ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Nguyễn Thị Diễm Hằng
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦ ĐÔ
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, 2016
Công trình được hoàn thành tại: Trung tâm Nghiên cứu Tài
nguyên và Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Hoàng Văn Thắng
2. PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia
chấm luận án tiến sĩ,
Họp tại:
vào hồi
thống kê Hà Nội, 2015]. Những năm qua, thành phố Hà Nội đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, tăng
trưởng GDP luôn ở mức cao hơn so với bình quân cả nước
khoảng 1,4-1,6 lần. Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng kinh
tế cao là sức ép về suy giảm chất lượng môi trường Thành phố
ngày một gia tăng, trong đó đặc biệt là vấn đề CTR. Khối lượng
phát sinh CTR trên địa bàn Thành phố đã tăng rất nhanh trong
những năm gần đây. Phương pháp chủ yếu xử lý CTR của
Thành phố hiện nay vẫn là chôn lấp (chiếm hơn 80% tổng
lượng CTR sinh hoạt toàn Thành phố) và Hà Nội đang đứng
trước khó khăn trong việc xây dựng các bãi chôn lấp CTR mới,
trong khi các bãi cũ đã sắp lấp đầy. Việc nghiên cứu phát triển
các phương pháp xử lý CTR mang lại hiệu quả cả về môi
trường và kinh tế như hoạt động tái chế là một hướng đi cần
được quan tâm trong thời gian tới.
1
Trước thực tế trên, tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
tiềm năng phát triển công nghiệp tái chế chất thải rắn trên địa
bàn Thành phố Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô”
nhằm đánh giá khả năng phát triển một ngành công nghiệp mới
- công nghiệp tái chế CTR - trên địa bàn Hà Nội, góp phần giải
quyết vấn đề xử lý CTR theo hướng PTBV, đồng thời đạt được
các lợi ích về kinh tế và xã hội, phục vụ tốt mục tiêu PTBV.
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận phát triển ngành công nghiệp tái
chế CTR phục vụ PTBV
- Đánh giá thực trạng công nghiệp tái chế CTR trên địa
CTR phục vụ PTBV tại Hà Nội như thế nào?
- Để phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV
Thành phố Hà Nội, cần có những giải pháp gì?
Giả thuyết nghiên cứu
- Công nghiệp tái chế CTR là một ngành công nghiệp phục
vụ tốt mục tiêu PTBV. Thị trường tái chế CTR là thị trường
không hoàn hảo và để phục vụ được mục tiêu PTBV, vai trò của
Nhà nước nhằm đáp ứng được các điều kiện phát triển ngành
công nghiệp tái chế CTR là rất quan trọng.
- Hiện nay, hoạt động tái chế trên địa bàn Thành phố Hà
Nội đã có nhưng chưa phát triển và chưa đáp ứng yêu cầu của
công nghiệp tái chế phục vụ PTBV. Thành phố Hà Nội có tiềm
năng phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV.
- Để phát triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ PTBV
Thành phố Hà Nội, cần hoàn thiện, đưa vào thực hiện hệ thống
chính sách vĩ mô và các chính sách riêng của Thành phố; tăng
cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tái chế;
tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền và tăng cường hợp
tác với các tỉnh trong Vùng Thủ đô.
3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần cung cấp các vấn đề
lý luận về ngành công nghiệp tái chế CTR, điều kiện để phát
triển công nghiệp tái chế CTR phục vụ mục tiêu PTBV.
Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp các căn cứ cơ sở khoa học,
thực tiễn để giúp Thành phố Hà Nội phát triển ngành công
nghiệp tái chế CTR phục vụ tốt mục tiêu PTBV của Thủ đô.
xuất trên thế giới [Tchobanoglous, 2002; EPA, 2014; UNEP,
2005] và tại Việt Nam [Cù Huy Đấu và Trần Thị Hường, 2009;
Trần Hiếu Nhuệ, 2005; Chính phủ, 2015].
- Nghiên cứu về các loại hình tái chế: Theo Nguyễn Đức
Khiển [2003], Cù Huy Đấu và Trần Thị Hường [2009], các loại
hình tái chế có thể chia thành: Tái chế vật liệu, tái chế nhiệt.
