TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
...
…
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 - 2015)
ĐỀ TÀI
NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Trần Hồng Ca
Bộ môn: Luật Tư Pháp
Sinh viên thực hiện:
Phan Thị Kiều Oanh
Mã số sinh viên: 5115920
Lớp: Luật Tư Pháp 2 – K37
Cần Thơ, tháng 11/2014
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…..o0o…..
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
2.1. Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị hại………...………..15
2.1.1. Quy định về quyền của người bị hại………………………………………...15
2.1.1.1. Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và thông báo kết quả điều tra…...16
2.1.1.2. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch…………………………………………………………………………….18
2.1.1.3. Quyền đề nghị mức bồi thường và biện pháp bảo đảm bồi thường...…….20
2.1.1.4. Quyền được tham gia phiên toà và tranh luận tại phiên toà……………...22
2.1.1.5. Quyền kháng cáo của bản án, quyết định của Toà án và khiếu nại các quy
định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng…………...………..24
2.1.1.6. Quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự……………………………….27
2.1.1.7. Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi
của người bị h……………………………………………………………….…….29
2.1.2. Nghĩa vụ của người bị hại………………………………………………….29
2.1.2.1. Có mặt khi được triệu tập………………………………………………...30
2.1.2.2. Không được từ chối khai báo………………………………………….....31
2.1.2.3. Tuân thủ nội quy phiên toà……………………………...………………...32
2.2. Vấn đề liên quan đến đại diện hợp pháp của người bị hại...............................33
2.2.1. Đại diện hợp pháp trong trường hợp người bị hại chết………………...….33
2.2.2. Đại diện hợp pháp trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về thể chất và tinh thần……………………………...……….34
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI BỊ HẠI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
3.1. Bất cập và giải pháp hoàn thiện về quy định pháp luật của người bị hại trong
tố tụng hình sự……………………...………………………………………………..36
3.1.1. Tư cách chủ thể của người bị hại trong tố tụng hình sự…...…………...…37
3.1.2. Đối với quyền của người bị hại thông qua người đại diện hợp pháp của họ
Do đó, nước ta phải đối mặt với những khó khăn đòi hỏi pháp luật nước ta phải hoàn
thiện hơn để phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt là tìm ra những cơ sở để xác định
thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra cho người bị hại, nhằm buộc tội phạm phải bồi
thường thiệt hại và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại bởi hành
vi những kẻ phạm tội gây ra. Người bị hại chiếm một vị trí quan trọng trong việc đóng
góp tích cực vào công việc đấu tranh phòng chống tội phạm với mục đích góp phần
làm sáng tỏ sự thật của vụ án, truy đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
hại chưa được bảo vệ tốt. Họ cần được bảo vệ như thế nào, quy định của pháp luật về
quyền và nghĩa vụ của họ tới đâu, cũng như thực tiễn áp dụng đối với các quy định về
người bị hại ra sao vẫn chưa có sự nhận thức và hành động thống nhất, dẫn đến nhiều
quy định của pháp luật đặc biệt là pháp luật tố tụng hình sự đang còn bỏ ngõ hoặc có
những quy định chưa đủ mức răn đe để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại.
Xuất phát từ những lý do trên người viết chọn đề tài “Người bị hại trong tố
tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp. Đây là một trong những vấn đề cấp
thiết đang được xã hội quan tâm và có ý nghĩa trong việc xây dựng pháp luật phù hợp
với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Người bị hại là một trong những vấn đề quan trọng trong Bộ Luật tố tụng hình
sự. Với mục tiêu khái quát nghiên cứu của đề tài người viết tập trung nghiên cứu
quyền và nghĩa vụ của người bị hại được quy định trong luật tố tụng hình sự. Để từ đó
người bị hại hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình, giảm bớt những trường hợp
người bị hại không biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình và hậu quả là quyền và nghĩa
vụ không được đảm bảo. Ngoài ra người viết còn chỉ ra một số vướng mắc trong quy
định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị hại cũng như thực tiễn áp dụng
những quy định đó. Hiện nay do chưa được quy định cụ thể chi tiết về quyền và nghĩa
vụ của người bị hại, những hiểu biết hạn chế của người bị hại khi tham gia tố tụng nên
khi áp dụng vào trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó, người viết cũng đưa ra
Chương 2. Quy định pháp luật về người bị hại trong tố tụng hình sự
Người bị hại là người bị thiệt thòi nhất đồng thời người bị hại tham gia với tư
cách là người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ một số quyền và lợi ích của mình.Vì vậy
mà pháp luật quy định cho người bị hại một số quyền và nghĩa vụ. Người bị hại có
quyền được thông báo kết quả điều tra, được nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ,
quyền kháng cáo, quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và một số quyền khác.
