HOÀN THUẾ VÀ HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH
GIAO THÔNG - XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOÀN THUẾ VÀ HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP NGÀNH GIAO THÔNG-XÂY DỰNG
1.1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÀN THUẾ
1.1.1.1 Khái niệm
Thuế và Nhà nước là hai cặp phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Lịch sử phát
triển của loài người đã chứng minh, thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan gắn
liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Với hai chức năng chủ yếu là đảm
bảo nguồn thu cho NSNN và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế được các quốc gia trên
thế giới sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu.
Khi xây dựng một hệ thống thuế, thách thức lớn nhất với những nhà
hoạch định chính sách là làm thế nào người nộp thuế cảm nhận được sự công
bằng, mà vẫn đảm bảo số thu cần thiết. Vì thế, mỗi nội dung, phương diện của
một sắc thuế cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và điều chỉnh kịp thời. Hoàn thuế là
một nội dung đang được quan tâm trong các sắc thuế hiện hành ở Việt Nam.
Hoàn thuế là việc NSNN hoàn trả cho đối tượng nộp thuế (ĐTNT) khoản
thuế đã nộp theo những điều kiện nhất định trong các luật thuế.
Thông thường, hoàn thuế được thực hiện trong các trường hợp sau:
- ĐTNT nộp quá số thuế phải nộp theo quy định do có sự nhầm lẫn, sai sót
trong tính toán số thuế phải nộp
- ĐTNT đã nộp thuế nhưng trên thực tế không phát sinh hoạt động chịu thuế
hay có phát sinh nhưng mức độ thấp hơn.
- ĐTNT đã nộp thuế thừa, sau đó không còn tồn tại tư cách pháp nhân (chia
tách, giải thể, hợp nhất…).
- ĐTNT GTGT theo phương pháp khấu trừ có số thuế đầu vào lớn hơn số
thuế đầu ra trong các trường hợp do pháp luật thuế GTGT quy định được xét
hoàn thuế.
- ĐTNT được hưởng các ưu đãi đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Khi các ĐTNT có đủ điều kiện, NSNN sẽ tiến hành hoàn thuế theo hai
cách:
liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… Nhằm trợ giúp các doanh nghiệp đầu
tư mở rộng kinh doanh, Nhà nước thực hiện hoàn thuế tạo điều kiện cho doanh
nghiệp thu hồi vốn đã ứng trước.
VD : Luật thuế GTGT quy định các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên
tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có lũy kế số thuế đầu vào lớn hơn
số thuế đầu ra được hoàn thuế. Số thuế được là số thuế đầu vào chưa được khấu
trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.
Thực hiện các định hướng phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước
Nhằm ưu đãi hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Nhà nước cho
phép hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư nước ngoài dùng thu
nhập được chia để tái đầu tư.
Ngoài ra, những hàng hóa được mua để sử dụng cho mục đích nhân đạo
cũng được xét hoàn thuế. Luật thuế GTGT quy định tổ chức Việt Nam dùng tiền
viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức cá nhân nước ngoài để mua
hàng hóa tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn
mua hàng.
Trên nguyên tắc, thuế gián thu không điều tiết với những hàng hóa xuất khẩu
(là những hàng hóa được sản xuất trong nước nhưng sẽ tiêu dùng ở nước ngoài). Vì
vậy, toàn bộ số thuế đầu vào nằm trong hàng hóa này sẽ được xét hoàn lại. Nhằm
khuyến khích hoạt động xuất khẩu, Nhà nước áp dụng mức thuế suất 0% cho
những hàng hóa xuất khẩu. Đây là một lợi thế rất lớn cho các đơn vị xuất khẩu khi
không phải nộp thuế đầu ra, lại được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào. Các yếu tố đầu
vào (như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) không chịu gánh nặng của thuế sẽ
tạo nên chi phí sản phẩm thấp hơn mức thông thường. Doanh nghiệp có thể tận
dụng nguồn vốn để sản xuất với số lượng lớn hơn, nâng cao chất lượng, hạ giá
thành của sản sản phẩm. Điều này nâng cao khả năng cạnh tranh về giá của các sản
phẩm xuất khẩu, tạo chỗ đứng và uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường trong
nước, quốc tế.
1.1.2 HOÀN THUẾ GTGT
1.1.2.1 Khái niệm
GTGT, trong thời gian chưa đến kỳ tiêu thụ, sẽ làm cho số thuế GTGT đầu vào
hàng nhập khẩu lớn hơn số thuế GTGT đầu ra phải nộp.
1.1.2.2 Quy định về đối tượng và các trường hợp được xét hoàn thuế,
hồ sơ hoàn thuế
Luật thuế GTGT quy định có 7 trường hợp cơ quan Thuế phải tiến hành
các thủ tục hoàn thuế cho đối tượng nộp thuế, đó là :
(1) Cơ sở kinh doanh thuộc ĐTNT theo phương pháp khấu trừ thuế được xét
hoàn thuế trong các trường hợp có lũy kế số thuế đầu vào được khấu trừ âm
trong 3 tháng liên tục, kể cả do xuất khẩu hay kinh doanh trong nước.
Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa xuất khẩu nếu số thuế GTGT
đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo
tháng, hay chuyến hàng ( nếu xác định được thuế GTGT đầu vào riêng của
chuyến hàng ).
(2) Đối với cơ sở mới thành lập, đầu tư tài sản mới đã đăng ký nộp thuế theo
phương pháp khấu trừ nhưng chưa phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế
GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào
theo từng năm. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn
từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo từng quý.
Hồ sơ hoàn thuế quy định cho trường hợp (1) và (2) như sau
- Công văn đề nghị hoàn thuế GTGT nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị
hoàn, thời gian hoàn…
- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu
trừ, số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn đầu ra đề nghị hoàn lại.
- Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ liên quan đến việc xác
định thuế GTGT đầu vào, đầu ra.
- Trường hợp hoàn thuế cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, hoạt động xây dựng,
lắp đặt công trình ở nước ngoài và của doanh nghiệp chế xuất thì phải có bảng kê
các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở.
Bao gồm:
+ Số, ngày tờ khai xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu hay hợp đồng xuất
đầu tư không hoàn trả) thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT.
(6) Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn
lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa tại Việt Nam thì được hoàn
lại tiền thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng.
Hồ sơ hoàn thuế quy định cho trường hợp (6) như sau
- Hồ sơ quy định cho trường hợp (1).