quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011- 2015

QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hƣớng dẫn:
Trần Hồng Ca
Bộ môn: Luật Tƣ Pháp

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Ngọc Nhƣ
MSSV: 5115829
Lớp: Luật Tƣ pháp 1-K37

Cần Thơ, 11/2014


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 2
3. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài ...................................................................... 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................................. 2
5. Kết cấu của đề tài .......................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Một số khái niệm......................................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm bị can, bị cáo ...................................................................................... 4
1.1.2. Khái niệm quyền im lặng ..................................................................................... 9
1.1.3. Khái niệm quyền im lặng của bị can, bị cáo ..................................................... 11
1.1.3.1. Quyền im lặng trong pháp luật nước ngoài ................................................... 11
1.1.3.2. Quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam. ............................................ 13
1.2. Vai trò của quyền im lặng trong tố tụng hình sự................................................... 14
1.2.1. Quyền im lặng đối với bị can, bị cáo.................................................................. 14
1.2.2. Quyền im lặng đối với cơ quan tiến hành tố tụng............................................. 15
1.3. Mối quan hệ giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng
hình sự .............................................................................................................................. 17
1.3.1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội ............................................................... 17
1.3.2. Mối tương quan giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội ............... 18
CHƢƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH GIÁN TIẾP VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA

3.2.1.1. Bất cập ........................................................................................................... 50
3.2.1.2. Giải pháp. ....................................................................................................... 52
3.2.2. Áp dụng nguyên tắc xác định sự thật của vụ án ............................................... 55
3.2.2.1. Bất cập. .......................................................................................................... 55
3.2.2.2. Giải pháp. ....................................................................................................... 57
3.2.3. Người bào chữa tham gia vào buổi hỏi cung của vụ án ................................... 59
3.2.3.1. Bất cập ........................................................................................................... 59
3.2.3.2. Giải pháp ........................................................................................................ 61
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 64

GVHD: Trần Hồng Ca

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi quyền con người ngày càng được quan tâm

và chú trọng. Hiện nay trên thế giới hầu hết các quốc gia phát triển đều quy định trong
pháp luật rằng công dân của họ có quyền im lặng và quyền có luật sư khi tham gia
quan hệ pháp luật hình sự. Không phân biệt đó là vụ án hình sự bình thường hay phức
tạp, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, có liên quan đến an ninh chính trị hay không.
Quyền im lặng từ lâu được áp dụng tại rất nhiều nước. Hiến pháp nhiều nước quy định
khi bắt giữ một người phải có luật sư chứng kiến hoặc phải giải thích quyền được mời
luật sư. Ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại thì quyền im lặng vẫn chưa được quy định


SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

Giữa lý luận và thực tiễn áp dụng quyền im lặng ở nước ta còn có nhiều bất cập
tranh cải như luật vẫn chưa có quy định cụ thể về quyền im lặng mặt dù luật đã có
những quy định gián tiếp về quyền này, và chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu để áp
dụng. Bên cạnh đó, người bào chữa vẫn chưa thể tham gia vào quá trình hỏi cung của
bị can, bị cáo, và việc áp dụng nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chưa thật sự
khách quan dẫn đến nhiều vụ án oan sai vẫn còn xảy ra do các chủ thể tiến hành tố
tụng đã vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Do đó người viết lựa
chọn đề tài: “Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” để
làm luận văn cử nhân luật. Với mong muốn sẽ đóng góp được một phần nhỏ trong việc
tìm hiểu thêm về vấn đề này.
2.

Mục tiêu nghiên cứu
Với mục tiêu khái quát lại các vấn đề liên quan đến quy định về quyền và lợi ích

của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự hiện nay, đồng thời nêu lên nội dung và vai trò
của quyền im lặng trong tố tụng hình sự, những hạn chế, khó khăn của việc áp dụng
quyền im lặng trên thực tế. Sau đó đưa ra một số giải pháp khắc phục khó khăn trên,
qua bài viết này, hy vọng người đọc có thể biết thêm về quyền im lặng của bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự để quyền lợi của họ được đảm bảo. Trên cơ sở đó, góp phần
làm cho quyền im lặng của bị can, bị cáo có thể được luật hóa và bảo vệ như các quyền
khác của bị can, bị cáo.
Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền im lặng trong

những phần nội dung được kết cấu thành 3 chương:
5.

