Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Hoàn thuế GTGT được triển khai từ đầu năm 1999 cùng với việc áp
dụng Luật thuế GTGT nhằm giải quyết một phần khó khăn của doanh nghiệp
khi đầu tư, thực hiện các chiến lược thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu. Sau
hơn 3 năm thực hiện, bên cạnh tính ưu việt, cơ chế hoàn thuế đầu vào đã bộc
lộ không ít nhược điểm, tạo kẽ hở cho sự gian lận chiếm đoạt tiền hoàn thuế
của NSNN.
Năm 2002 thực sự là năm của những vấn đề về hoàn thuế GTGT phát
sinh và được công luận quan tâm chú ý. Sau một số vụ việc gian lận hoàn thuế
lớn hàng trăm tỷ đồng bị phát hiện, các nhà hoạch định chính sách đã đặc biệt
quan tâm nghiên cứu những hạn chế của nghiệp vụ hoàn thuế. Với chỉ thị
19/2002/CT-TTg ngày 13/09/2002, thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo cả bộ máy
nhà nước tấn công vào lĩnh vực gian lận hoàn thuế GTGT. Các văn bản của
Chính phủ, Bộ Tài Chính ban hành sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tăng
cường công tác quản lý, chống thất thoát qua hoàn thuế đã được triển khai thi
hành. Chính từ thực tiễn này, chúng ta mới nhận thấy rằng hoàn thuế và chống
gian lận hoàn thuế GTGT đã trở thành một vấn đề hết sức nóng bỏng và nan
giải.
Hoàn thành trong đầu năm 2003, đề tài “Hoàn thiện công tác hoàn
thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngành Giao thông-Xây dựng trên
địa bàn Thành Phố Hà Nội” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần
vào việc đi tìm giải pháp cho vấn đề hoàn thuế GTGT hiện nay.
Luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện công tác hoàn thuế GTGT đối với các
doanh nghiệp ngành Giao thông-Xây dựng trên địa bàn Thành Phố Hà Nội” do
sinh viên Vũ Hồng Hạnh thực hiện, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo
Nguyễn Thị Liên. Luận văn nghiên cứu những lý luận chung về hoàn thuế
Học Viện Tài Chính
1
HOÀN THUẾ VÀ HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH GIAO THÔNG - XÂY DỰNG
TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOÀN THUẾ VÀ HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH GIAO THÔNG-XÂY DỰNG
1.1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÀN THUẾ
1.1.1.1 Khái niệm
Thuế và Nhà nước là hai cặp phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Lịch sử
phát triển của loài người đã chứng minh, thuế ra đời là một sự cần thiết khách
quan gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Với hai chức năng chủ
yếu là đảm bảo nguồn thu cho NSNN và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế được
các quốc gia trên thế giới sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu.
Khi xây dựng một hệ thống thuế, thách thức lớn nhất với những nhà
hoạch định chính sách là làm thế nào người nộp thuế cảm nhận được sự công
bằng, mà vẫn đảm bảo số thu cần thiết. Vì thế, mỗi nội dung, phương diện của
một sắc thuế cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và điều chỉnh kịp thời. Hoàn thuế
là một nội dung đang được quan tâm trong các sắc thuế hiện hành ở Việt Nam.
Hoàn thuế là việc NSNN hoàn trả cho đối tượng nộp thuế (ĐTNT)
khoản thuế đã nộp theo những điều kiện nhất định trong các luật thuế.
Th ông thường, hoàn thuế được thực hiện trong các trường hợp sau:
- ĐTNT nộp quá số thuế phải nộp theo quy định do có sự nhầm lẫn, sai sót
trong tính toán số thuế phải nộp
Học Viện Tài Chính
3
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
- ĐTNT đã nộp thuế nhưng trên thực tế không phát sinh hoạt động chịu
thuế hay có phát sinh nhưng mức độ thấp hơn.
- ĐTNT đã nộp thuế thừa, sau đó không còn tồn tại tư cách pháp nhân (chia
tách, giải thể, hợp nhất…).
