NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI
HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Nhận thức chung về thời hạn trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm và ưy nghĩa của thời hạn trong tố tụng hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 không đưa ra một định nghĩa riêng về
thời hạn, tuy nhiên theo tinh thần Điều 96 BLTTHS có thể hiểu khái niệm
thời hạn trong Tố tụng hình sự là khoảng thời gian được xác định từ thời
điểm này đến thời điểm khác do Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho từng
hoạt động tố tụng, hành vi tố tụng cụ thể. Ví dụ: Thời hạn tạm giữ, thời hạn
tam giam áp dụng trong các biện pháp ngăn chặn, thời hạn điều tra áp dụng
cho giai đoạn điều tra, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm…
Thời hạn trong tố tụng hình sự không đơn giản là khoảng thời gian
vật chất được xác định để thực hiện công việc này hay công việc khác, mà
nó còn thể hiện, mang dấu ấn chủ quan của nhà làm luật. Nhà làm luật thể
hiện y chí của nhân dân thông qua việc xác định những thời hạn cần thiết
để tiến hành các hoạt động tố tụng. Như vậy, thời hạn trong tố tụng hình sự
là một đại lượng có tính khách quan được xác định thông qua y thức chủ
quan của các con người. Khách quan là bởi vì đó là khoảng thời gian vật
chất cần thiết để thực hiện hoạt động hay hành vi tố tụng nào đó. Chủ quan
là bởi vì chính con người, thông qua ưy thức của mình, cho rằng cần có
một lượng thời gian này hay lượng thời gian khác cho từng hoạt động, hành
vi tố tụng.
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động phức tạp liên quan đến nhiều
cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc tiến hành tố tụng từ khi phát hiện tội phạm
đều phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định về khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án hình sự. Ở mỗi giai đoạn phải đảm bảo trình tự
trước, sau và thủ tục tiến hành một cách chặt chẽ như: cách thức tiến hành
ra sao? Căn cứ nào? thẩm quyền đến đâu? thời hạn bao lâu?
1 1
Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ quyền
hạn của các Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án cũng như mối quan hệ
chóng mọi hành vi phạm tội. Điều 103 Luật này quy định thời hạn giải
quyết tố giác và tin báo về tội phạm để quyết định việc khởi tố hoặc không
khởi tố vụ án hình sự là hai mươi ngày đối với sự việc đơn giản, hai tháng
đối với vụ việc phức tạp.
Thời hạn điều tra vụ án hình sự không được quá bốn tháng kể từ khi
khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Trong trường hợp cần gia hạn
điều tra do tính chất phức tạp của vụ án, trong thời hạn mười ngày trước
khi hết hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị viện kiểm sát
gia hạn điều tra… (Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự). Thời hạn bốn tháng
Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự là thời hạn tối đa để kết thúc điều tra. Cơ
quan điều tra có thể kết luận điều tra, đề nghị truy tố theo điều 163 Bộ luật
tố tụng hình sự sớm hơn đối với những vụ án ít nghiêm trọng, rõ ràng,
chứng cứ đầy đủ, mà không chờ đến hết thời hạn bốn tháng, cũng như đối
với những vụ án phức tạp cần phải tiến hành nhiều hoạt động nghiệp vụ
điều tra, đòi hỏi nhiều thời gian, thì trước khi hết hạn điều tra mười ngày,
cơ quan điều tra phải đề nghị viện kiểm sát gia hạn điều tra bằng văn bản.
Thời hạn mười ngày này cũng là tối đa để đề nghị gia hạn.
Trình tự kế tiếp giai đoạn điều tra là giai đoạn kiểm sát điều tra gắn
liền với thời hạn kế tiếp liên quan đến nhiều vấn đề của tố tụng hình sự.