4
Củng có thể coi hoạt động tái chế như hoạt động tái sinh lại chất
thải.
- Một số vật liệu có thể tái chế trong chất thải rắn: Về lý
thuyết, trong thành phần chất thải rắn có rất nhiều vật liệu có
thể tái chế [Khalid và cộng sự, 2011; Tietenberg và Lewis,
2011; Nguyễn Văn Phước, 2008; Cù Huy Đấu và Trần Thị
Hường, 2009].
1.1.1.3. Nghiên cứu về công nghiệp tái chế CTR.
Không đưa ra khái niệm cụ thể ngành công nghiệp tái chế
CTR, nhưng nhiều nghiên cứu [OECD, 1996; UNEP, 2005;
Nguyễn Văn Phước, 2008] đã đề cập khá rõ về các hoạt động
liên quan đến ngành này, bao gồm: Hoạt động phân loại, thu
gom, vận chuyển CTR; hoạt động sơ chế, làm sạch CTR; hoạt
động sản xuất vật liệu dùng cho các ngành công nghiệp khác;
hoạt động sản xuất sản phẩm tiêu dùng cho xã hội.
Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu chỉ rõ về sự hình thành và
phát triển của công nghiệp tái chế CTR với vai trò quan trọng
của Nhà nước [OECD, 1996; UNEP, 2005; Tietenberg và Lewis,
2011; Nguyễn Thế Chinh, 2005].
1.1.2. Vai trò của công nghiệp tái chế CTR đối với phát triển
nghiệp tái chế
Các khó khăn, thách thức được các nghiên cứu chỉ rõ:
trong việc duy trì số lượng, chất lượng nguồn vật liệu và giá vật
liệu một cách ổn định; Khó khăn trong tiếp cận thông tin có thể
nhận thấy ở hầu khắp các công đoạn của công nghiệp tái chế;
Sự đa dạng hóa thành phần và chất lượng hàng hóa; Thị trường
tái chế, tự thân nó, không thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư chính thức; Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, không kiểm
soát được chất lượng sản phẩm và việc sử dụng lao động
6
[Ashok, 2009; UNEP, 2007; Đặng Kim Chi, 2005; OECD,
2007; Singer, 1995; Tietenberg và Lewis, 2011; Ichinose, 2013;
Kojima, 2009; Tanskanen, 2013; Richad, 2005; John, 1997;
Yunchang, 2004; UNEP, 2011; Yiing, 2014].
1.2. Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp tái chế phục vụ
PTBV
1.2.1. Các khái niệm liên quan
Luận án đưa ra các khái niệm về: Tái chế, ngành công
nghiệp, công nghiệp tái chế CTR, tiềm năng, phát triển và phát
triển bền vững.
1.2.2. Các yêu cầu của công nghiệp tái chế phục vụ PTBV
- Về công nghệ sản xuất: Khuyến khích phát triển các công
nghệ hiện đại, song song với các công nghệ phù hợp với quy
mô của các làng nghề tái chế nhưng phải đảm bảo tuân thủ các
yêu cầu về bảo vệ môi trường, các chất thải cần được xử lý đạt
tiêu chuẩn quy định về môi trường trước khi xả thải ra môi
trường xung quanh.
1.3. Kinh nghiệm thế giới và trong nước đối với phát triển
công nghiệp tái chế CTR
1.3.1. Kinh nghiệm thế giới.
1.3.2. Kinh nghiệm trong nước.
CHƯƠNG II. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Cách tiếp cận
Bao gồm: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận thực tiễn đến từng
nhóm đối tượng, tiếp cận liên ngành, liên vùng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bao gồm: Phương pháp khảo cứu, tổng hợp tài liệu, số
liệu; Phương pháp điều tra, khảo sát; Phương pháp phân tích
8
chính sách; Phương pháp tính toán dự báo; Phương pháp
chuyên gia.
Tổng hợp mối liên quan giữa cách tiếp cận, phương pháp
nghiên cứu và các nội dung của luận án theo Hình 2.2.
