Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự - Pdf 26

Uỡé
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
BẢO ĐẢM QUYẾN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HỈNH sự
■ _
Chuyên ngành : Luật hình sự
M ã sô : 60 38 40
LUẬN VẢN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
• • • •
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuân
Ị đai học q u ố c g ia h a n ọ ỉ
I TRUNG TÁM THÔNG TIN THƯ VIÊN丨

- I liirnir-nirML* n P, Wi __ I ■ ■■!■■■ , V- L0/
HÀ NỘI _ 2009
LỜ I CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên

cửu khoa học của riêng tôi. Các sô liệu,ví dụ và

trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy9

chính xác và trung thực. Những kết luận khoa

Các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị cáo 9
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và ý nghĩa 15
Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là nguyên tắc hiến định 15
Ý nghĩa việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo 18
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định bảo 21
đảm quyền bào chữa

Việt Nam
Chương 2 :
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THựC TRẠNG BẢO ĐẢM 25
QUYỂN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO TRONG T ố TỤNG
HÌNH Sự
2.1. Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa của bị 25
cáo trong tố tụng hình sự
2.1.1. Địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của bị cáo 25
2.1.2. Nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc bảo 34
đảm quyền bào chữa của bị cáo
2.2. Thực trạng và nguyên nhân hạn chế việc bảo đảm quyền bào 43
chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự
2.2.1. Thực trạng bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng 42
hình sự
2.2.2. Nguyên nhân hạn chế việc bảo đảm quyền bào chữa của bị 52
cáo trong tố tụng hình sự
2.2.2.1. Nguyên nhân do quy định của pháp luật 52
2.2.2.2. Nguyên nhân từ phía người tiến hành tố tụng 59
2.2.2.3. M ột số nguyên nhân khác 64
Chương 3

MỘT số G IẢ I PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM QUYỂN BÀO 68
CHỮA CỦA BỊ CÁO TRONG Tố TỤNG HÌNH sự TRƯỚC

M Ở ĐẦU
Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã
ra Nghị quyết số 08-N Q/TW về m ột số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong giai đoạn tới. Nghị quyết đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm là:
K hi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều

bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán

và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; phán

quyết của Tòa án p hải căn cứ chủ yếu và kết quả tranh tụng tạ i

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến

của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên

đơn,bị đơn và những người có quyền lợ i ích hợp pháp… để ra

những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và

trong thời hạn pháp luật quy định
[10].
Vấn đề này tiếp tục đề cập trong Nghị quyết số 49-NQ /TW ngày
02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với nội dung:
Đ ổi m ới việc tổ chức phiên tòa xét xứ, xác định rỗ hơn vị trí,

quyền hạn y trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham

gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ nghiêm



cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của bộ luật nàyv
[37 ].
Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ các vẩn đề lý luận liên quan đến vai trò của
Tèm án trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo có ý nghĩa rất quan trọng
của hoạt động cải cách tư pháp thời gian tói và chiến lược trong sự nghiệp xây
dựng Nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam của dân, do
dân, vì dân - bảo đảm pháp chế XHCN, bảo đảm nguyên tắc "xét xử đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật” cả trên phương diện lý luận và phương diện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học luật tố tụng hình sự đã có nhiều công trình đề cập đến vấn
đề bào chữa trong tố tụng hình sự. Trong số các công trình đó phải kể đến sách
của TS. Phạm Hồng Hải:
uBảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tộ ĩ}\
bài
2
viết của TS. Nguyễn Văn Tuân:
,’Bảo đảm quyền có người bào chữa của bị can

bị cáo trong tố tụng hình sứ}\
TS. Trần Vãn Độ:
"Nguyẻn tắc bảo đảm quyền bào

chữa của bị can,bị cáo trong tố tụng hình sựy\
chuyên đề của TS. Phan Trung
Hoài:
"Bàn về mối quan hệ giữa chức năng buộc tội
-
bào chữa và xét xử trong