Trình tự này là trình tự khép kín, chặt chẽ, không có hoạt động tố
tụng nào lại không bị ràng buộc bởi một thời hạn cụ thể, để đặt cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong tình trạng có ư y thức đề cao
tinh thần trách nhiệm về các hoạt động của mình đảm bảo thời gian quy
định mà vẫn đạt hiệu quả, đồng thời chống tuỳ tiện và những biểu hiện vi
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.
3 3
1.1.2. Căn cứ xác định thời hạn
Việc xác định thời hạn một giai đoạn tố tụng hoạt động tố tụng mà cụ
thể, hợp lưy là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ đầy đủ
những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, bởi vì xác định thời hạn là
bị nghi vấn hoặc chưa được xác định chính xác, có chứng cứ thu thập đã rõ,
có chứng cứ còn ẩn phải tìm tòi, đòi hỏi cơ quan điều tra phải tiến hành
nhiều hoạt động tố tụng, hành vi tố tụng, bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ
đa dạng như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, tổ
chức đối chất, nhận dạng, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, giám định, uỷ thác
điều tra.. thì thời hạn điều tra phải dài hơn thời hạn điều tra những tội phạm
ít nghiêm trọng hơn.
Ngay cả thời hạn quy định cho việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố trước khi quyết định khởi tố hoặc khởi tố vụ án
hình sự theo điểu 103 Bộ luật tố tụng hình sự cũng lấy tiêu chí tính chất
nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng của tội phạm, mức độ phức tạp hoặc
kém phức tạp của vụ án làm căn cứ xác định thời hạn dài hay ngắn. Chẳng
hạn, theo điều 103 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn hai mươi
ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,
cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác
minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định khởi tố vụ án
hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hay kiến
nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại
nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn,
nhưng không quá hai tháng.
Căn cứ tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức độ phức tạp của vụ
án để xác định thời hạn, là căn cứ khoa học dựa trên định tính của sự việc
đề ra định lượng về thời gian để giải quyết sự việc. Có thể nói, căn cứ này
tỷ lệ thuận với độ dài ngắn của thời hạn. Không thể trong một khoảng thời
5 5
gian ngắn mà đảm bảo được hiệu quả tố tụng, cũng như không thể đạt được
hai yêu cầu vừa khẩn trương, vừa chính xác đối với những tội phạm rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, những vụ án phức tạp.
* Trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ tiến hành tố tụng
tụng hình sự, rõ ràng là có căn cứ vào mức độ hoàn thành của từng giai
đoạn tố tụng để quy định những thời gian dài ngắn khác nhau.
Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung
thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng tính từ ngày cơ quan điều
tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra.
- Trường hợp vụ án do Toà án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn
điều tra bổ sung không quá một tháng.
Mức độ hoàn thành ấy do trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ
tiến hành tố tụng quyết định, cùng với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật,
phương tiện nghiệp vụ mà các cơ quan tiến hành tố tụng được Nhà nước
trang bị.
Nếu căn cứ thứ nhất (tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức tạp
phức tạp của vụ án) mang tính khoa học, thì căn cứ thứ hai (trình độ năng
lực chuyên môn của cán bộ tiến hành tố tụng) mang tính thực tiễn, cả hai
đều là những căn cứ chủ yếu để xác định thời hạn.
* Đảm bảo tính dân chủ trong Tố tụng hình sự.
Dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội là yêu cầu, là mục tiêu mà
chúng ta đang hướng tới.
Tố tụng hình sự Việt nam thể hiện các nguyên tắc tiến bộ, một mặt
yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tuân thủ
nghiêm chỉnh pháp luật, mặt khác đòi hỏi phải bảo đảm quyền con người,
quyền và lời ích hợp pháp của công dân trong hoạt động tố tụng. Các
nguyên tắc này cùng chi phối cả việc xác định thời hạn trong tố tụng hình
sự. Như vậy bảo đảm tính dân chủ là một trong những căn cứ để xác định
thời hạn.