Tiếp cận hệ
thống
Tiếp
cận
thực
tiễn
đến
từng
nhóm
chuyên gia
Đề xuất giải
pháp
Hình 2.2. Sơ đồ tổng hợp các tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
của luận án
9
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
3.1. Chính sách phát triển công nghiệp tái chế CTR
3.1.1. Khái quát hệ thống các chính sách liên quan đến phát
triển công nghiệp tái chế
Có thể phân làm 2 loại: Các chính sách mang tính định
hướng, giải pháp phát triển và Các chính sách được ban hành
dưới dạng công cụ điều hành
3.1.2. Những kết quả đạt được của hệ thống chính sách thúc
đẩy tái chế CTR
Việc xây dựng các chỉ tiêu, nội dung của hoạt động tái
chế: được thực hiện đầy đủ nhưng khó khả thi.
Về tạo nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động tái chế:
được thể hiện ở 2 nội dung: Quy định phân loại CTR tại nguồn
và Quy định thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ. Các quy định này
chưa được triển khai trên thực tế
Về hỗ trợ hoạt động tái chế: các chính sách hỗ trợ hoạt
động tái chế bao gồm: chính sách đất đai, chính sách thuế, vay
3.2.3. Đánh giá thực trạng phân loại CTR tạo nguồn nguyên
liệu cho công nghiệp tái chế
Khả năng cung ứng nguyên liệu từ nguồn CTR công
nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội khá thuận lợi do hầu hết
các doanh nghiệp đều phân loại CTR để bán lại các chất thải có
thể tái chế.
3.2.3.1. Đánh giá một số dự án phân loại CTR tại nguồn đã và
đang thực hiện
Dự án triển khai phân loại CTR tại nguồn tại 4 phường khu
vực nội thành trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Jica, Nhật
Bản và Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội về triển
11
khai mô hình 3R trên địa bàn Thành phố từ năm 2006, kết thúc
năm 2009. Mặc dù tỷ lệ phân loại CTR tại nguồn khá cao (trên
80%) nhưng dự án đến nay không được triển khai tiếp và cũng
không được nhân rộng ra toàn địa bàn. Nguyên nhân chính là
chưa có sự quan tâm nghiêm túc của chính quyền Thành phố;
sự không đồng bộ trong hệ thống tái chế..
- Dự án phân loại rác tại nguồn tại 6 xã và thị trấn nhằm
tạo nguồn chế biến phân hữu cơ trên địa bàn Huyên Gia Lâm từ
năm 2009 đến nay. Cho đến nay dự án này vẫn tiếp tục được
triển khai, tỷ lệ thu gom CTR khá cao (hơn 90%). Sản phẩm
mùn hữu cơ được xí nghiệp Gia Lâm phát miễn phí cho người
dân sử dụng. Kết quả trên đạt được là do có sự thống nhất cao
trong chủ trương, chỉ đạo thực hiện trực tiếp của bộ máy chính
quyền cấp cơ sở (cấp phường, xã); Có sự tham gia của tất cả các
hội, đoàn thể trên địa bàn xã, phường trong các hoạt động tuyên
không qua xử lý nên nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, mất an
toàn khu vực dân cư và mất mỹ quan đô thị. Chất lượng hàng
thu mua lại không đồng đều, không được xử lý sơ bộ trước khi
xuất hàng. Hoạt động mua bán của các chủ cơ sở thu mua phế
liệu hoàn toàn không có hóa đơn, chứng từ.
Ngoài các chủ vựa thu mua phế liệu, hiện nay trên địa bàn
Thành phố đã xuất hiện một số doanh nghiệp chuyên thu mua
phế liệu. Nguồn hàng của các doanh nghiệp này chính là những
kiện hàng khối lượng lớn từ phía các doanh nghiệp công nghiệp,
các hàng phế liệu chất lượng tốt từ chính các chủ vựa thu mua
phế liệu.
