I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
ON NGC SN
BảO Vệ NGƯờI LàM CHứNG, NGƯờI Bị HạI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2019
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
ON NGC SN
BảO Vệ NGƯờI LàM CHứNG, NGƯờI Bị HạI
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 8380101.03
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TSKH. Lấ VN CM
H NI - 2019
1.2.
Ý nghĩa của việc bảo vệ ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại trong
tố tụng hình sự .................................................................................. 14
1.3.
Cơ sở của việc quy định chế định bảo vệ ngƣời làm chứng
trong TTHS Việt Nam...................................................................... 16
1.3.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................... 16
1.3.2. Cơ sở pháp lý...................................................................................... 17
1.3.3. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... 22
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 25
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƢỜI
LÀM CHỨNG, NGƢỜI BỊ HẠI TRONG PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
(GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2012-2017) ............................................... 26
2.1.
Các quy định về bảo vệ ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại trong
tố tụng hình sự hiện hành ................................................................ 26
2.1.1. Quy định của BLTTHS năm 2003 về bảo vệ người làm chứng,
người bị hại......................................................................................... 26
2.1.2. Quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người làm chứng,
người bị hại......................................................................................... 28
Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2003 về
bảo vệ ngƣời làm chứng, ngƣời bị hại trên địa thành phố Hải
Phòng từ năm 2012 đến năm 2017 .................................................. 39
2.2.1. Những kết quả đạt được trong việc bảo vệ người làm chứng,
người bị hại tại thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2017 ... 39
2.2.2. Những hạn chế trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS về
Bộ luật tố tụng hình sự
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
ĐTV:
Điều tra viên
TTHS:
Tố tụng hình sự.
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Số liệu các vụ phạm pháp hình sự thụ lý của Công an
thành phố Hải Phòng từ năm 2012 đến năm 2017
40
Số liệu các vụ án được đưa ra xét xử tại TP Hải Phòng
từ năm 2012 đến năm 2017
thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự,
nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng
những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật. Đây là quy
1
định mang tính nguyên tắc, việc triển khai và thực hiện nguyên tắc này thiếu
những quy định cụ thể, Bộ luật TTHS năm 2003 chưa quy định về các biện
pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ… Vì
vậy, những quy đinh
̣ của pháp lu ật TTHS năm 2003 về b ảo vệ người làm
chứng, người bị hại chưa thực sự đi vào đời số ng. Thực tiễn trên cho thấ y viê ̣c
áp dụng các quy đ ịnh của Bộ luật TTHS năm 2003 về b ảo vệ người làm
chứng, người bị hại đã bô ̣c lô ̣ nhiề u vướng mắ c, bấ t câ ̣p.
Bộ luật TTHS năm 2015 đã được Quố c hô ̣i thông qua ngày 27/11/2015
với những ghi nhâ ̣n mới mang tính hoàn thi
ện, khắc phục những hạn chế
vướng mắc trong quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về bảo vệ người làm
chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác. Trong bối cảnh Bộ
luật TTHS năm 2015 mới được ban hành và có hiệu lực áp dụng trên thực tiễn
từ ngày 01/01/2018. Vì vậy việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận, phân tích đánh giá các quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về bảo vệ
người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, đồng
thời chỉ ra những hạn chế trong quy định của Bộ luật TTHS năm 2015, trên
cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật TTHS
về bảo vệ người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng
khác, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một nhu cầu
tố tụng hình sự Việt Nam” - Luận văn thạc sĩ luật học (Trường Đại học Luật
TP. Hồ Chí Minh).
Nguyễn Quang Hiền (2011), “Bảo vệ quyền con người của bị hại trong
tố tụng hình sự” – Tạp chí Tòa án nhân dân (số 13).
Võ Thị Kim Oanh, Đinh Văn Đoàn (2015), “Hoàn thiện quy định của
bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm
chứng, người bị hại” – Tạp chí Khoa học Pháp lý, Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh (số 08).