Với những quyền đó có ý nghĩa giúp cho người bị hại biết được quyền của mình tới
đâu để từ đó có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình có được khi tham gia vụ án dễ
dàng hơn. Bên cạnh các quyền mà pháp luật quy định để bảo vệ lợi ích của người bị
hại thì pháp luật nước ta còn quy định người bị hại phải thực hiện như phải có mặt khi
được triệu tập, không được từ chối khai báo và tuân thủ nội quy phiên toà. Người bị
hại phải thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình để vụ án được đảm bảo khách quan,
xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội.
Chương 3. Thực trạng quy định pháp luật về người bị hại và hướng hoàn
thiện
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của người bị hại qua quá trình
tồn tại và pháp triển ngày càng được sửa đổi, bổ sung đầy đủ và hoàn thiện hơn. Tuy
nhiên, qua quá trình áp dụng pháp luật cũng bộc lộ một số bất cập trong các quy định
cũng như trong thực tiễn giải quyết vụ án. Ở chương này, người viết đã đưa ra một số
vướng mắc và giải pháp cả về pháp lý lẫn thực tiễn nhằm khắc phục những hạn chế
góp phần nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
hại trong tố tụng hình sự.
Đề tài nghiên cứu “Người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” đây là một
vấn đề quan trọng trong tố tụng hình sự, để nội dung nghiên cứu được hoàn thiện đòi
hỏi cần một thời gian nghiên cứu tìm hiểu pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Do
thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu
sót, người viết rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô và các bạn để luận văn
được hoàn thiện hơn. Qua đề tài này xin gửi lời cám ơn đến cô Trần Hồng Ca đã giúp
tổ chức. Do đó, tùy vào quy định của pháp luật của mỗi quốc gia mà chế định này có
nhiều cách áp dụng và định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung là quyền và lợi ích hợp
pháp của họ đã bị hành vi vi phạm pháp luật của tội phạm xâm hại và cần được pháp
luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ở nước ta, khái niệm người bị hại lần đầu tiên được quy định trong Thông tư số
16/TATC ngày 27/09/1974 của Toà án Nhân dân tối cao5. Theo đó, người bị hại được
1
Điều 53, Bộ luật Tố tụng hình sự Liên Bang Nga.
Khoản 1, Điều 43, Bộ luật Tố tụng hình sự của Tiệp Khắc.
3
Khoản 1, Điều 40, Bộ luật Tố tụng hình sự của Ba Lan.
4
Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, (01).
5
Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, (01).
2
định nghĩa “Là công dân đã bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâm hại đến thể chất, tài sản,
hoặc xâm phạm về tinh thần ( như bị lăng nhục, đánh, giết, trộm cắp, lừa đảo…)”.
Định nghĩa đã chỉ ra người bị hại là cá nhân, không thể là cơ quan, tổ chức, đồng thời
đối tượng tác động của tội phạm là thể chất, tinh thần hoặc tài sản của cá nhân đó.
Người bị hại là một trong những người tham gia tố tụng với tư cách chủ thể là
người có quyền và lợi ích pháp lý bản thân cần được bảo vệ trước pháp luật, là một
trong những người tham gia tố tụng có mặt trong hầu hết các vụ án hình sự. Người bị
hại là chủ thể được nhắc đến nhiều trong những vụ án hình sự, nhưng tại sao pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam lại xác định họ là người bị hại, khái niệm về người bị hại
được định nghĩa ra sao cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Do đó, dẫn đến khái
niệm người bị hại được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau:
Sự tương đồng giữa khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tạo nên sự dễ hiểu hơn về khái
niệm người bị hại. Theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 “Người bị
hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra”.
Theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 “Người bị hại là người bị
thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Từ hai khái niệm trên cho
thấy nội hàm của hai quy định trên không có gì thay đổi nhưng khái niệm người bị hại
tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tương đối ngắn gọn hơn khái
niệm người bị hại theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 về mặt câu
chữ.
Về lý luận cũng như thực tiễn, không phải tội phạm nào, không phải vụ án nào
cũng có người bị hại. Ví dụ như tội gây rối trật tự công cộng, thì hành vi xâm hại
hướng tới là trật tự công cộng, hay nói cách khác, thì đối tượng tác động của tội phạm
này là trật tự công cộng. Do vậy, vụ án có tội danh này, không có người bị hại. Nếu
hành vi gây gối trật tự công cộng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khoẻ,
tài sản của người nào đó, thì tuỳ vào trường hợp cụ thể, mà người phạm tội có thể bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng. Đối với tội chống người thi hành
công vụ, gây ra thương tích hoặc làm chết người hoặc làm hư hỏng tài sản của người
thi hành công vụ, thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh được
quy định trong Bộ luật hình sự.
Để giải thích khái niệm người bị hại theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
cần xem xét ba vần đề sau:
Về chủ thể, có hai quan điểm về người bị hại. Quan điểm thứ nhất cho rằng
người bị hại chỉ có thể là thể nhân, một con người cụ thể, tổ chức hoặc pháp nhân
không thể là người bị hại7. Quan điểm thứ hai thì cho rằng, ngoài cá nhân là người bị
hại, trong trường hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải
xem tổ chức hoặc pháp nhân đó là người bị hại8. Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, chỉ coi người bị hại là công dân, pháp nhân hay tổ chức không được coi là người
bị hại. Tuy nhiên, về vấn đề kiểm tra căn cước của những người được triệu tập và có
mặt tại phiên toà. Nghị quyết số 04/2004/NQ - HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng
trường hợp bị ngược đãi, hành hạ, bị giết chết, bị thương tích. Đối với thiệt hại về tài
sản đã được hiểu là những tài sản của người bị hại12. Ví dụ như tài sản bị mất, bị chiếm
đoạt, huỷ hoại hoặc hư hỏng.
Về căn cứ phát sinh, một người được xác định là người bị hại khi bị hành vi
nguy hiểm của tội phạm gây ra trực tiếp và hành vi đó xâm hại đến tinh thần, thể chất
hoặc tài sản đã được quan hệ pháp luật hình sự bảo vệ, người bị thiệt hại về tinh thần,
thể chất, tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong tố tụng hình sự khi
họ được cơ quan thẩm quyền công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập đến
khai báo với tư cách người bị hại13. Cơ bản thì một khi tội phạm gây ra thiệt hại cho ai
đó, thì người bị họ gây thiệt hại chưa tham gia tố tụng ngay với tư cách người bị hại,
mà cho đến khi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xác định họ là người bị hại
trong vụ án hình sự.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm người bị hại cần phải nghiên cứu qua một số khái
niệm liên quan nhằm làm rõ, xác định đúng tư cách người bị hại trong tố tụng hình sự
như là cá nhân, tổ chức, người tham gia tố tụng cũng như nạn nhân của tội phạm. Theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 người bị hại là “người bị thiệt hại” phải là
9
Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên), (2009), Bình luận khoa học, Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, NXB
Chính trị Quốc gia – Hà Nội, tr.109.
10
Phạm Văn Beo (2004), Giáo trình Luật hình sự phần chung, khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, tr.183.
11
Phạm Văn Beo (2004), Giáo trình Luật hình sự phần chung, khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, tr.183.
Phạm Văn Beo (2004), Giáo trình Luật hình sự phần chung, khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, tr.183.