Vốn là máu của doanh nghiệp. Một ý tưởng dù hay đến đâu cũng cần có
tiền để biến ý tưởng đó thành lợi nhuận. Cần phải có đủ vốn để tổ chức một
doanh nghiệp, đảm bảo các công trình cần thiết, máy móc và thiết bị, mua
nguyên vật liệu, đáp ứng những chi phí quảng cáo và tiêu thụ, chi trả nhân
công và trang trải vô số chi phí khác phát sinh trong quá trình hình thành một
doanh nghiệp. Ngoài ra cũng cần có đủ vốn để tiến hành kinh doanh, đạt được
mục tiêu mong muốn và không ngừng phát triển trong tương lai.
Không chỉ khi mới bắt đầu hình hành sản xuất, doanh nghiệp phải ứng
trước một lượng vốn nhất định khi chưa có doanh thu, mà trong suốt quá trình
hoạt động sau này, vốn sản xuất cũng bị ứ đọng ở các khâu: dự trữ nguyên vật
liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… Nhằm trợ giúp các doanh nghiệp
đầu tư mở rộng kinh doanh, Nhà nước thực hiện hoàn thuế tạo điều kiện cho
doanh nghiệp thu hồi vốn đã ứng trước.
VD : Luật thuế GTGT quy định các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên
tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có lũy kế số thuế đầu vào lớn hơn
số thuế đầu ra được hoàn thuế. Số thuế được là số thuế đầu vào chưa được
khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.
Th ực hiện các định hướng phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước
Nhằm ưu đãi hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Nhà nước cho
phép hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư nước ngoài dùng
thu nhập được chia để tái đầu tư.
Học Viện Tài Chính
5
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
Ngoài ra, những hàng hóa được mua để sử dụng cho mục đích nhân đạo
cũng được xét hoàn thuế. Luật thuế GTGT quy định tổ chức Việt Nam dùng
tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức cá nhân nước ngoài
để mua hàng hóa tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã trả ghi trên
hóa đơn mua hàng.
thuế GTGT đầu vào đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà ĐTNT chưa được
khấu trừ trong kỳ tính thuế.
Một số nguyên nhân dẫn đến số thuế GTGT đầu vào lớn hơn số thuế
GTGT đầu ra (hiện tượng thuế âm):
- Việc quy định áp dụng thuế suất đầu ra là 0% đối với các hàng hóa
xuất khẩu, trong khi đầu vào nằm trong các sản phẩm đã có thuế, vì
vậy dẫn đến hiện tượng thuế âm.
- Do sự chênh lệch về thuế suất giữa nguyên liệu đầu vào và hàng hóa,
dịch vụ bán ra, cụ thể là thuế suất đầu vào lớn hơn thuế suất đầu ra.
VD: Đối với hoạt động xây dựng lắp đặt, thuế suất thuế GTGT quy định cho
giá trị xây lắp và giá trị thiết bị cung cấp là 5% (đầu ra), nhưng thuế suất của
hầu hết các nguyên vật liệu đầu vào là 10%.
- Do sự không trùng hợp giữa thời gian nhập hàng với thời gian xuất
bán, hiện tượng này xảy ra chủ yếu đối với các loại hàng hóa mang
tính thời vụ.
- Do sự biến động của thị trường dẫn đến hiện tượng giảm giá làm cho
số thuế thu trước vượt quá số thuế thực phải thu. Nguyên nhân này
một phần xuất phát từ nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu và các yếu tố
sản xuất của doanh nghiệp.
- Do doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa hoặc có nhận ủy thác nhập
khẩu với số lượng lớn nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
Học Viện Tài Chính
7
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
doanh hàng hóa chịu thuế GTGT, trong thời gian chưa đến kỳ tiêu
thụ, sẽ làm cho số thuế GTGT đầu vào hàng nhập khẩu lớn hơn số
thuế GTGT đầu ra phải nộp.