7 7
Thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam, thời hạn kháng cáo bản án
hoặc quyết định sơ thẩm v.v. thể hiện rõ nét việc bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của bị can, bị cáo .. ví dụ, Điều 83, khoản 1 và Điều 86 khoản 3
Bộ luật tố tụng hình sự quy định sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong
nhiên thời kỳ này đã có một số văn bản quy định về thủ tục tố tụng hình sự:
- Luật số 103 - SL/1005 ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân
thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà, đồ vật, thư tín của nhân dân.
- Sắc luật 002 - Slt ngày 18/6/1957 quy định những trường hợp phạm
pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp.
+ Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, chính
sách hình sự của Nhà nước ta vẫn nhất quán là công cụ chuyên chính vô
sản đối với kẻ thù của chế độ: kiên quyết trấn áp bọn phảm cách mạng,
trừng trị những kẻ xâm phạm đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân lao
động, cảnh giác cao độ với các thế lực thù địch trong và ngoài nước chưa từ
bỏ ưy đồ chống đối, muốn xoá bỏ thành quả cách mạng. Các quyền cơ bản
của nhân dân được đảm bảo tại sắc luật 02- Sl ngày 15/03/1976 của Chính
phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền nam Việt nam về bắt giam, giữ
người và khám xét đồ vật.
Có thể thấy rằng các thời hạn trong tố tụng hình sự có được quy định
trong các văn bản pháp quy đơn hành nhưng chưa hình thành được hệ
thống các quy phạm pháp luật ràng buộc hoạt động của các cơ quan bảo vệ
pháp luật cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, bộ luật tố hình sự 1985 và Bộ
luậttố tụng hình sự 1988 đã quán triệt và thể chế hoá đường lối đổi mới của
Đảng và Nhà nước ta và đánh dấu một bước phát triển sự nghiệp pháp điển
hoá pháp luật. Lần đầu tiên việc xác định thời hạn cũng như trình tự, thủ
tục, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng được quy định một cách
chi tiết, có hệ thống, đáp ứng yêu cầu, mục đích nhiệm vụ của tố tụng hình
9 9
sự trong giai đoạn mới, đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Tuy nhiên, do nhi?u lưy do, trong đó có ly do Bộ luật tố tụng hình sự
được nghiên cứu và xây dựng ngay trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi
mới nên trong quá trình thi hành. Bộ luật đã thể hiện những hạn chế và bất
xác định thời hạn tưởng là đối lập nhau, nhưng đó là hai mặt của vấn đề thể
hiện bản chất tốt đẹp của pháp luật XHCN nói chung và y nghĩa tiến bộ của
pháp luật tố tụng hình sự nói riêng.
Việc phân loại thời hạn trong tố tụng hình sự được tiến hành chủ yếu
dựa vào các giai đoạn tố tụng hình sự. Tố tụng hình sự là một quá trình,
trong đó các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự theo một
trình tự luật định nhằm phát hiện và xử ly tội phạm, khôi phục lại các quan
hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và để đạt được mục đích ấy, các cơ quan tiến
hành tố tụng cơ những hoạt động tố tụng khác nhau.
Các giai đoạn hoạt động tố tụng, theo nghĩa hẹp, bao gồm điều tra,
truy tố, xét xử mà chủ thể tiến hành các hoạt động này là cơ quan điều tra,
viện kiểm sát, toà án.
Theo nghĩa rộng, hoạt động tố tụng hình sự bao gồm cả hành vi khởi
tố vụ án và giai đoạn hành án hình sự, như nội dung của tố tụng hình sự
hiện hành.
Các giai đoạn tố tụng hình sự được quy định theo một trình tự về
thời gian, trước sau, dài ngắn khác nhau, có thể hoàn thành trong chu kỳ
hoặc có thể trở lại nhiều chu kỳ. Các giai đoạn tố tụng được giới hạn bằng
những khoảng thời gian, hay nói khác đi, có thể phân loại thời hạn theo
từng giai đoạn tố tụng hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và kiểm soát điều tra có những thời hạn quy
định cho cơ quan điều tra và viện kiểm sát tiến hành các hoạt động tố tụng
hình sự như:
11 11
- Thời hạn điều tra
- Thời hạn kiểm soát điều tra, quyết định việc truy tố.