13
3.3. Đánh giá hoạt động công nghiệp tái chế CTR trên địa
bàn Thành phố Hà Nội
3.3.1. Mô hình nhà máy chế biến phân hữu cơ
Trên địa bàn Hà Nội hiện có nhà máy xử lý rác thải sinh
hoạt làm phân bón hữu cơ Cầu Diễn thuộc Công ty Môi trường
Đô thị Hà Nội với công nghệ tiên tiến của Tây Ban Nha. Tuy
nhiên hiện nay dây chuyền công nghệ này thường xuyên gặp sự
cố và thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Chất lượng
mùn hữu cơ hiện nay không đạt tiêu chuẩn mùn hữu cơ để bón
cho các cây lương thực của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn. Nguyên nhân chính là do chất lượng nguồn chất thải hữu
cơ của Thành phố Hà Nội rất kém (lẫn nhiều tạp chất do không
được phân loại tại nguồn).
3.3.2. Mô hình các doanh nghiệp có một phần hoạt động tái
chế
xuất từ 30-40 năm về trước.
3.3.3. Mô hình các làng nghề tái chế
3.3.3.1. Làng nghề tái chế nhựa, nilon
Trên địa bàn Hà Nội có một số làng nghề tái chế nhựa,
nilon như Trung Văn, Nam Từ Liêm; Triều Khúc, Thanh Trì,
Phụng Thượng, Phúc Thọ có các đặc điểm sau: công nghệ lạc
hậu, sử dụng lao động không theo quy định, gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng.
3.3.3.2. Hoạt động tái chế sắt, thép phế liệu
Hoạt động sử dụng sắt phế liệu để kéo thành sắt thành
phẩm hiện đang khá phát triển trên địa bàn Hà Nội. Một số cơ
sở sản xuất đã đầu tư máy móc tương đối hiện đại (làng Phùng
Xá, Thạch Thất). Tuy nhiên, đa số máy móc hiện nay vẫn được
nhập chủ yếu từ Trung Quốc hoặc tự sản xuất trong nước và rất
nhiều máy móc tại các làng nghề có các thông số kỹ thuật
15
không đạt tiêu chuẩn. Hiện nay các chất thải làng nghề đều
được thải ra môi trường xung quanh mà không hề qua xử lý,
gây ô nhiễm môi trường nặng nề [Sở Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội, 2012].
3.4. Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm tái chế trên địa
bàn
3.4.1. Tiêu thụ sản phẩm của nhà máy phân Cầu Diễn
Hiện nay sản phẩm phân hữu cơ của nhà máy Cầu Diễn
không bán được cho khu vực sản xuất nông nghiệp, mà phải
đưa vào tiêu thụ tại các nông trường trồng cây công nghiệp
trong Tây Nguyên.
Hình 4.1. Dự báo diễn biến chất thải rắn sinh hoạt tại Hà Nội
đến năm 2020
4.1.1.2. Dự báo lượng CTR công nghiệp
Hình 4.2. Dự báo diễn biến chất thải rắn công nghiệp
tại Hà Nội đến năm 202
17
Hình 4.3. Dự báo lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh
theo ngành của thành phố Hà Nội đến năm 2020
Kết quả dự báo trên cho thấy, lượng CTR nói chung và
CTR có thể tái chế nói riêng sẽ tăng nhanh trong thời gian tới.
Đây là một nguồn nguyên liệu dồi dào cho hoạt động tái chế
trong tương lai.
4.1.2. Đánh giá tác động từ chính sách của Nhà nước
Từ những nghiên cứu trên cho thấy, hệ thống chính sách
thúc đẩy tái chế đang ngày được hoàn thiện, thể hiện tại Luật
Môi trường và những văn bản thi hành luật.
4.1.3. Đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm CTR trong
những năm tới
4.1.3.1. Nguồn tiêu thụ từ ngành công nghiệp
Hiện tại và trong tương lai, nhu cầu nguyên liệu từ vật liệu
tái chế phục vụ các ngành công nghiệp khác vẫn luôn ở mức
cao.
18
4.2.2. Các giải pháp chính sách thúc đẩy công nghiệp tái chế
trên địa bàn Hà Nội
4.2.2.1. Đề xuất các chính sách vĩ mô
Hệ thống chính sách cần xây dựng bao gồm: Chính sách
đặc thù đối với một số loại chất thải; Quy định trách nhiệm của
nhà sản xuất, nhà nhập khẩu đối với việc tái chế các bao bì đã
qua sử dụng của họ; Chính sách để kiểm soát chất lượng của
hoạt động tái chế chưa được xây dựng cụ thể; Quy chế về mua
sắm công đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường của
hoạt động tái chế.