Nhìn chung, các công trình này đã đưa ra một số vấn đề lý luận cũng
như các giải pháp pháp lý, các giải pháp thực tế và ở mức độ nhất định, giá trị
3
khoa học mà các đề tài mang lại là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, một số đề
tài đã thực hiện trong thời gian đã lâu và chưa đặt trong bối cảnh sửa đổi Bộ
luật TTHS năm 2003. Một số tác giả cũng chỉ nghiên cứu, nhìn nhận một
cách riêng biệt mà chưa đặt trong tổng thể chung, chuyên sâu, toàn diện về
trường hợp bảo vệ người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng
khác. Riêng đề tài “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại” của
02 tác giả: Võ Thị Kim Oanh và Đinh Văn Đoàn đã đặt trong giai đoạn sửa
đổi BLTTHS với những kiến nghị hoàn thiện BLTTHS năm 2003 và những
kiến nghị mới trong Dự thảo BLTTHS sửa đổi. Chính vì những kiến nghị của
những bài nghiên cứu trên, BLTTHS năm 2015 đã được ban hành và chế định
bảo vệ người tố giác, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác
được quy định riêng biệt, tuy nhiên với những sửa đổi, bổ sung lần này liên
quan đến vấn đề trên còn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, lần đầu tiên nội dung, mục tiêu và
định hướng này sẽ được tác giả tiếp cận nghiên cứu một cách tương đối
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến bảo vệ
người làm chứng, người bị hại. Thời gian khảo sát thực tiễn của luận văn từ
năm 2012 đến năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả dựa trên cơ sở phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm
phương pháp luận để nghiên cứu, triển khai đề tài luận văn.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm:
Phương pháp phân tích: được sử dụng để làm sáng tỏ lý luận về các
vấn đề có liên quan đến bảo vệ người làm chứng, người bị hại;
Phương pháp tổng hợp: sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm khoa
học khác nhau về các các vấn đề có liên quan đến bảo vệ người làm chứng,
người bị hại;
5
Phương pháp thống kê và vụ việc điển hình: sử dụng để làm rõ thực
tiễn áp dụng luật tố tụng hình sự đối với các các vấn đề có liên quan đến bảo
vệ người làm chứng, người bị hại.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về ý nghĩa lý luận: Luận văn được nghiên cứu nhằm góp phần
hoàn thiện cơ sở lý luận về các vấn đề có liên quan đến bảo vệ người làm
chứng, người bị hại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Về ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá một cách khách quan,
trung thực các quy định về các vấn đề có liên quan đến vệ người làm chứng,
người bị hại, cũng như việc áp dụng các quy định này ở Hải Phòng trong giai
đoạn hiện nay cũng như đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự đối với vấn đề này.
7. Cấu trúc của luận văn
1) Về khái niệm người làm chứng
Theo từ điển Luật học, “Người làm chứng” là “người nào biết được
những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm
chứng” [22, tr.343]. Khái niệm này chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa khái
niệm người làm chứng với điều kiện để trở thành một người làm chứng.
Theo Giáo trình Luật TTHS trường Đại học Luật Hà Nội thì người làm
chứng được định nghĩa như sau: “Người làm chứng là người biết được những
tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để
khai báo về những sự việc cần xác minh trong vụ án” [30, tr.145]. Đây có thể
coi là một định nghĩa khá hoàn chỉnh về người làm chứng vì đã nêu lên những
7
vấn đề cơ bản về điều kiện để một người trở thành người làm chứng cũng như
là nhiệm vụ khai báo của họ khi được triệu tập để tham gia tố tụng. Tuy
nhiên, việc chỉ nêu cơ quan có thẩm quyền triệu tập người làm chứng chỉ là
CQTHTT là chưa đầy đủ, vì ngoài ra còn có cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ
đội biên phòng...
Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh thì người làm chứng được định nghĩa: “Người làm chứng là người
biết được tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng” [31, tr.189]. Với quan điểm này thì
người làm chứng là người biết về các thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án,
được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập họ tham gia vào
các hoạt động tố tụng, có thể là tham gia vào các hoạt động điều tra hay tham
gia vào quá trình xét xử của Tòa án.
Bộ luật TTHS năm 2003 cũng không đưa ra khái niệm rõ ràng về người
làm chứng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 55, “Người làm chứng” là “Người
nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập
thông tin, tình tiết cần xác minh, làm rõ trong vụ án hình sự”.
2) Về khái niệm người bị hại
Theo cách hiểu thông thường, người bị hại có thể hiểu là con người cụ
thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự
tác động nào khác gây thiệt hại, mất mát, tổn thương cho chính họ. Thiệt hại
này có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người bị hại là “Người bị
thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị
hại có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần
hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân” [28, tr.198].
