗ Kim Chung (2013). Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm
về giải pháp tiêu thụ rau quả thông qua hệ thống chợ và siêu thị. Tạp chí Kinh tế & Phát triển,
số 195 (II), tháng 9, trang 88-96.
2. Nguyễn Thị Tân Lộc, Đỗ Kim Chung và Trần Khắc Thi (2013). Liên kết trong sản xuất và
tiêu thụ rau, quả. Kết quả nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
thôn những năm đầu thế kỷ 21. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trang 140-155.