- Thời hạn điều tra bổ sung
………..
Trong giai đoạn xét xử có nhiều thời hạn quy định cho toà án các cấp
tiến hành công tác xét xử như:
vụ án.
Quyết định khởi tố vụ án hình sự mở đầu một loạt các hoạt động tố
tụng quan trọng của các cơ quan điều tra nhằm đạt được kết quả điều tra vụ
án, và từ giai đoạn này các thời hạn cụ thể được tố tụng hình sự quy định
chặt chẽ, buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện.
Theo điều 100 bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ khởi tố vụ án hình
sự, thì tố giác của công dân, tin báo của cơ quan, tổ chức, tin báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng là một trong những cơ sở xác định dấu
hiệu tội phạm. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát có nhiệm vụ giải quyết tố
giác và tin báo về tội phạm trong phạm vi trách nhiệm của mình, để quyết
định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, theo điều 103 bộ luật
tố tụng hình .
Như vậy, ở thời điểm trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự,
đã có một thời hạn giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.
- Thời hạn đó là hai mươi ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cơ quan điều tra phải kiểm tra xác minh
nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự đối
với vụ việc đơn giản không đòi hỏi phải mất nhiều thời gian xác minh hoặc
phải tiến hành nhiều biện pháp nghiệp vụ tại nhiều địa điểm khác nhau.
- Thời hạn tối đa là hai tháng kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo
về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, trong trường hợp vụ việc có nhiều tình
tiết phức tạp hoặc cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa
điểm khác nhau.
13 13
Thời hạn giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm có y nghĩa rất
quan trọng. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải tiến hành ngay việc kiểm
tra, xác minh tin báo để đi đến quyết định hoặc không khởi tố, hoặc khởi tố
vụ án hình sự. Thời hạn giải quyết là thời hạn tối đa, tuỳ theo tính chấtcủa
vụ việc bị tố giác hoặc tin báo, và tuỳ theo yêu cầu của công việc kiểm tra,
xác minh.
đội nhân dân, cũng như các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt
động điều tra.
+ Thời hạn điều tra của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực
lượng cảnh sát biển được quy định tại điều 111 bộ luật tố tụng hình sự và
các điều 19, Điều 20 điều 21, điều 22 pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự là:
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả
tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố
vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra (như khám nghiệm hiện trường,
khám xét, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên
quan trực tiếp đến vụ án…) và chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát có thẩm
quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi
tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu (khám người, khám
xét, lấy lời khai…) và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền
trong t hời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
Như vậy, thời hạn quy định tại điều 111 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình
sự dành cho Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát
biển làm nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có hai loại:
- Thời hạn điều tra (hai mươi ngày) Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã
tăng thời hạn điều tra từ 15 ngày (Theo bộ luật tố tụng hình sự 19888) lên
thành 20 ngày để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan trên hoàn thành
tốt nhiệm vụ. Đây là sự thay đổi cần thiết vì trình độ nghiệp vụ, cơ sở vật
15 15
chất, điều kiện, phương tiện phục vụ cho hoạt động điều tra của các cơ
quan này hạn chế hơn so với cơ quan điều tra chuyên trách.
- Thời hạn điều tra ban đầu (bẩy ngày) sau đó chuyển hồ sơ cho cơ
quan điều tra tiếp tục công việc điều tra, tuỳ theo tính chất mức độ của
hành vi phạm tội.
+ Thời hạn điều tra của các cơ quan khác trong lực lượng cảnh sát
Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai
lần mỗi lần không quá bốn tháng. Thời hạn điều tra vụ án hình sự tối đa là
mười hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng.