muốn đề ra các giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của chế định này trong
quá trình xét xử các vụ án hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài
*
M ục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng về quyền bào chữa và bảo đảm cho bị cáo
được thực hiện đầy đủ quyền của mình trong hoạt động xét xử, chỉ ra những
3
hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật về quyền bào chữa, bên cạnh đó đưa
ra những để xuất nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.
* Nhiệm
vụ của việc nghiên cứu đề
tà i
- Làm rõ hơn về mặt lý luận về quyền bào chữa và đảm bảo quyền bào
chữa của bị cáo trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Đánh giá thực trạng và tìm ra nguyên nhân của những yếu kém, bất cập
trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong hoạt động xét xử án hình sự.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền bào chữa của
bị cáo trên phương diện nâng cao chất lượng xét xử án hình sự.
*
Phạm vi nghiên cứu đề tà i
,
Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là một vấn đề phức tạp và còn có
nhiều quan điểm. Bởi vậy trong phạm vi của một luận văn cao học không thể
xem xét và giải quyết được hết mọi vấn đề mà phạm vi của đề tài chỉ dừng lại
nghiên cứu nội dung quy định về
"Báo đảm quyền bào chữa của bị cáo và một

số quy định liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình


M ột số vấn đề chung về quyền bào chữa của bị cáo.
Chương
2: Quy định pháp luật và thực trạng bảo đảm quyền bào chữa
của bị cáo trong tố tụng hình sự.
Chương 3:
M ột số giải pháp nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
ưong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp.
M Ộ T SỐ V Ấ N Đ Ể C HUNG
V Ể QU YỂN BÀO CHỮA CỦA B Ị CÁO
1.1. K H Á I N IỆ M QUYỂN BÀO CHỮA V À BẢO Đ Ả M QUYỂN b à o
CHỮA CỦA B Ị CÁO
1.1.1. Khái nỉệm về quyền bào chữa của bị cáo
Trên thực tế ít có tác giả đề cập đến
"Khái niệm quyền bào chữa của bị

cáo
” ,vì đây là một khái niêm đơn lẻ, bởi lẽ người bị buộc tội có quyền bào
chữa thuộc về ba chủ thể "người bị tạm giữ, bị can và bị cáo’1 nên nhiều lác giả
đề cập đến
,’Khái niệm quyền bào chữa”
nói chung bao gồm cả ba chủ thể
trên. Song hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau là vấn đề gây tranh cãi
giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như cán bộ làm công tác thực tiễn áp
dụng pháp luật về khái niệm quyền bào chữa.
Trong cuốn "Giáo trình luật tố tụng hình sự’’ Giáo sư M .x . Xtrôgôvich
người Nga ông cho rằng:
"Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng

hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tộ i và xác định bị can không có lỗ i hoặc làm



còn thể hiện trong các quan hệ tố tụng phù hợp với chúng… bào

chữa không chỉ dừng lạ i ở việc bác bỏ một phần hay toàn bộ sự

buộc tội và đưa ra cá tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của người bị

truy cứu trách nhiệm hình sự. Nó thậm chí được thể hiện trong việc

đảm bảo các quyền và lợ i ích được pháp luật được bảo vệ của bị

can kể cả khi chúng không trực tiếp liên liên quan tớ i việc làm giảm

trách nhiệm của bị can trong vụ án
[Dẫn theo 16

tr. 16].
Theo quan điểm này thì bào chữa không chỉ là tổng hòa các hành vi tố
tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm mà còn
có sự tổng hòa các quan hệ tố tụng nhằm hướng tớ i mục đích làm cho tình
trạng của người bị buộc tội tốt hơn và đảm bảo các quyền lợ i ích hợp pháp của
người đó trong vụ án. Phạm vi quyền bào chữa

đây được tác giả mở rộng
hơn. Một số tác giả khác có quan điểm
"quyền bào chữa thậm chí có cả trong

trường hợp không có sự buộc tộ i” .
Theo quan điểm này của tác giả thì phạm vi
quyền bào chữa mở rộng ra rất nhiều, tức là kể cả sự khởi đầu của vi phạm, có