Chƣơng 1: Khái quát chung về quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự.
Phần này chủ yếu giới thiệu về một số khái niệm như: thế nào là bị can, bị cáo,
thế nào là quyền im lặng theo quy định của pháp luật các nước và luật tố tụng hình sự
Việt Nam có những quy định gián tiếp như thế nào về quyền im lặng. Đồng thời phần
này cũng nói lên vai trò của quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam sẽ góp phần
giảm bớt được oan sai trong quá trình tố tụng.
Chƣơng 2: Những quy định gián tiếp về quyền im lặng của bị can, bị cáo
trong pháp luật Việt Nam.
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành chưa quy định trực tiếp về quyền im
lặng, nhưng những quy định mang tính gián tiếp dẫn chiếu về quyền im lặng trong tố
tụng thì vẫn có thông qua quyền con người và quyền bình đẳng trong hiến pháp, và
quyền trình bày lời khai, quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa và bị can, bị
cáo không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình.
Chƣơng 3: Thực tiễn và giải pháp đối với quyền im lặng của bị can, bị cáo.
Quyền im lặng là một quyền tiến bộ mà thế giới đã và đang áp dụng, nhưng đối
với nước ta hiện nay thì việc áp dụng quyền này còn khó khăn vướng mắt chưa thể
thực hiện được như bất cập về việc chưa có văn bản quy định cụ thể quyền im lặng,
cũng như nguyên tắc xác định sự thật vụ án còn chưa khách quan, đồng thời luật sư
người bào chữa chưa thể tham gia các buổi hỏi cung để bảo vệ quyền và lợi ích cho bị
can, bị cáo. Vì vậy mà chương này người viết chủ yếu nêu lên bất cập và đề xuất
những quy định nhằm góp phần tạo điều kiện cho quyền im lặng có thể được luật hóa
trở thành những quy định cụ thể.
Do người viết còn hạn chế về trình độ nghiên cứu cũng như kinh nghiệm thực
tiễn, nên việc nghiên cứu đề tài không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp từ quý Thầy Cô để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
nữa. Người viết xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Trần Hồng Ca đã

tụng hình sự việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể cũng có vai trò quan trọng
hơn hết. Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác
nhau. Và tại mỗi giai đoạn thì địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng cũng
không giống nhau.Tùy vào từng trường hợp khác nhau mà khái niệm của các chủ thể
bị tình nghi là thực hiện hành vi nguy hiểm này được quy định theo địa vị pháp lý khác
nhau.
 Đối với bị can:
Khái niệm bị can được quy định lần đầu tại Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988. Theo đó, một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình
sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội1. Hiện nay, theo
Điều 49, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 hiện hành thì khái niệm bị can là “người
đã bị khởi tố về hình sự”, bằng quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền.
Bị can là nhân vật trung tâm của vụ án, trong quá trình tố tụng họ là người mà Cơ quan
điều tra sẽ phải tiến hành hoạt động điều tra và truy tố. Bị can là người bị coi là đã
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này xâm phạm quan hệ xã
hội do pháp luật hình sự bảo vệ, và cơ quan tiến hành tố tụng đã có đủ căn cứ để khởi
tố.
1

Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội, Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Phương
Hồng. Nguồn: [ Ngày truy cập: 10 / 05/ 2014].