Đối với tội phạm đạc biệt nghiêm trọng có thể gia hạn điều tra ba lần
mỗi lần không quá bốn tháng. Khi thời hạn gia hạn điều tra đã hết, nhưng
do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì
viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần
không quá bốn tháng. Như vậy, thời hạn điều tra vụ án hình sự đối với tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể kéo dài hai mươi tháng, do gia hạn.
Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng viện kiểm sát
nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn t háng.
Thời hạn đề nghị gia hạn điều tra theo điều 119 khoản 2 bộ luật tố
tụng hình sự là mười ngày trước khi hết hạn điều tra. Thời hạn này bảo đảm
quyền lợi của bị can, chống sự tuỳ tiện của cơ quan điều tra giam giữ bị can
qúa hạn.
Các thời hạn nêu trên là thời hạn tối đa mà pháp luật cho phép. Trong
từng vụ án cụ thể cơ quan điều tra phải cố gắng để kết thúc điều tra sớm
nhất. Việc cho phép gia hạn điều tra cần căn cứ vào khối lượng công việc
phải thực hiện để gia hạn với thời gian phù hợp, có thể rút ngắn thời gian
gia hạn, không nhất thiết phải bằng mức bộ luật quy định.
Lần đầu tiên việc gửi quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định thay
đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can được Bộ luật tố tụng hình sự năm
17 17
2003 quy định cụ thể. Theo điều 126 khoản 4 và Điều 127, trong thời hạn
24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra phải gửi quyết định cho
viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn ba ngày kể từ
ngày nhận được quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải quyết
định phê chuẩn hoặc ra quyết định huỷ bỏ và gửi ngay cho cơ quan điều tra.
Trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa
- Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ,
tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác.
- Quyết định không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra.
- Quyết định huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật
của cơ quan điều tra.
- Quyết định truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
- Yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.
Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành những có quyền kiến nghị với
viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Thời hạn viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết là hai mươi ngày,
kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan điều tra.
Khi kết thúc điều tra, cơ quan phải làm bản kết luận điều tra. Ttong
thời hạn hai ngay, kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải
gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo
quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát cùng cấp
theo điều 162 khoản 4 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra
có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra để
giải quyết theo thẩm quyền: nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có
căn cứ thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra
phục hồi điều tra. (điều 164 khoản 4 bộ luật tố tụng hình sự).
19 19
Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra,
cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho viện kiểm sát cùng cấp (điều
165 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự.).
1.2.1.2. Thời hạn trong hoạt động, kiểm sát điều tra và quyết định
truy tố
Thời hạn điều tra kết thúc kể từ ngày cơ quan điều tra có bản kết
luận điều tra, chuyển hồ sơ vụ án sang viện kiểm sát đề nghị truy tố bị can
thời hạn mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định cho viện kiểm sát
kiểm sát điều tra và quyết định việc truy tố có sự phân biệt cụ thể giữa các
loại tội phạm.
Trên cơ sở các quy định về thời hạn điều tra và thời hạn kiểm sát
điều tra, hoạt động của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ trở nên nhịp nhàng hơn, có cơ sở khoa học
hơn, công khai và dân chủ hơn rất nhiều. Một mặt, các quy định này là điều
kiện về quỹ thời gian giúp cho cơ quan và người tiến hành tố tụng hoàn
thành nhiệm vụ chuyên môn, mặt khác đảm bảo được quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Nếu không đăt ra thời hạn giải quyết những tin báo, tố giác về tội
phạm thì không thể giải quyết được khâu mấu chốt để xử lưy thông tin, đấu
tranh phòng chống tội phạm. Nếu không có những quy định về thời hạn gửi
quyết định khởi tố vụ án hình sự, thời hạn chuyển hồ sơ vụ án hình sự, thời
hạn điều tra ban đầu, thời hạn điều tra, thời hạn kiểm sát điều tra, sẽ dẫn
đến nguy cơ tuỳ tiện trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, hậu
quả là việc bắt người oan, sai giam quá hạn.. không đảm bảo được yêu cầu,
mục đích nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự.