4.2.2.2. Đề xuất các chính sách đối với thành phố Hà Nội.
Bảng 4.5. Đề xuất chính sách đối với Thành phố Hà Nội
Các nội dung
cần xây dựng
chính sách
Phân loại CTR
tại nguồn, thu
gom, vận
chuyển CTR
Hoạt động tái
chế
Hỗ trợ sản
phẩm tái chế
Chính
sách hiện
có
Quy định
- Chính sách khuyến khích nghiên
cứu khoa học-công nghệ phục vụ
tái chế
Xây dựng các chính sách trợ giá
đối với các sản phẩm tái chế; chính
sách thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm
tái chế trên địa bàn Hà Nội
20
4.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đối với công
nghiệp tái chế
Chủ động trong việc ban hành các quy chuẩn công nghệ
đối với các hoạt động tái chế, xử lý CTR để doanh nghiệp dựa
vào chuẩn đó thực hiện; Xây dựng cơ chế kiểm tra, thẩm định
công nghệ xử lý, tái chế và các sản phẩm tái chế. Thành lập hội
đồng thẩm định cấp Thành phố bao gồm các nhà quản lý, các
chuyên gia có chuyên môn, uy tín trong lĩnh vực này.
Kiểm tra, phân loại các cơ sở tái chế, phân loại ra từng loại
hình tái chế, công nghệ tái chế để từ đó có các biện pháp hỗ trợ,
kiểm soát hoạt động sản xuất để đảm bảo không gây ô nhiễm
môi trường
4.2.4. Giải pháp về thông tin – tuyên truyền
4.2.4.1. Đối với các cấp, các ngành của Thành phố Hà Nội.
4.2.4.2. Thông tin, tuyên truyền đối với người dân
Quán triệt, triển khai hoạt động tuyên truyền về phân loại
CTR trên toàn địa bàn Thành phố:
Đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền trên địa bàn qua
nhiều hình thức và chú trọng về chất lượng các nội dung tuyên
Phát triển công nghiệp tái chế CTR là một tất yếu khách
quan đối với mỗi quốc gia trên thế giới nhằm phục vụ mục tiêu
phát triển bền vững. Những lợi ích của ngành công nghiệp tái
chế CTR bao gồm: tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm phát
thải khí nhà kính, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và tạo ra
nhiều doanh nghiệp mới. Thị trường tái chế CTR là một thị
trường không hoàn hảo.
Tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, hệ thống
chính sách hỗ trợ tái chế CTR chưa được xây dựng riêng mà
được kết hợp với các chính sách quản lý CTR. Một số chính
sách đã được triển khai trên thực tế và bước đầu hỗ trợ được
22
cho các doanh nghiệp xây dựng cơ sở tái chế, đó là các chính
sách ưu đãi về mặt bằng sản xuất, hỗ trợ vay vốn, giảm thuế...
Bên cạnh đó, một số vấn đề còn bất cập trong hệ thống chính
sách, chưa thúc đẩy tái chế CTR phục vụ mục tiêu PTBV là: sự
thiếu tính khả thi của một số chính sách (đặc biệt là chính sách
mang tính định hướng, xây dựng chỉ tiêu tái chế CTR); Thiếu
một số chính sách quan trọng hỗ trợ toàn diện cho các khâu tổ
chức sản xuất của hoạt động tái chế (bao gồm chính sách tạo
nguyên liệu, kiểm soát chất lượng sản xuất và sản phẩm, hỗ trợ
tiêu thụ sản phẩm); Hệ thống văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm
thực hiện chính sách khung được xây dựng chưa đầy đủ, chưa
kịp thời và chưa có những chính sách riêng cho các loại nguyên
liệu tái chế đặc thù.
Hoạt động tái chế đã xuất hiện từ lâu trên địa bàn Hà Nội,
chiếm khoảng 15% tổng số lượng CTR cần xử lý. Tuy nhiên,