GVHD: Trần Hồng Ca

4

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

hình sự là “góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ

2

Xem thêm Phạm Văn Beo, Giáo trình luật Hình sự Việt Nam-phần chung, Nxb. Chính trị quốc gia
Hà Nội- 2009, trang 142.
3
Xem thêm Điều 49 và Điều 50 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

GVHD: Trần Hồng Ca

5

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm”4.
Hai là, bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết
định khởi tố bị can. Khi có đầy đủ căn cứ để xác định bị can đã thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội và xác định được căn cứ khởi tố vụ án theo Điều 126 Bộ luật tố tụng
hình sự 2003 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những cơ quan thuộc Điều 111 sẽ
tiến hành ra quyết định khởi tố vụ án, kể từ thời điểm này thì người bị khởi tố cũng
chính là bị can của vụ án có nghĩa vụ phải tham gia vào quá trình tố tụng. Sau khi cơ
quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập bị
can, hỏi cung bị can và thực hiện các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự đối với bị can như: khám xét, thu giữ vật chứng, hoặc áp dụng

6

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

tham gia tố tụng chỉ là người bình thường không còn là bị can của vụ án. Bên cạnh đó
thì, khi Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyết định sau đây đưa vụ án
ra xét xử thì kể từ thời điểm này thì tư cách tố tụng của một người là bị can sẽ chuyển
thành là bị cáo.
 Đối với bị cáo:
Khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, khái niệm được quy định theo
Điều 34: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Trong giai đoạn xét
xử Tòa án chỉ đưa một người ra xét xử với tư cách bị cáo nếu Viện Kiểm sát đã truy tố
người đó trước Tòa án, nếu Viện kiểm sát không truy tố thì Tòa án không được xét xử
một người với tư cách bị cáo trừ những người mà Tòa án nhân dân xét xử về những
việc hình sự nhẹ”5. Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, xét thấy có đủ căn cứ để
khẳng định rằng bị can đã phạm tội thì đề nghị Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa án
để xét xử. Kể từ thời điểm Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo. Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật.
Đến nay, thuật ngữ “bị cáo” đã được ghi nhận lại trong khoản 1, Điều 50 của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Theo đó “Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định
đưa ra xét xử ”. Bên cạnh đó thì, bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa
vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bị
cáo có một vị trí quan trọng trong quá trình truy tố và xét xử của Cơ quan tiến hành tố
tụng, tuy họ là người “bị Tòa án đưa ra xét xử” nhưng vấn đề về quyền và nghĩa vụ
của bị cáo vẫn được đảm bảo theo pháp luật về tố tụng hình sự. Và khái niệm bị cáo

xét xử và trở thành bị cáo. Nhưng nếu Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra không truy
tố bị can trước Tòa án khi không có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi
phạm tội thì tư cách bị can sẽ không trở thành bị cáo. Do đó, địa vị pháp lý của bị cáo
chưa có do trong giai đoạn này tư cách người bị tình nghi có hành vi phạm tội này vẫn
còn là bị can, và bị can chỉ là đối tượng bị điều tra và truy tố chứ không phải đối tượng
bị đem ra xét xử như bị cáo.
Ba là, tư cách bị cáo xuất hiện khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong giai
đoạn khởi tố vụ án một khi đã có đầy đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị
can thì Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra sẽ đưa ra quyết định khởi tố và trong giai
đoạn này tư cách bị can sẽ trở thành bị cáo khi Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi tố của
Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa sẽ
đưa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tư cách tố tụng bị cáo được hình thành kể từ
khi Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận hồ sơ vụ án và đưa ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Nhưng nếu Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra
quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì tư
cách bị cáo sẽ không được xác lập.
Bốn là, bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến
khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đưa vụ án ra xét xử là
một trong những quyết định của thẩm phán sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm thay
đổi địa vị pháp lý của người bị truy tố là bị can sang địa vị pháp lý của bị cáo để xét xử
vụ án tại phiên tòa. Theo quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì tại khoản 2
Điều 176 về thời hạn chuẩn bị xét xử “Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do
chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày”, kể từ thời
điểm này thì bị cáo chính thức tham gia vào quá trình xét xử trước tòa án.
Đồng thời, theo Điều 187 thì sự có mặt tại phiên tòa là quyền và cũng là nghĩa
vụ của bị cáo vì họ là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Tòa án phải triệu
tập bị cáo đến phiên tòa, bị cáo không thể vắng mặt nếu không có lý do chính đáng.
Đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì tư cách bị cáo lúc
này sẽ trở thành người có tội nếu chứng cứ chứng minh được bị cáo đã là người có tội,

