Bảo đảm quyền của bị can trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng) - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VIỆT ANH

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VIỆT ANH

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải phòng)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUANG PHƢƠNG

HÀ NỘI - 2018



1.1.1. Khái niệm bị can .................................................................................. 6
1.1.2. Khái niệm quyền của bị can trong tố tụng hình sự .............................. 7
1.1.3. Khái niệm bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình sự ............... 9
1.2.

Các điều kiện bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình sự ....... 9

1.2.1. Điều kiện về các chủ thể tiến hành tố tụng .......................................... 9
1.2.2. Điều kiện về Luật sư và những người bổ trợ khác............................. 20
1.2.3. Điều kiện về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của các Cơ quan
tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền của bị can trong TTHS .... 27
1.2.4. Công tác phối hợp giữa các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
và Đoàn Luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý, Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam trong việc bảo đảm quyền của bị can trong TTHS ........ 33
1.2.5. Các điều kiện khác đảm bảo quyền của bị can trong TTHS .............. 36
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG .................................................. 41
2.1.

Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của bị can trong tố
tụng hình sự ...................................................................................... 41


2.1.1. Những quy định về quyền của bị can trong Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 ....................................................................................... 41
2.1.2. Quy định về các nguyên tắc trong hoạt động điều tra truy tố ............ 42
2.1.3. Quy định mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003
về bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình Việt Nam............... 44

trong TTHS trên địa bàn thành phố Hải Phòng ................................. 74
Nguyên nhân của những vi phạm, thiếu sót .................................. 75

2.4.1.
2.4.2.
2.4.3.
2.4.4.

2.5.


Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .................................. 76
3.1.

Các giải pháp đối với bị can nhằm bảo đảm quyền của bị can ... 76

3.1.1. Hoàn thiện quy định về quyền của bị can .......................................... 76
3.1.2. Hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng đối với bị can là người
chưa thành niên .................................................................................. 77
3.1.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, phố biến kiến thức pháp luật .......... 78
3.1.4. Các biện pháp giúp bị can nhận thức được đầy đủ các quyền của
họ trong tố tụng hình sự ..................................................................... 79
3.2.

Các giải pháp đối với Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng, ngƣời tiến hành tố tụng .......................................................... 80

3.2.1. Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng .... 80

Bộ luật Tố tụng hình sự

TAND

Tòa án nhân dân

THTT

Tiến hành tố tụng

TTHS

Tố tụng hình sự

VKS

Viện Kiểm sát

VKSND

Viện Kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Số vụ án có trợ giúp viên pháp lý tham gia trên địa bàn
thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến năm 2017

70

Bảng 2.2

Bảng 2.3

Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động mà đại diện của nhà nước là các
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng quyền lực của mình nhằm
làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Trong quá trình hoạt động tố tụng, các
cơ quan bảo vệ pháp luật có thể sử dụng quyền lực được giao để hạn chế một
số quyền hiến định của công dân, những hạn chế đó là cần thiết nhằm mục
đích đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình
yên cho nhân dân.
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành đã quy định nguyên tắc
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm quyền bất khả xâm
phạm về thân thể công dân. Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản. Bên cạnh những quy định đó,
một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản quy phạm pháp
luật có liên quan chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với pháp luật quốc tế; chế độ
tạm giam, tạm giữ, các quy định về việc thay đổi, áp dụng các biện pháp ngăn

công dân nói chung. Các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các ban
ngành liên quan cũng cần phải có sự nhận thức và quan tâm một cách đầy đủ
hơn về vấn đề bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình sự và coi đây là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Với thực tiễn công tác của học viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hải Phòng, học viên lựa chọn đề tài: “Bảo đảm quyền của bị can
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn
thành phố Hải Phòng" làm luận văn thạc sỹ luật học của mình – với hy vọng
sẽ đóng góp một phần vào việc bảo đảm tốt quyền của người bị can trong tố
tụng hình sự Việt Nam, đáp ứng với yêu cầu về chiến lược cải cách tư pháp
của Đảng, cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế.

2


2. Tình hình nghiên cứu
Trong bối cảnh quyền con người đang được xã hội bảo vệ, quyền của bị
can trong Luật tố tụng hình sự là đề tài nhận được nhiều sự quan tâm của Nhà
nước, xã hội, các nhà nghiên cứu, các nhà làm luật và cả những Cơ quan trực
tiếp tiến hành tố tụng.
Nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều công trình, tài liệu như sau:
“Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của GS-TSKH Lê
Cảm; “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự theo Hiến pháp năm
2013” của GS Đào Trí Úc trong Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luận án tiến sỹ “Bảo đảm quyền con người
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” của TS Lại Văn
Trình; đề tài luận văn thạc sỹ “Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự” của tác giả Đoàn Thị Phương Thảo; “Quyền con
người và vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam” của

thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi về thời gian: Từ khoảng năm 2013-2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp
quyền, về cải cách tư pháp và quyền con người.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: Phân tích, tổng hợp, lịch
sự, so sánh, thống kê..., khảo sát thực tiễn tố tụng và tham khảo tài liệu,
chuyên gia để làm rõ các vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lí luận: Góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn các vấn đề lý luận về
quyền, bảo đảm quyền của bị can trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, giúp