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật TTHS năm 2003: “Người bị
hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”.
9
Trước khi Bộ luật TTHS năm 2003 được sửa đổi, khái niệm người bị
hại không thống nhất với nhau, tồn tại những cách hiểu khác nhau. Cách
hiểu thứ nhất, được sử dụng khá phổ biến và chính thống trong hệ thống
giáo trình, tài liệu giảng dạy cho bậc đại học, sau đại học ở Việt Nam, cho
rằng người bị hại chỉ có thể là cá nhân. Giáo trình của trường Đại học Luật
Hà Nội [29, tr.118] khẳng định: “con người cụ thể bị hành vi phạm tội trực
tiếp xâm hại. Thể chất, tinh thần, tài sản của họ là đối tượng của tội phạm”
hoặc một số sách chuyên khảo, bình luận Bộ luật TTHS cũng khẳng định:
“Người bị hại trong TTHS chỉ có thể là một con người cụ thể, bị hành vi
phạm tội gây thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản” [1, tr.87]. Cách hiểu
thứ hai – đây cũng chính là quan điểm của các tác giả, cho rằng người bị hại
trong TTHS không chỉ bao gồm cá nhân (thể nhân) mà còn bao gồm tổ chức
(pháp nhân). Tiêu biểu cho quan điểm này là PGS.TS. Trần Hữu Tráng cho
rằng: “nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những hậu
và cá nhân có trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tổ chức, cá
nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm. Chính vì
vậy, người làm chứng, người bị hại có trách nhiệm tham gia vào quá trình tố
tụng, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền vì mục đích đi tìm sự thật khách
quan vụ án hình sự. Và ngược lại, người phạm tội luôn luôn với suy nghĩ và
mong muốn thoát khỏi sự trừng phạt, răn đe, giáo dục của pháp luật nên trên
thực tế người làm chứng, người bị hại bị tội phạm hoặc thân nhân của người
phạm tội mua chuộc bằng lợi ích vật chất; đe dọa, khống chế bằng việc lợi
dụng những điểm yếu về thể chất, bí mật đời tư hay trả thù, gây thiệt hại về thể
chất, tinh thần, tài sản cho người làm chứng, người bị hại và người thân thích
của họ dẫn đến trong nhiều vụ án hình sự người làm chứng, người bị hại tỏ ra e
ngại, bất hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền
trong các khâu phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và đó là một trong những
nguyên nhân khiến cho một số vụ án không được giải quyết triệt để.
11
Như vậy từ những phân tích trên có thể hiểu: Bảo vệ người làm chứng,
người bị hại là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật TTHS, áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người làm
chứng, người bị hại khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh
dự, nhân phẩm của họ bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do việc cung cấp
chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm nhằm mục đích khuyến
khích và nâng cao vai trò của họ nói riêng và người dân nói chung trong quá
trình đấu tranh phòng, chống tội phạm.
1.1.2. Các đặc điểm của bảo vệ người làm chứng, người bị hại trong
tố tụng hình sự
Như vậy, từ khái niệm trên chúng ta có thể nhận thấy, việc bảo vệ
người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác bao gồm các
dụng biện pháp bảo vệ hợp lý, linh hoạt để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của họ tốt nhất. Các biện pháp bảo vệ này được quy định trong Thông tư
liên tịch số 13/2013/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26 tháng
12 năm 2013, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự 2003 về bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của người làm chứng,
người tố giác tội phạm, người bị hại trong vụ án hình sự, và được luật hóa
trong BLTTHS năm 2015.
Bốn là, quyền và lợi ích của người được bảo vệ. Trong pháp luật tố
tụng hình sự, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác
có khả năng bị tội phạm xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại. Và khách thể mà tội
phạm muốn tác động đến sẽ liên quan tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự,
nhân phẩm của một cá nhân được bảo vệ. Bảo vệ người, người làm chứng,
người bị hại chính là bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho họ và đó cũng
chính là bảo vệ các quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.