như những công dân bình thường khác, được bình đẳng trước pháp luật và có đầy đủ
quyền và nghĩa vụ không bị hạn chế.
1.1.2. Khái niệm quyền im lặng
Ở Mỹ, câu nói mà bất cứ cảnh sát viên nào cũng thuộc lòng có tên là lời cảnh
báo Miranda (Miranda warning) tạm dịch là “Anh có quyền im lặng”. Nó được dùng
để thông báo cho nghi phạm hình sự ngay lúc bị bắt giữ, hay khi đang ở tình trạng
giam giữ, trước khi nghi phạm hình sự bị thẩm vấn hoặc lấy cung liên quan đến sự
phạm tội, hay trong một tình trạng quyền tự do đi lại của nghi phạm bị cản trở dù
người đó không bị bắt giữ. Khi một người bị cảnh sát bắt giữ, cảnh sát phải nói với họ
rằng: "Họ có quyền giữ im lặng; Bất cứ điều gì họ nói cũng sẽ được dùng để chống lại
họ trước tòa; Họ có quyền có luật sư; và nếu họ không thể thuê được luật sư họ sẽ
được chỉ định một luật sư miễn phí”. Bất cứ lời thú tội nào có được bằng việc vi phạm
các quy tắc Miranda đều phải bị bác bỏ, cũng như các bằng chứng khác đạt được do
kết quả của lời thú tội sai quy tắc này6. Tu chính án thứ Năm bảo vệ cá nhân khỏi việc

Alan B.Morrison, Fundamentals of American Law ( Những vấn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ), Khoa
học luật Trường Đại học New York, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2007, trang 156, 157.
6

GVHD: Trần Hồng Ca

9

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

bị bắt buộc làm chứng chống lại bản thân họ, chứ không phải chống lại người khác7,
cho phép một cá nhân (nhưng không cho phép một tập đoàn) từ chối trả lời câu hỏi

8
Báo điện tử Người đưa tin, Nguồn gốc của lời cảnh báo Miranda: “Anh có quyền im lặng”, Quang
Hòa. Nguồn: [Ngày truy cập: 02 /06 /2014 ]
7

9
10

Nguyễn Cảnh Bình, Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?, NXb Tri Thức năm 2009, trang 573.
Nguyễn Cảnh Bình, Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?, NXb Tri Thức năm 2009, trang 573.

GVHD: Trần Hồng Ca

10

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

tố tụng muốn tạm giữ hay bắt khẩn cấp bị can, bị cáo. Những lời cảnh báo Miranda
tạm dịch là “Anh có quyền im lặng” thông báo cho một người bị tình nghi khi bị bắt
hay bị hỏi cung rằng họ có những quyền như sau:
Thứ nhất, họ có quyền im lặng và không bị yêu cầu phải đưa ra bất cứ lời khai
nào hay trả lời bất cứ một câu hỏi nào. Bất cứ điều gì họ nói có thể được ghi lại và có
thể được sử dụng để chống lại họ trong phiên toà hình sự.
Thứ hai, họ có quyền trao đổi với luật sư có thể nhận sự giúp đỡ của luật sư hay
có một luật sư bên cạnh trong bất cứ cuộc hỏi cung nào.
Thứ ba, nếu họ không có khả năng thuê luật sư, sẽ có một luật sư chỉ định cho
họ. Nếu họ muốn sự có mặt của luật sư bên cạnh mình, toà án sẽ cung cấp cho họ một


SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

14 có quy định trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi
hỏi một cách bình đẳng đầy đủ những bảo đảm tối thiểu như “Không bị ép buộc phải
chứng minh chống lại mình hoặc buộc tự thú là người có tội”11. Quyền im lặng là
quyền pháp lý cơ bản của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Quyền này được ghi nhận
rất sớm ở Anh vào thế kỷ 16. Nền tảng lý luận của quyền im lặng xuất phát từ quan
điểm lịch sử về sự cân bằng giữa quyền lực nhà nước và quyền công dân. Theo đó,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bắt buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình
hoặc không buộc phải nhận mình phạm tội. Nhà nước có nghĩa vụ phải tìm kiếm
chứng cứ để chứng minh những cáo buộc của mình12.
Chẳng hạn, theo luật của Australia: “Một người bị tình nghi không có nghĩa vụ
phải nói với điều tra viên về hành vi phạm tội bị cáo buộc và mọi nỗ lực của điều tra
viên nhằm ép người bị tình nghi nói ra sẽ dẫn đến việc bị xét lại về giá trị pháp lý khi
sử dụng một cuộc thẩm vấn như vậy trong giai đoạn truy tố sau đó”, hay khoản 3,
Điều 116 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Dự thẩm viên
phải báo cho người bị điều tra biết, nếu không được sự đồng ý của người ấy thì không
thể tiến hành hỏi cung họ nếu không có sự hiện diện của luật sư”. Ở Đức, quyền im
lặng được đảm bảo rất rộng: Bị cáo có quyền không khai báo, không nhận tội từ khi bị
tình nghi đến khi bị xét sử13. Vẫn còn nhiều quy định ở các nước khác như Điều 29 Bộ
luật tố tụng hình sự Hà Lan, Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự Italia, Điều 198 Bộ luật
tố tụng hình sự Nhật Bản14. Bên cạnh đó, hiến pháp Nhật Bản cũng qui định “không ai
bị giam giữ nếu không được thông báo tội trạng và không có luật sư bênh vực”.
Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định cụ thể về quyền im lặng
trong pháp luật tố tụng hình sự. Quy định này xuất phát từ bản chất của việc truy tố tội
phạm, trong đó nghĩa vụ của bên buộc tội phải chứng minh được tội phạm và bị cáo

có giá trị pháp lý vì bên bị buộc tội đã bị xâm phạm về quyền theo tinh thần của pháp
luật về đảm bảo đầy đủ nhân quyền cho công dân.
1.1.3.2. Quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Ở Việt Nam, quyền im lặng không được quy định trực tiếp và rõ ràng trong
Bộ luật tố tụng hình sự. Nhưng trong Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy
định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị
can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Bên cạnh
đó, Điều 49 và Điều 50 trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng đã quy định một số quyền
của người bị can, bị cáo sau khi bị bắt tạm giữ, tạm giam, trong đó có quyền được biết
lý do của việc bắt giữ, tội danh, cũng như được giải thích quyền và nghĩa vụ trong tố
tụng hình sự, quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Đặc biệt là tại điểm c,
khoản 2 của Điều 49 trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng đã quy định bị can có quyền
“ Trình bày lời khai”, trình bày lời khai là quyền chứ không phải nghĩa vụ nên có thể
nói rằng bị can có quyền trình bày và có quyền không trình bày lời khai cũng đồng
nghĩa với việc bị can vẫn có quyền giữ im lặng trong quá trình tố tụng. Bên cạnh đó,
điểm g khoản 2 Điều 50 cũng quy định bị cáo có quyền “Trình bày ý kiến, tranh luận
tại phiên tòa”.Do đó, quyền của bị can, bị cáo khi tự mình bào chữa có thể được thực
hiện hoặc không thực hiện nếu bị can, bị cáo không muốn thực hiện quyền này. Mặt
khác, theo Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự “Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì
Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa tiếp tục hỏi những người khác và xem
xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án”. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì điều
luật đã gián tiếp công nhận quyền được im lặng của bị cáo tại phiên tòa. Tuy không có
quy định rõ ràng và cụ thể về việc bị can, bị cáo có quyền im lặng nhưng sự quy định
trực tiếp về việc bị can, bị cao có quyền trình bày lời khai của mình thì cũng đã gián
tiếp nói lên trình bày lời khai là “quyền” chứ không phải “nghĩa vụ” nên bị can, bị cáo
có thể im lặng hoặc không im lặng mà tự mình bào chữa cho bản thân họ.
Việc mới đây Việt Nam chính thức tham gia Công ước chống tra tấn và ngày 1211-2013 ứng cử và được bầu vào Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc được hiểu là Nhà
nước Việt Nam chính thức công khai và cam kết nâng cao quyền con người, trong đó
có quyền im lặng. Như vậy, việc thực hiện “quyền im lặng” cũng chính là thực hiện
cam kết của mình15. Quyền im lặng theo pháp luật hình sự của thế giới đó là quyền