1.1.2.2 Quy định về đối tượng và các trường hợp được xét hoàn
thuế, hồ sơ hoàn thuế
Bao gồm:
+ Số, ngày tờ khai xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu hay hợp đồng xuất
khẩu, hợp đồng ủy thác xuất khẩu.
+ Số, ngày chứng từ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, hoạt động
xây dựng lắp đắt công trình ở nước ngoài và của doanh nghiệp chế xuất qua
Ngân hàng, ghi rõ hình thức và đồng tiền thanh toán.
+ Số, ngày biên bản thanh lý hợp đồng ủy thác xuất khẩu.
+ Xuất khẩu hàng hóa theo đường biên giới đất liền, đường biển, đường
hàng không, tên nước nhập khẩu.
(3) Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải
thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan
Thuế hoàn lại số thuế GTGT nộp thừa.
Hồ sơ hoàn thuế quy định cho trường hợp (3) như sau
- Công văn đề nghị hoàn thuế GTGT nộp thừa vào NSNN.
- Quyết định sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản của cấp có
thẩm quyền.
- Quyết toán thuế GTGT đến thời điểm sáp nhập, giải thể.
(4) Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật.
(5) Hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ODA
Học Viện Tài Chính
9
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
- Chủ dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại mua hàng hóa, dịch vụ từ
các nhà cung cấp trong nước có thuế GTGT để sử dụng cho các dự án này.
- Nhà thầu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thuế sử dụng vốn ODA không hoàn lại cung cấp các hàng hóa, dịch
vụ cho các dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại không phải tính thuế
GTGT đầu ra nhưng được tính khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào
13/09/2002 sửa đổi bổ sung Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000.
Bên cạnh đó, Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày
18/09/2002 sửa đổi bổ sung thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000.
Khác với các văn bản được ban hành trước đây, thông tư số
82/2002/TT-BTC đã có sự thay đổi lớn về cách thức hoàn thuế GTGT, quy
định chặt chẽ hơn nhằm chống hoàn thuế GTGT khống, hạn chế thất thoát
NSNN. Thay vì cách thức hoàn thuế trước kiểm tra sau thông thường, việc
hoàn thuế GTGT sẽ được tiến hành theo hai phương thức : “hoàn thuế trước,
kiểm tra sau” và “kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế”
Theo thông tư số 82/2002/TT-BTC đối tượng hoàn thuế được phân loại
như sau :
• Đố i tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế
- Cơ sở kinh doanh mới thành lập có thời gian kinh doanh dưới 1 năm, đề
nghị hoàn thuế lần đầu.
- Cơ sở kinh doanh đã có các hành vi vi phạm gian lận về thuế GTGT như
sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp; Bán hàng hóa, dịch vụ
không lập hóa đơn, không kê khai nộp thuế GTGT; Hàng hóa bán trong
nước nhưng kê khai là xuất khẩu để hưởng thuế suất 0%; Các hành vi
gian lận khác nhằm chiếm đoạt tiền thuế của NSNN…
Học Viện Tài Chính
11
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
Đối với các trường hợp có hành vi gian lận về thuế GTGT, sau thời gian
12 tháng nếu đã chấp hành tốt các quy định của Luật thuế, chế độ quản lý sử
dụng hóa đơn, chứng từ sẽ được áp dụng hoàn thuế trước, kiểm tra sau. Cơ
quan Thuế sẽ xem xét cụ thể các trường hợp này.
- Cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa là nông sản, lâm sản, thủy hải sản
chưa qua chế biến theo đường biên giới đất liền.
- Cơ sở kinh doanh chia tách, giải thể, phá sản.
2. Kiểm tra thủ tục, hồ sơ hoàn thuế
Khi nhận hồ sơ do bộ phận hành chính chuyển sang, bộ phận quản lý
thực hiện kiểm tra các nội dung :
- Kiểm tra thủ tục hồ sơ hoàn thuế theo quy định tại các văn bản pháp luật
về thuế GTGT.
- Kiểm tra về đối tượng và trường hợp đề nghị hoàn thuế.