Với các quy định về thời hạn trong giai điều tra, giai đoạn kiểm sát
điều tra cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, đặt ra như là một đòi hỏi bắt buộc đối với
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nâng cao tinh
thần trách nhiệm, trình độ nghiệp vụ trong công tác điều tra, tuy tố. Trong
21 21
quá trình cơ quan điều tra tiến hành hoạt động điều tra và viện kiểm sát
thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự, cơ quan tổ chức, cá
nhân có quyền khiếu nại các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong thời hạn mười lăm ngày
kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người
khiếu nại cho rằng có vi phạm pháp luật.
- Cụ thể, trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại về
tụng hình sự, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, từ đó góp phần nâng cao y thức
trách nhiệm đối với các hành vi tố tụng, hoạt động tố tụng của các cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình.
1.2.2. Thời hạn trong giai đoạn xét xử
1.2.2.1. Thời hạn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Giai đoạn chuẩn bị xứt xử sơ thẩm bắt đầu kể từ ngày toà án nhận
được hồ sơ do viện kiểm sát chuyển sang. Để có thể quyết định đưa vụ án
ra xét xử hoặc ra các quyết định tố tụng khác phù hợp với yêu cầu của
pháp luật, thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên
cứu hồ sơ, xem xét chứng cứ, xem xét việc định tội, định khung hình phạt,
nội dung bản cáo trạng, đảm bảo đúng người đúng tội, không sót, lọt tội
phạm, xem xét các biện pháp điều tra theo đúng quy định của pháp luật.
- Giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố
tụng như khiếu nại kêu oan, yêu cầu thay đổi biện pháp ngăn chặn, khiếu
nại hoạt động điều tra…
- Tiến hành các công việc cần thiết cho việc mở phiên toà sơ thẩm
như giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập những người tiến hành
tố tụng, công tác tổ chức phiên toà tại trụ sở Toà án hoặc phiên toà lưu
động….
23 23
Công tác chuẩn bị xét xử, vì thế, cần phải có một khoảng thời gian
nhất định để chuẩn bị.
Trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử là hai
tháng đối với những vụ án mà pháp luật hình sự quy định phạt từ năm năm
tù trở xuống, bốn tháng đối với những vụ án mà pháp luật quy định hình
phạt trên năm năm tù, quy định tại điều 9 nghị định số 301 - ttg ngày
1010/7/1957. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những quy định về thời hạn phải xét
xử, không gia hạn thời hạn đối với những vụ án phức tạp, không đề cập đến
Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn
mười lăm ngày sau khi nhận được hồ sơ, thẩm phán được phân công chủ
tạo phiên toà phải ra quyết đình đưa vụ a ns ra xét xử.
Với những quy định rõ ràng, đầy đủ về thời hạn chuẩn bị xét xử,
thời hạn mở phiên toà buộc cơ quan xét xử phải chủ động tiến hành giải
quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, đúng thời hạn luật định, hạn chế việc để
án quá thời hạn, án tồn đọng mà nguyên nhân chính từ phía cơ quan tiến
hànhtố tụng.
* Thời hạn giao các quyết định của toà án.
Quyết định đưa ra vụ án xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại
diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi
mở phiên toà. Thời hạn này đảm bảo cho bị cáo, người đại hợp pháp của họ
và người bào chữa có điều kiện chuẩn bị nội dung tự bào chữa hoặc bào
chữa bảo vệ quyền lợi của bị cáo trước phiên toà.
Quưyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm
đình chỉ vụ án phải được gửi ngay cho viện kiểm sát cùng cấp.
Quưyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn
phải được gửi ngay cho bị can, bị cáo, viện kiểm sát cùng cấp, trại tạm
giam mà nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam.
* Thời gian xét xử vụ án
25 25