được coi là hạn chế, họ chỉ được nhờ người bào chữa trong các trường hợp
nhất định và đặc biệt, còn các trường hợp khác họ phải tự bào chữa, quy định
như trên thể hiện quyền lợi của người bị buộc tội chỉ thuộc về một số người
nhất định mà không phải dành cho tất cả những người bị buộc tội.
Luật sư, TS. Phạm Hồng Hải đã định nghĩa:
Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tô tụng do người bị

tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp

với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự

buộc tộ i của các cơ quan tiến hành tố tụng y làm giảm nhẹ hoặc loại

trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình
^ [1 6 , tr. 29].
Như vậy ta thấy rằng, khái niệm về quyền bào chữa được hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Song tác giả cho rằng, khái niệm của các quan điểm
tương đối xác đáng và khá thuyết phục. Đã nêu được lên những đặc trưng cơ
bản của việc bào chữa cho đối tượng bị buộc tội. Song để có khái niệm riêng
về quyền bào chữa của bị cáo ta phải xem xét những đặc trưng cơ bản sau:
- Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự thuộc về người bị buộc tộ i và


các giai đoạn khác nhau của tố tụng. Đó là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,
người bị kết án. Những người này được sử dụng các biện pháp do luật định để
tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bình đẳng với Kiểm sát viên
(KSV) trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận tại phiên tòa.
8
- Mục đích sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là
nhằm bảo vệ các quyền và lợ i ích hợp pháp của người bị buộc tộ i khỏi sự vi


gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường”
[41].
Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo có những đặc trưng sau:
9
- Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo xuất phát từ yêu cầu bảo vệ
quyền con người và bảo đảm nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong tố
tụng hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho bị
cáo thực hiện quyền bào chữa của họ (tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa).
- Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền tự bào chữa hoặc
nhờ người bào chữa của bị cáo.
V ới đặc trưng trên cho thấy
”bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là

việc cơ quan và người có thẩm quyền tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền

bào chữa trong tiến trình tố tụng theo quy định của pháp luật”
[41].
Và để thực hiện quyền bào chữa của mình bị cáo cần có những bảo
đảm sau:
*
Bảo đảm bằng quy định pháp luật
K hi vụ án có quyết định đưa vụ án ra xét xử là xuất hiện tư cách bị
cáo, bị cáo lúc này là người tham gia tố tụng có những quyền và nghĩa vụ quy
định tại Điều 50 BLTTHS và một trong những quyền cơ bản của bị cáo là quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa (điểm e khoản 2 Điều 50 BLTTHS).
Nhưng để thực hiện quyền bào chữa gỡ tội cho mình bị cáo được pháp
luật bảo đảm dưới hai hình thức. Đó là
' 、T ự bào chữa"
(bào chữa do chính bị


cứ duy nhất để kết tộ i”.
V ì vậy mà bị cáo luôn có quyền bào chữa giảm nhẹ lỗi
cho mình trong bất kỳ tình huống nào.
Song trên thực tế cho thấy việc bị cáo
uTự bào chữa”
thường đem lại
hiệu quả không cao. Bởi lẽ khi bị bắt giữ, bị cáo bị hạn chế một số quyền cơ
bản, không được tiếp xúc với người ngoài và những người liên quan khác (trừ
khi phải đối chất), nên bị cáo không được thu thập chứng cứ, không được xem
xét tài liệu do cơ quan điều tra thu thập, từ đó có những ý kiến bảo vệ quyền
lợ i cho mình, vì vậy việc tự bào chữa của bị cáo rất khó khăn và hạn chế.
Thứ hai: N hờ người khác bào chữa.
Việc nhờ bào chữa của bị cáo được thông qua những người sau:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo.
- Luật sư, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý.
V ới quyền và nghĩa vụ của người bào chữa quy định tại Điều 58
BL1THS,khi tham gia tố tụng họ có quyền thu thập chứng cứ có lợi bênh vực
cho bị cáo và đi đến mục đích gỡ tội để bị cáo vô tội hoặc làm giảm nhẹ tội.
So với việc b ị cáo tự thực hiện quyền bào chữa thì người bào chữa do
bị cáo nhờ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều. Bởi lẽ người bào chữa có quyền
được thu thập tài liệu đồ vật tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ bị cáo,
11
người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan tổ chức cá nhân theo
yêu cầu của bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Hay
đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu theo hướng có lợ i cho bị cáo như yêu cầu triệu
tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu thấy cần thiết và có lợ i
cho người được bào chữa. Được gặp gỡ bị cáo đang tạm giam để có thể nắm
được đầy đủ các tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm
lý, tâm tư nguyện vọng của bị cáo. Trên cơ sở đó người bào chữa thu thập