định “ngoan cố” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự16… Nhưng trên thực tế thì
luật chỉ quy định sự khai báo của bị can, bị cáo chỉ là tình tiết giảm nhẹ và chỉ được
xem là chứng cứ chứng minh cho vụ án đó như theo điểm b, khoản 2 của Điều 64
trong Bộ luât tố tụng hiện hành khi nó được xác minh làm rõ của Cơ quan điều tra.
Đồng thời, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tố tụng. Để phá án và
làm rõ tội phạm, Cơ quan điều tra phải dùng nhiều biện pháp chứ không chỉ phụ thuộc
vào lời khai của bị can, bị cáo nên không thể nói nghi can im lặng ảnh hưởng đến công
tác phá án.
Những vụ án oan gần đây khiến dư luận nghi ngờ do bức cung, nhục hình
nhắc nhiều đến quyền im lặng và quyền được có luật sư. Ví dụ như, vụ án Nguyễn
Thanh Kiều bị 5 công an thành phố Tuy Hòa dùng nhục hình trong quá trình lấy lời
khai dẫn đến tử vong do chấn thương sọ não, Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang) được
minh oan sau 10 năm ngồi tù cho hành vi chưa bao giờ gây ra, nếu có luật sư tham vấn
trong quá trình bị hỏi cung thì hẳn ông đã không “nhận tội bừa” và nhiều vụ án oan,
sai khác đã không xảy ra, và mới đây Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiếp tục tuyên
Lê Bá Mai án chung thân về tội Giết người và Hiếp dâm trẻ em vẫn đang gây tranh cãi.

Báo điện tử Pháp luật và Xã hội Cho phép bị can, bị cáo được quyền im lặng - Tại sao không?,
Phương Thảo. Nguồn: [ Ngày truy cập: 25 /08/2014]
16

GVHD: Trần Hồng Ca

14

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam


tòa, bị cáo phản cung, cho rằng họ đã bị bức cung, ép cung nên mới nhận tội. Lúc này,
dư luận không tránh khỏi nghi ngờ Cơ quan Điều tra đã thiếu công tâm. Vì trong

Công ty Luật hợp danh FDVN, Quyền im lặng chờ luật sư, Xuân Dung. Nguồn:
. [ Ngày truy
cập:25/08/2014]
17

GVHD: Trần Hồng Ca

15

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

những lần lấy lời khai của bị can, bị cáo chỉ có Cơ quan điều tra mới là người biết rõ
và cũng chỉ có hai bên giữa người bị can, bị cáo và Cơ quan điều tra nên cũng không
tránh khỏi sự nghi ngờ về việc Cơ quan tiến hành tố tụng vừa “ thổi còi vừa đá bóng”.
Vì thế, nếu được thực hiện quyền im lặng để chờ luật sư, người bào chữa chứng kiến,
thì họ chính là “người làm chứng” cho các lời khai của bị can, bị cáo đã khai là khách
quan, là nhân chứng khẳng định rằng có hay không bị can, bị cáo bị bức cung, ép cung,
nhục hình… Rõ ràng, nếu có quyền im lặng, Cơ quan điều tra sẽ không bị mang tiếng
“oan”, khó giải bày khi chỉ có hai bên là Điều tra viên làm việc với bị can, bị cáo.
Ở một số trường hợp khác, trong quá trình khai nhận của bị can, bị cáo trong lúc
hỏi cung không phải là sự thật. Bị can, bị cáo khai man nhằm che giấu tình tiết vụ án,
đánh lạt hướng Cơ quan điều tra nhằm để bảo vệ bản thân khỏi tội, che giấu cho người
thân, bạn bè phạm tội hoặc nhận tiền của tội phạm cho lời khai giả nhằm che giấu cho
tội phạm . Ví dụ như, vụ án Đỗ Hùng Long nhận tội thay bạn là Nguyễn Đồng Hòa