- Kiểm tra các chỉ tiêu, số liệu tổng hợp và chi tiết liên quan đến số thuế
GTGT đề nghị hoàn trên hồ sơ của đối tượng.
Trường hợp kiểm tra hồ sơ hoàn thuế nếu thấy chưa lập đầy đủ, đúng
quy định, Cơ quan Thuế phải thông báo bằng văn bản yêu cầu đối tượng hoàn
thuế bổ sung.
3. Phân loại đối tượng hoàn thuế
Đối với hồ sơ hoàn thuế lập đầy đủ, đúng quy định, bộ phận quản lý
phận loại đối tượng hoàn thuế theo quy định.
4. Kiểm tra xác định số thuế được hoàn
Đối tượng áp dụng hoàn thuế trước, kiểm tra sau
Học Viện Tài Chính
13
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
Đối chiếu số liệu liên quan giữa số thuế GTGT đề nghị hoàn; Biểu kê
khai tổng hợp thuế GTGT đầu ra; thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và chưa
được khấu trừ hết với Tờ khai nộp thuế GTGT tháng; quyết toán thuế của năm
có liên quan, các bảng kê chi tiết hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào bán ra…
Đối tượng áp dụng kiểm tra thanh tra trước khi hoàn thuế
Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra, quyết định xử lý vi phạm (nếu
có), nếu đối tượng đã thực hiện các quyết định xử lý vi phạm của Cơ quan
Thuế thì phòng Quản lý thu trình lãnh đạo Cục Thuế ra quyết định hoàn thuế
theo số thuế được hoàn xác định lại qua kiểm tra, thanh tra.
5. Ra quyết định hoàn thuế
thuế, hoàn thuế không đúng, Cơ quan Thuế sẽ truy thu kịp thời vào NSNN.
Trường hợp vi phạm nghiêm trọng phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của Pháp luật, cơ quan Thuế lập đầy đủ hồ sơ theo quy định chuyển cho
các cơ quan chức năng xử lý.
• Tr ách nhiêm của Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện
chi hoàn thuế cho các đối tượng trong thời gian 3 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định hoàn thuế và ủy nhiệm chi của Cơ quan Thuế.
1.2 HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH
GIAO THÔNG-XÂY DỰNG
1.2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, KỸ THUẬT CỦA NGÀNH GIAO THÔNG-XÂY DỰNG
Ng ành Xây Dựng
Xây dựng là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn nhất của nền
kinh tế quốc dân, có nhiệm vụ tái sản xuất các tài sản cố định cho mọi lĩnh vực
Học Viện Tài Chính
15
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
sản xuất của đất nước. Hàng năm, ngành xây dựng sử dụng một lượng vốn lớn
của xã hội và cũng đóng góp đáng kể vào giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân. Công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này ngày càng
được coi trọng.
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản
xuất và quản lý kinh tế trong xây dựng, làm cho công việc này có những sắc
màu riêng không giống với các ngành sản xuất vật chất khác. Sản phẩm xây
dựng với tư cách là một công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có các tính
chất sau :
- Sản phẩm của xây dựng là những công trình nhà cửa được xây dựng và
sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn
ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có
thành thị trường và phát triển kinh tế. Nó mang những đặc thù riêng khác với
những ngành sản xuất vật chất khác.
- Ngành giao thông vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất, những nó làm
thay đổi địa điểm các sản phẩm vật chất. Sự thay đổi địa điểm đó tạo ra
mối liên hệ không gian, được biểu hiện cụ thể bằng các tuyến đường và
được dừng lại ở sân ga, cảng, bến xe, sân bay… mà sau đó tiếp tục
chuyển đến các địa điểm sản xuất hoặc tiêu dùng để hoàn tất quá trình
sản xuất hoặc lưu thông.
- Giao thông vận tải là sự tiếp tục của một quá trình sản xuất ở bên trong
quá trình lưu thông. Trong quá trình lưu thông giá trị do vận tải tạo ra
được cộng thêm vào giá trị sản phẩm cần vận chuyển.