chữa. Song khi đã nhận bào chữa thì người bào chữa không được từ chối bào
chữa cho bị cáo mình đã đảm nhận, nếu không có lý do chính đáng.
Những quyền nêu trên không chỉ là quyền mà còn là biện pháp quan
trọng để người bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Với quy đinh này người bào chữa có quyền tự mình tiến hành các hoạt để thu
thập chứng cứ, chủ động đưa ra các tài liệu đồ vật liên quan đến vụ án vào bất kỳ
thời điểm nào, hay đề xuất các yêu cầu trong quá trình tố tụng như yêu cầu giám
định, giám định lại, đối chất, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn khi có căn cứ pháp lý, gặp người làm chứng, người bị hại, xem
xét văn bản của các cơ quan liên quanr Từ những chứng cứ tài liệu thu thập đã
tạo cho người bào chữa có nhiều tài liệu để so sánh xâu chuỗi quá trình vi phạm
của người bị buộc tội tìm ra những điểm thuận lợ i để gỡ tội cho họ. Trong khi đó
người bị buộc tội (nếu đã bị tạm giữ, tạm giam) trước khi ra xét xử công khai tại
phiên tòa, họ không thể biết ngưòi làm chứng, ngưòi bị hại khai thế nào, các tài liệu
khác cơ quan điều tra thu thập có nội dung ra sao để chuẩn bị bào chữa cho mình.
Tuy nhiên dù bảo đảm quyền bào chữa

hình thức nào cũng đều
hướng tớ i sự gỡ tội cho bị cáo, làm sáng tỏ tình tiết khách quan của vụ án, bảo
đảm sự chính xác đúng pháp luật của hoạt động tố tụng đem lại sự bình đẳng
giữa cá nhân của một con người với một bên là quyền lực nhà nước thông qua
những người tiến hành tố tụng mà đứng giữa hai sự đối lập này nếu không có
sự "gỡ tộ i” sẽ làm cho cán cân công lý dễ bị thiên lệch về bên công quyền.
13
* Bảo đảm từ phía cơ quan,người tiến hành tố tụng và các tổ chức
liên quan
Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo gắn liền với nhiệm vụ của cơ
quan, người tiến hành tố tụng và để thực hiện tốt nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật, ngoài việc kiện toàn đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và cán bộ
Tòa án nói riêng nhất là lực lượng Thẩm phán, Nhà nước đã thành lập và cho

1.2. NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO VÀ
Ý NGHĨA
1.2.1. Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là nguyên tắc hiến định
N ói đến quyền bào chữa trước tiên ta phải nói đến quyền của con
người mà quyền con người thường được hiểu trong các khía cạnh sau:
- Là những giá trị gắn với mỗi con người với tư cách là cá nhân và là
thành viên xã hội, nó vừa mang thuộc tính cá nhân, nhưng cũng thể hiện lợ i
ích quốc gia, dân tộc? cộng đồng.
- Nó là quyền bình đẳng với mọi ngưòd, song vẫn được ưu tiên đối với
nhóm giới, những bộ phận nhất định trong xã hội. Nó còn là phạm trù pháp lý
gắn liền với một pháp luật cụ thể, phải được thể hiện trong pháp luật, được pháp
luật ghi nhận và bảo vệ. Tuy là thuộc tính tự nhiên - đặc quyền vốn có của con
người, nhưng tự bản thân chúng chưa phải là quyền mà chúng phải được đặt
trong mối quan hệ giữa cộng đồng xã hội cùng với thiết định trật tự nhất định.
Để trở thành quyền thực định của m ỗi con người cần có pháp luật. Chỉ
có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên xã
hội mới trở thành quyền được xác định và mái đảm bảo trở thành hiện thực
trong thực tiễn.
Nếu quyền con người gắn với hệ thống pháp luật nhất định thì trong
mỗi quốc gia, quyền con người thể hiện chủ yếu