lời khai, nên không lo ngại nếu cho bị can, bị cáo quyền im lặng sẽ làm ảnh hưởng đến
công tác điều tra.
1.3. Mối quan hệ giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng
hình sự
1.3.1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội
Thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng La tinh “praesumptino”, được hiểu là
coi vấn đề, hiện tượng nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ vấn đề,
hiện tượng đó. Nguyên tắc suy đoán vô tội bắt nguồn từ luật La Mã cổ đại, cách đây
trên 15 thế kỷ nhưng nó gần như đã bị vô hiệu trong các tòa án vô nhân đạo suốt thời
Trung cổ và chỉ được phục hưng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu. Sự phục
hồi nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự dẫn đến sự ra đời của
một nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của thế giới
cho đến ngày nay, đó là quyền không tự tố giác (right against self-incrimination)19.
Nguyên tắc này đã được ghi trong nhiều văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn toàn thế
giới về nhân quyền năm 1948; Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966. Tại Điều 11 của Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hợp
quốc thì “ Bất cứ ai bị buộc tội cũng có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội đó
được chứng minh theo pháp luật tại một phiên tòa công khai mà tại đó người bị buộc
tội được đảm bảo quyền bào chữa” và khoản 2, Điều 14 trong Công ước quốc tế về
quyền chính trị và dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 đều có quy định: “Người bị
cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội
của người đó được chứng minh theo pháp luật.”. Pháp luật tố tụng hình sự của nhiều
nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên, nguyên tắc suy đoán vô tội, như một
trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự của quốc gia mình20. Đồng thời, trong mối
quan hệ với pháp luật quốc tế quy định này cũng giống với quy định tại Điều 31 Bộ
luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga năm 200121. Theo những nội dung này, một người
dù đã bị kết án bởi Tòa án mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì người này không
phải chịu hình phạt cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Báo mới online, Quyền im lặng sẽ giảm án oan, Trương Trọng Nghĩa. Nguồn:

thể hiện ở các nội dung sau: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của
Tòa án có hiệu lực pháp luật22 ; Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng
minh là mình vô tội23.
Nhìn chung thì dù ở mỗi quốc gia có những kỹ thuật lập pháp khác nhau, nhưng
điều có chung quan điểm về nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm mục đích bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của con người trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu của Nhà
nước pháp quyền bảo đảm dân chủ, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Yêu
cầu của nguyên tắc “Suy đoán vô tội” là các chủ thể của cơ quan tiến hành tố tụng phải
tôn trọng danh dự, nhân phẩm của bị can, bị cáo và phải đối xử và tôn trọng họ như
những người công dân bình thường. Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia
trong quá trình tố tụng bao gồm Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của công dân đứng trên góc độ tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, quyền công dân. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự đã thể hiện quyền được xét xử công bằng đối với bất kỳ người bị buộc
tội nào. Quyền được xét xử công bằng là một tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế
nhằm bảo vệ cá nhân không bị xâm phạm bởi bất kỳ chủ thề nào trước pháp luật.
1.3.2. Mối tương quan giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội
Quyền được suy đoán vô tội là quyền cơ bản của công dân. Trong hệ thống các
nguyên tắc của tố tụng hình sự, nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” có mối quan hệ chặt chẽ hơn cả với
nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 11 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003) và để đảm bảo quyền bào chữa thì cũng cần phải có quyền im lặng. Về
mặt pháp lý, không ai bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án cho nên nếu một người đã bị coi là có tội ngay từ khi bị khởi tố thì