- Giao thông vận tải bao gồm nhiều loại, nhiều phương thức vận chuyển
khác nhau với những đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau , bổ sung cho
nhau và khắc phục ưu nhược điểm của nhau.
- So với các ngành nông nghiệp, công nghiệp thì không gian và phạm vi
phân bố của ngành giao thông vận tải rất rộng. Nó không chỉ đóng
Học Viện Tài Chính
17
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
khung và có ý nghĩa trong một vùng, một nước, mà còn có ý nghĩa quốc
tế.
Cùng với nhu cầu phát triển của nền kinh tế, phạm vi hoạt động của
ngành giao thông không ngừng mở rộng, bao gồm hoạt động vận tải đường bộ,
đường sắt, đường sông, đường biển, đường hàng không, đường ống … Nhưng
để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hiện đại, ngành giao thông cần tiếp tục
được đầu tư và tăng cường công tác quản lý Nhà nước để phát huy vai trò cấu
trúc hạ tầng của mình đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Trên đây là những giới thiệu khái quát về ngành Giao Thông và Xây
Dựng, những ngành sản xuất trọng yếu của nền kinh tế. Với quy mô và phạm
dụng vốn ODA gồm các công ty xây dựng công trình ngành Giao thông
và các công ty xây dựng các dự án lớn ngành Xây dựng. Thông thường
các dự án được nguồn vốn ODA tài trợ có nhiều bên tham gia thi công
như chủ dự án, nhà thầu chính, nhà thầu phụ…nên quy trình hoàn thuế
khá phức tạp.
Các trường hợp hoàn thuế khác theo luật quy định ít khi xảy ra.
Do đặc tính kinh tế-kỹ thuật của ngành Giao thông-Xây dựng, cơ chế
hoàn thuế GTGT cũng mang những đặc điểm riêng.
S ố thuế được hoàn thường lớn
Các sản phẩm xây dựng thường có giá trị sử dụng lớn cả về công dụng
và thời gian nên quá trình tạo ra sản phẩm cũng tốn kém về nhiều mặt. Khâu
nguyên liệu đầu vào đòi hỏi các chi phí rất lớn. Trong giai đoạn thi công dài
hạn để hoàn thành sản phẩm, thuế đầu vào lớn hơn đầu ra ngày càng lớn sẽ dẫn
đến số hoàn thuế lớn. So với các ngành sản xuất khác, chi phí cho khâu đầu
vào của ngành xây dựng lớn hơn nhiều do bị chi phối bởi tính phức tạp của kết
cấu và quy mô các công trình XDCB. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cho công
tác kiểm tra phải rà soát kỹ lưỡng, thực hiện đúng quy trình để ngăn chặn kịp
thời sai phạm, tránh thất thoát, thiệt hại cho NSNN.
Học Viện Tài Chính
19
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
M ột sản phẩm hoàn thành có thể được hoàn thuế nhiều lần .
Các dự án xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo hạng mục công
trình hoặc giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao và do nhiều đơn vị
thi công hoàn thành. Đối với những dự án lớn như xây dựng các công trình
giao thông, xây dựng sân vận động…thường tiến hành thanh toán theo từng
hạng mục công trình. Như vậy, hoàn thuế có thể phát sinh cho từng hạng mục
công trình hoàn thành, không nhất thiết phải có cả công trình xây dựng hoàn
thành. Và cùng một sản phẩm xây dựng có thể là đối tượng hoàn thuế cho
tại địa phương nơi xây dựng và toàn bộ đầu vào được kê hết về cục thuế
nơi đặt trụ sở chính chưa được thực hiện thống nhất trong cả nước. Điều
này gây ra nhiều khó khăn, phức tạp cho cả cơ quan Thuế và đối tượng
hoàn thuế .