13
Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
tr.104.
1.1.2. Đặc điểm tố tụng của người bị hại
Để bảo đảm quá trình giải quyết vụ án hình sự, khách quan, toàn diện chính
xác, triệt để các vụ án hình sự thì việc xác định người bị hại, thiệt hại họ đã bị tội
phạm xâm hại đến là có cần hậu quả xảy ra không, cũng như những thiệt hại đó là trực
14
Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Tội phạm học, NXB Công an nhân dân, tr.176.
tiếp hay gián tiếp bị xâm hại thì mới được xem là người bị hại và có cần phải do tội
phạm gây ra hay không. Đó là những đặc điểm quan trọng trong việc xác định người bị
hại trong vụ án hình sự. Vì vậy để hiểu rõ hơn về những vấn đề đó cũng như những
khó khăn, vướng mắc khi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng,
thực hiện khi xác định người bị hại.
Từ những lý do trên và từ khái niệm chung về người bị hại đã được quy định
trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, có thể khái quát chung về đặc điểm tố tụng
của người bị hại như sau:
Một là, người bị hại tham gia tố tụng để bảo vệ bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý
của bản thân liên quan đến vụ án15. Đặc điểm này được hiểu một khi người bị hại
tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự họ chỉ xem trọng và đặt vấn đề bảo vệ quyền và
lợi ích của bản thân. Bởi vì, người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ
bị xâm hại nặng nề nhất so với những người tham gia tố tụng khác và cũng vì quyền và
lợi ích của bản thân bị thiệt hại nên có thể ảnh hưởng nhiều đến việc cung cấp lời khai
của họ, việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu có liên quan đến vụ án trong đó làm sao
trong quá trình giải quyết vụ án phải đảm bảo được quyền, lợi ích của bản thân họ như
họ muốn. Trong những trường hợp vì quyền và lợi ích bị tội phạm xâm hại nên người
bị hại tham gia tố tụng với mong muốn vụ án được giải quyết kịp thời nhằm bù đắp lại
những thiệt hại mà họ đã và đang phải gánh chịu.
Hai là, đặc điểm đặc trưng cho người bị hại là được kháng cáo bản án quyết
tụng hình sự năm 2003). Thông thường việc chứng minh tội phạm sẽ thuộc về cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền, trong đó việc khởi tố vụ án hình sự là thuộc trách nhiệm của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thụ lý vụ án và giải quyết theo trình
tự thủ tục quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 thì có một số trường hợp liên quan trực tiếp đến hành vi xâm hại sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm như cố ý gây thương tích, vu khống, hiếp dâm….thì cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của
người bị hại. Người bị hại có quyền thể hiện ý chí của mình với mong muốn vụ án
được khởi tố hoặc không khởi tố và người bị hại tự tính toán những lợi ích sẽ đạt được
hoặc những tổn thất phải gánh chịu. Đặc điểm này là thể hiện tính dân chủ của pháp
luật xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến quyền và lợi ích của
người bị hại. Đây là quy định mà pháp luật ghi nhận cho người bị hại còn những người
tham gia tố tụng khác không được thể hiện quyền này.
1.1.3. Thời điểm xuất hiện tư cách người bị hại trong tố tụng hình sự
Đề cập đến người bị hại thì có không ít những quan điểm của những người
nghiên cứu luật giải thích nào là khái niệm, quyền và nghĩa vụ của người bị hại. Trong
đó kể cả những quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng vậy, vẫn chưa đề cập đến
thời điểm xuất hiện tư cách người bị hại. Việc xác định thời điểm xuất hiện tư cách
người bị hại phải chăng là không cần thiết. Tuy nhiên để có thể hiểu rõ ràng về người
bị hại cần phải làm rõ thời điểm xuất hiện tư cách chủ thể bị hại. Việc thừa nhận người
nào đó là người bị hại phải theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hoặc Toà án đã được quy định tại khoản 4 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
2003.Thường thì khi một vụ án hình sự xảy ra có một người cụ thể nào đó trong xã hội
bị thiệt hại và họ tố giác về hành vi mà tội phạm gây ra thiệt hại cho họ với Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc khi một người đại diện cho một người
đã và đang bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thông báo về thiệt hại, thì khi đó tư
cách chủ thể của họ xuất hiện. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm xuất hiện tư cách
người bị hại vẫn chưa rõ ràng. Bởi vì, có những trường hợp vụ án xảy ra rất lâu có
quan chức năng có thẩm quyền xem xét một thiệt hại nào đó là chưa chính xác thì có
thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng có thể làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của các
bên cũng như tư cách tố tụng mà các bên tham gia.