13
Năm là, mục đích bảo vệ. Bảo vệ người làm chứng, người bị hại là
thực thi một số các nguyên nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của
pháp luật TTHS trong nhà nước pháp quyền (như: pháp chế, quyền con
người, quyền bất khả xâm phạm thân thể…) nhằm mục đích làm cho các quy
định của pháp luật TTHS quốc gia phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật
quốc tế. Từ đó làm cho quy định của pháp luật TTHS được tuân thủ, chấp
hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ
quan tiến hành tố tụng cũng như những người có chức vụ của các cơ quan
này trong thực tiễn. Bên cạnh đó, bảo vệ người làm chứng, người bị hại phải
nhằm mục đích góp phần tạo nên lòng tin của công dân và sự nghiêm minh
của pháp chế, sức mạnh và uy tín của hệ thống tư pháp hình sự, cũng như
chế hành vi vi phạm pháp luật, tránh được những thiệt hại cho lợi ích nhà
nước, xã hội và các cá nhân khác, đảm bảo kỷ cương pháp luật và trật tự an
toàn xã hội, đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự diễn ra một cách đúng đắn.
Thông qua việc quy định các biện pháp bảo đảm an toàn cho người làm
chứng, người bị hại và người thân thích của họ thì chế định này cũng là công
cụ răn đe các đối tượng đang có ý đồ, mục đích xâm phạm đến các quyền và
lợi ích hợp pháp của người làm chứng, người bị hại và người thân thích của
họ, đồng thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong việc cản trở, trả thù
những chủ thể trên.
Thứ ba, khi tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm
người làm chứng, người bị hại và người thân thích của họ luôn ở vị thế bị
động, họ khó có thể lường trước được những mối nguy hiểm có thể xảy ra
với họ. Do đó, việc cụ thể hóa chế định này trong pháp luật tố tụng hình sự
thể hiện sự quan tâm, bảo đảm an toàn cao nhất từ Nhà nước dành cho họ,
đồng thời phản ánh bản chất nhân đạo của Nhà nước, của chế độ Xã hội chủ
nghĩa. Bên cạnh đó, tạo niềm tin và khuyến khích họ nói riêng, toàn dân nói
15
chung chủ động, sẵn sàng, tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
1.3. Cơ sở của việc quy định chế định bảo vệ ngƣời làm chứng
trong TTHS Việt Nam
1.3.1. Cơ sở lý luận
Lịch sử nhân loại đã chứng minh ở mỗi thời đại, mỗi hình thái kinh tế,
xã hội nhất định, lòng khao khát tự do, bất khả xâm phạm về thân thể, bình
đẳng về công lý và công bằng xã hội luôn là cái đích mỗi con người hướng
tới, nhu cầu được bảo vệ cũng là một nhu cầu hết sức tự nhiên của con người.
Quyền con người nói chung và quyền của người làm chứng, người bị hại
1984, cùng hai Công ước quốc tế về quyền con người (Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa 1966) ghi nhận những nội dung liên quan đến bảo vệ quyền
con người nói chung, quyền của người bị tố giác, người làm chứng, người bị
hại trong tố tụng hình sự nói riêng. Các văn bản pháp lý quốc tế này được
xem như khuôn mẫu chung cho các quốc gia trong sự nghiệp bảo vệ quyền
con người của mình, là tiếng nói chung cho toàn thể nhân loại trên thế giới.
Ở Việt Nam, trải qua các bản Hiến pháp của Việt Nam, nội dung về bảo
vệ quyền con người luôn được chú trọng, cụ thể hóa một cách rõ ràng. Đặc
biệt, Hiến pháp 2013 là một bước đột phá, thể hiện sự tiến bộ trong tư duy
pháp lý của một nhà nước pháp quyền. Theo đó: Các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Mọi người có quyền bình
đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử. Mọi người có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm. Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật
17
gia đình; bí mật thư tín, điện thoại [20, tr.4-9]... Nhà nước có trách nhiệm đảm
bảo cũng như bảo vệ các quyền đó trên thực tiễn. Do đó, hơn bao giờ hết cần
phải có những cơ chế bảo vệ thích đáng xuất phát từ chính yêu cầu khách
quan của đời sống pháp luật về bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói
chung và bảo vệ người làm chứng, bị hại nói riêng, Việt Nam cần phải nghiên
cứu và hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bảo vệ người
làm chứng, người bị hại.
Trong pháp luật TTHS Việt Nam, lần đầu tiên Bộ luật TTHS năm 2003