- Do đặc thù của mô hình sản xuất một số Tổng công ty xây dựng lớn có
thể vừa là đơn vị tổng thầu, vừa là đơn vị trực tiếp thi công (cơ quan
tổng công ty có các đơn vị thi công trực thuộc) hợp đồng thi công thực
hiện trọn gói cho các thầu phụ nhưng một số vật tư và thiết bị chuyên
dùng lại do cơ quan của Tổng công ty cung cấp. Như vậy, các tổng công
ty này vừa là thầu chính, vừa là thầu phụ của các đơn vị thi công, và
cũng phát sinh các khoản thu do cung cấp vật tư, thiết bị và lao vụ khác
cho các thầu phụ. Hình thức thanh toán cho đơn vị thi công trọn gói sẽ
tạo ra nhiều phức tạp cho công tác kế toán thuế và cơ chế hậu kiểm tại
các loại hình đơn vị này.
Qua những phân tích trên đây có thể nhận thấy rằng, hoàn thuế GTGT
trong ngành Giao thông- Xây dựng là hết sức phức tạp và còn không ít vướng
mắc. Vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện công tác hoàn thuế nhằm đáp ứng yêu
cầu và mục đích của việc hoàn thuế GTGT.
Học Viện Tài Chính
21
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH GIAO THÔNG-XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
2.1 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT VÀ HOÀN THUẾ
GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
2.1.1 BỘ MÁY QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI
• Ph òng Hành chính :
Bộ phận hành chính có trách nhiệm nhận, ghi rõ ngày, đóng dấu, phân
Xử lý bằng tin học việc tính thuế, tính nợ, phạt nộp chậm, in thông báo
thuế…Tổng hợp tình hình thu nộp thuế GTGT của đối tượng nộp thuế theo các
chỉ tiêu khác nhau để cung cấp thông tin cho các phòng quản lý thu, phòng
thanh tra, phòng nghiệp vụ thực hiện các biện pháp quản lý thu nộp thuế.
Học Viện Tài Chính
23
Vũ Hồng Hạnh Luận Văn TốtNghiệp
Căn cứ kết quả xét miễn giảm, kết quả thanh tra kiểm tra hoàn thuế và
số liệu liên quan đến hoàn thuế GTGT điều chỉnh số thuế phải nộp cho kỳ tính
thuế sau.
Nhận, nhập chứng từ hoàn thuế từ Kho bạc Nhà nước, lưu chứng từ tại
phòng, kiểm tra số thuế đã hoàn theo các đối tượng, quyết định hoàn thuế.
Phòng xử lý thông tin và tin học lập báo cáo hoàn thuế theo chế độ báo cáo
hiện hành.
• Ph òng Kế hoạch thống kê
Căn cứ vào tình hình tăng trưởng KT-XH của từng lĩnh vực, ngành nghề
phân tích số liệu thống kê thuế lập dự toán thu thuế hàng năm cho Cục thuế Hà
Nội. Tham mưu cho lãnh đạo cục về khai thác nguồn thu, bồi dưỡng nguồn thu
và biện pháp chỉ đạo thu.
Trong công tác hoàn thuế GTGT: lưu hành các qui định hoàn thuế. Căn
cứ vào qui định hoàn thuế lập ủy nhiệm chi hoàn thuế gửi kho bạc Nhà nước
Tỉnh, Thành phố .
• Ph òng thanh tra xử lý tố tụng:
Kiểm tra việc chấp hành các qui định về quản lý thu và tính thuế của các
bộ phận quản lý thu. Kiểm tra đối tượng nộp thuế có dấu hiệu vi phạm khai
man, trốn lậu thuế, đề xuất các hình thức xử lý theo pháp luật.
Phối hợp với phòng nghiệp vụ, phòng quản lý thu trong hoạt động thanh
tra sau hoàn thuế. Thực hiện quyết định kiểm tra, lập kế hoạch kiểm tra và xử
lý kết quả kiểm tra.
Nội trong công tác quản lý thu thuế GTGT.
Kết quả thu thuế GTGT năm 2001-2002
Đơn vị : tỷ đồng
Học Viện Tài Chính
25