quyền công dân và được
quy định trong Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó.
Cần nhận thức rằng, không có sự đối lập giữa quyền con người và
quyền cồng dân. Không thể có quyền công dân bên ngoài quyền con người và
ngược lại, không thể có quyền con người mà lại không bao hàm quyền công
dân trong đó. Quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ
thể, trong một chế định xã hội nhất định cùng với các điều kiện kinh tế, vãn
hóa, truyền thống, lịch sử, các giá trị đạo đức và đặc biệt với một nền pháp
luật cụ thể do nhà nước đó thừa nhận, quy định.

mở rộng hơn nữa là người bị tạm giữ cũng được bảo đảm quyền bào chữa.
Điều 132 Hiến pháp năm 1992 quy định
"Quyền bào chữa của bị cáo

được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho

mình"
[34].
Điều 11 BLTTHS năm 2003 quy định:
Người bị tạm giữ, b ị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc

nhờ người khác bào chữa
Cơ quan điều tra ,Viện kiểm sát,Tòa án có nhiệm vụ bảo

đảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của

Bộ luật này
[37].
N ội dung này là một trong những nguyên tắc hiến định trong Hiến
pháp và là một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS. Với những quy
định trên ngoài việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quyền bào chữa mà
còn quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm việc thực hiện quyền
đó của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Cùng với việc mở rộng phạm vi đối tượng được bảo đảm quyền bào
chữa, thì danh sách những người bào chữa cũng được mở rộng hơn ngoài luật
sư, bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo cũng
có thể làm người bào chữa.
Ngoài việc ghi nhận, pháp luật còn bảo đảm cho việc thực hiện nguyên
tắc bào chữa. Bị cáo không chỉ có quyền nhờ người bào chữa mà trong trường
hợp nhất định Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo

phạm nghiêm trọng về thủ thủ tố tụng, nếu vụ án đã xét xử rồi thì phải hủy án
để điều tra hoặc xét xử lại đảm bảo có người bào chữa cho bị cáo và khắc phục
những vi phạm đã xảy ra.
1.2.2. Ý nghĩa việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Chúng ta thấy rằng, người bị buộc tội không đồng nghĩa với người có
tội. Điều đó được khẳng đinh tại điều 72 Hiến pháp năm 1992 và Điều 9
BLTTHS năm 2003
"Không a i bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tộ i của

Tòa án đã có hiệu lực pháp luậ t".
Trách nhiệm hình sự được bắt đầu từ khi
bản án kết tộ i của Tòa án đối với người b ị buộc tội có hiệu lực pháp luật, chứ
không phải từ thời điểm có các quyết định buộc tộ i của các cơ quan tiến hành
tố tụng. Do vậy, phải coi người bị buộc tộ i là người chưa có tội, từ đó đòi hỏi
cơ quan, người tiến hành tố tụng và m ọi người trong xã hội phải đối xử với họ
18
như là người không có tội. Đây là một nghĩa vụ pháp lý, trừ một số hạn chế
các quyền nhất định mà pháp luật cho phép áp dụng đối với người bị buộc tội
như các biện pháp ngăn chận, các quyền và lợ i ích khác của họ vẫn được pháp
luật tôn trọng và bảo vệ. Pháp luật nghiêm cấm đối xử với người bị buộc tội
như là người có tội, khi mà chưa có bản án của Tòa án kết tội người đó có hiệu
lực pháp luật. Tình trạng này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cơ
quan, người tiến hành tố tụng hình sự và cũng không cản trở các hoạt động
trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm và người phạm tội. Chỉ có
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tuyên bố người bị buộc tội là có tội.
Xuất phát từ nguyên tắc này,sẽ loại trừ định kiến,kết tội một chiều
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Dù chứng cứ trong vụ án được thu thập
để chứng minh trong vụ án đến đâu, niềm tin nội tâm của người tiến hành tố
tụng về lỗ i của người bị buộc tội thế nào thì cơ quan, người tiến hành tố tụng
vẫn phải có nghĩa vụ làm sáng tỏ các tình tiết vụ án một cách khách quan,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status