22

23


một quy trình tố tụng tiến bộ, phù hợp với cải cách tư pháp mà dự thảo sữa đổi Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2014 đã ghi nhận. Một trong những nội dung cơ bản của nguyên
tắc suy đoán vô tội là mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ phải được giải thích có
lợi cho bị can, bị cáo. Bên cạnh đó, một nội dung khác của nguyên tắc suy đoán vô tội
mà Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cụ thể hóa là trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về các cơ quan tố tụng. Điều này đã tạo nên mối liên kết cho quyền im lặng của
bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự, quyền được im lặng và quyền được suy
đoán vô tội có cùng chung một mục đích chính là thể hiện nhân quyền của bị can và bị
cáo trước cơ quan tiến hành tố tụng. Theo Thạc sĩ Đinh Thế Hưng (Viện Nhà nước và
Pháp luật) chỉ ra cái thiếu đầu tiên là luật không quy định quyền được im lặng của bị
can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng. Điều này đã tạo khoảng trống pháp lý, tạo cơ
hội cho một số cơ quan tố tụng vận dụng sai nguyên tắc suy đoán vô tội24. Bởi lẽ, hoạt
động tố tụng hình sự bao gồm hai nhiệm vụ: Bảo vệ xã hội chống lại hành vi xâm hại
từ phía tội phạm và bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con
người. Suy đoán vô tội nhằm đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự
Trang Luật Đại Việt, Cần ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội”, Đức Minh. Nguồn:
[Ngày truy cập:
25/06/2014]
24

GVHD: Trần Hồng Ca

19

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử được bảo vệ bằng quyền

xác minh được để buộc tội bị can, bị cáo. Thực tiễn hiện nay cho thấy nhiều vụ án oan
trong quá trình tố tụng hình sự là do lỗi một phần từ việc xem trọng lời khai của bị
can, bị cáo hơn là chứng cứ chứng minh cho sự thật của vụ án. Do đó, khi suy đoán vô
tội cho bị can, bị cáo là tạo điều kiện cho bị can, bị cáo không phải chứng minh mình
vô tội, mà bản thân họ đang là người vô tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật

GVHD: Trần Hồng Ca

20

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

vậy nên họ không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, không có nghĩa vụ khai báo
tình tiết vụ án và đương nhiên họ được quyền im lặng
Thứ ba, suy đoán vô tội giúp giảm bớt oan sai, bức cung dùng nhục hình trong
quá trình lấy lời khai của Cơ quan tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo tạo điều kiện
cho sự phát huy quyền im lặng. Suy đoán vô tội loại trừ định kiến kết tội một chiều
trong quá trình tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo không bị xem là có
tội và có quyền im lặng hoặc trình bày lời khai, vì quyền và nghĩa vụ của bị can và bị
cáo chưa bị hạn chế do họ vẫn là người vô tội. Sự im lặng của bị can, bị cáo không bao
hàm ám chỉ im lặng là đồng ý với mọi sự cáo buộc của cơ quan tiến hành tố tụng. Bên
cạnh đó thì khi bị can, bị cáo được suy đoán là người vô tội thì dù họ có trả lời hay
không trả lời câu hỏi của Cơ quan tiến hành tố tụng thì nhiệm vụ của Điều tra viên vẫn
phải đi tìm chứng cứ chứng minh cho sự thật của vụ án. Trong luật cũng có quy định
về lời khai của bị can, bị cáo cũng cần được xem xét và đánh giá25, nói cách khác lời bị
can, bị cáo nói ra không thể lấy làm chứng cứ trực tiếp mà không cần xem xét đánh giá
và xác minh sự thật26. Do đó, khi đã xem bị can, bị cáo là người không có tội trước khi


SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như


Trích đoạn Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình Quyền trình bày lời khai của bị can, bị cáo Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Một số vụ việc cụ thể về quyền im lặng của bị can, bị cáo Đánh giá về thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng quyền im lặng để
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status