4


cho các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nâng cao hơn nữa hiệu lực
thực thi pháp luật. Bảo đảm quyền công dân, quyền con người nói chung,
quyền của bị can trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng.
Về thực tiễn: Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo, phục vụ
hoạt động nghiên cứu và học tập, làm rõ được khó khăn, vướng mắc trong quá
trình thực thi pháp luật hiện hành, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy
phạm của chế định này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực
tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,luận văn
gồm có ba chương với kết cầu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền của bị
can trong tố tụng hình sự.

có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc như biện pháp tạm
giam nếu họ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình
phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở

6


việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Trường hợp bị can
là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người
già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp bị can bỏ trốn và bị bắt
theo lệnh truy nã; được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục
phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố; phạm
tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam
đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Vậy có thể hiểu rằng: “Bị
can là người đã có đủ căn cứ xác định họ thực hiện hành vi phạm tội và đã bị
khởi tố, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc được quy
định trong BLTTHS” Chính vì vậy, họ là đối tượng có nguy cơ bị xâm phạm
các quyền và lợi ích hợp pháp như bị hạn chế tự do một cách thiếu căn cứ, bị
mớm cung, ép cung, thậm chí bị dùng nhục hình nhằm mục đích xác minh sự
thật vụ án của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
1.1.2. Khái niệm quyền của bị can trong tố tụng hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt 2003 thì định nghĩa quyền là “điều mà pháp
luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi [37,
tr.815]. Quyền được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của
mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích xã
hội. Bảo đảm quyền là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực nhà
nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là mục tiêu
mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới. Việc bảo đảm các quyền của công

tụng ở mọi quốc gia; vì vậy quyền của bị can có giá trị phổ cập đối với toàn
thể nhân loại; bảo đảm quyền của bị can tức là bảo đảm được lợi ích hợp pháp
của cá nhân công dân trong hoạt động tố tụng hình sự. Mặt khác, quyền của bị
can còn là công cụ mà thông qua đó chủ thể thực hiện quyền của mình trong
lĩnh vực chính trị - xã hội, qua đó thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa
quyền, lợi ích cá nhân với lợi ích chung của xã hội.

8


Tóm lại, quyền của bị can là những quy định được ghi nhận trong Bộ
luật tố tụng hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, được
Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua hoạt động của các Cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, của các cơ quan, tổ chức xã hội và những người
tham gia tố tụng.
1.1.3. Khái niệm bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình sự
Trong TTHS các biện pháp bảo đảm pháp lý các quyền chủ thể gồm
các nguyên tắc cơ bản của TTHS, các quy định về thủ tục, hình thức tố tụng,
các giai đoạn của TTHS, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện
kiểm sát, các nghĩa vụ cơ bản của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Bảo đảm pháp lý hay bảo đảm tố tụng chính là những cách thức, điều kiện do
luật định khi thực hiện hành vi tố tụng cụ thể nhằm bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của chủ thể tố tụng, bảo đảm tính hợp pháp của biện pháp cưỡng
chế, chống lại sự tùy tiện, loại trừ những sai lầm tư pháp.
Như vậy có thể hiểu: “Bảo đảm quyền của bị can là cách thức của các
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên
quan áp dụng các biện pháp cần thiết được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ
luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của bị can; bảo đảm tính hợp pháp của các biện
pháp cưỡng chế tố tụng, chống lại sự tùy tiện, loại trừ những vi phạm trong

1. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ
quan điều tra, thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiểm tra việc
khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

10


c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên, Cán bộ điều
tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của Điều tra viên.
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ
quan điều tra.
Khi vắng mặt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra ủy quyền cho
một Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Phó Thủ trưởng chịu trách
nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra
có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ
sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ
sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc
tách vụ án; quyết định ủy thác điều tra;

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Điều tra viên:
Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên
1. Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố,
điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu
cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
d) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai người
tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố,

12


người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời khai người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ; triệu
tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;
đ) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyế t đinh
̣ dẫn giải người làm
chứng, người bi ̣tố giác , người bi ̣kiế n nghi ̣khởi tố , bị hại ; quyế t
đinh
̣ giao người dưới 18 tuổ i cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm giám sát ; quyế t đinh
̣ thay đổi người giám sát người dưới 18
tuổ i phạm tội;
e) Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh
hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ,

chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [27, Điều 107]; [28, Điều 2].
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự được quy định tại
Điều 20 và một số điều luật khác như Điều 159, 160 Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2015 cũng như được quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2014 (từ Điều 12 đến Điều 19). Để thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ trong tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát gồm Viện
trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên được quy định nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm cụ thế như sau:
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát:
1. Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không
có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát;

14


c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không
có căn cứ và trái pháp luật của Kiểm sát viên;
d) Quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định không có
căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;

người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay
đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cấp trưởng cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi
Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
g) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định, lệnh của Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra;
h) Quyết định hủy bỏ các quyết định, lệnh không có căn cứ và
trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra;
i) Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về
tội phạm, khởi tố, điều tra; quyết định chuyển vụ án;
k) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
l) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn;
m) Quyết định truy tố bị can, trả hồ sơ để điều tra bổ sung
hoặc điều tra lại;
n) Yêu cầu phục hồi điều tra; quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;
quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin

16


về tội phạm ; quyế t đinh
̣ phục hồi điều tra vụ án , phục hồi điều tra
đối với bị can, phục hồi vụ án, phục hồi vụ án đối với bị can;
o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;


17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status