Thứ hai, sự tham gia của người bị hại nhằm cung cấp chứng cứ để làm rõ thực
tế khách quan vụ án hình sự. Trong vụ án sẽ có nhiều lời khai, nhiều chứng cứ mà các
cơ quan chức năng có thẩm quyền tìm ra từ hoạt động thực tế điều tra cũng như lấy lời
khai của các người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Vì vậy, nếu như những
tài liệu chứng cứ đó không phản ánh được sự thật khách quan của vụ án thì có thể dẫn
đến nhiều khó khăn đối với cơ quan điều tra. Do người bị hại là người chịu thiệt hại
trực tiếp từ tội phạm, họ biết rõ về tình tiết của vụ án họ có thể cung cấp những tài
liệu, chứng cứ mà cơ quan chức năng không thể tìm thấy được. Từ những tài liệu,
chứng cứ đó mà các cơ quan chức năng có thể so sánh đối chiếu thực hiện một số hoạt
động nghiệp vụ để tìm ra sự thật vụ án đồng thời giải quyết vụ án một cách chính xác,
đúng đắn và thuyết phục hơn. Ngoài ra những tài liệu, chứng cứ do người bị hại cung
cấp có thể giúp cho việc phát hiện những tội phạm nguy hiểm lợi dụng thiếu sót của cơ
quan chức năng mà thực hiện hành vi phạm tội từ đó có những biện pháp hiệu quả hơn
để phòng ngừa tội phạm.
Thứ ba, sự tham gia của người bị hại nhằm xác định ra sự thật của vụ án. Trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì việc xác định sự thật khách quan của vụ án không
chỉ là mục đích của hoạt động tố tụng mà còn thể hiện toàn bộ nội dung bản chất của
quá trình chứng minh tội phạm đồng thời bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự
đúng đối tượng, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không lọt tội
phạm. Qua các tài liệu mà người bị hại cung cấp cho các cơ quan đòi hỏi cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải xác định chứng cứ đó có đúng với thực tế
khách quan hay không, có đúng sự việc phạm tội không sau khi đã điều tra, đánh giá
và công nhận thì việc tiếp theo của cơ quan là xác định tội phạm và xử lý như thế nào
để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội.
Ngoài ra việc xác định đúng người, đúng tội còn thể hiện được sự uy nghiêm của pháp
chưa được bảo vệ tốt và kịp thời. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sựu dường như
cơ quan có thẩm quyền chưa xem người bị hại như một bên trong quá trình tố tụng để
có sự quan tâm cần thiết. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người
tham gia tố tụng đó có người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng thời để
việc tham gia tố tụng của họ vào quá trình giải quyết vụ án đạt hiệu quả đòi hỏi Cơ
quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải tôn trọng và thực hiện. Người bị
hại là chủ thể xuất hiện hầu hết các vụ án hình sự và tham gia vào quá trình tố tụng
hình sự cho nên một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người bị hại
đó là pháp luật tố tụng hình sự.
Bên cạnh đó để bảo vệ người bị hại, đầu tiên cần bảo vệ những thông tin mà
người bị hại cung cấp bởi những thông tin đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần
giúp các cơ quan chức năng phát hiện tội phạm và giải quyết đúng đắn, triệt để vụ án
hình sự. Từ những lý do đó, việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại là việc làm cần
thiết. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung
và người bị hại nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong định hướng cải
cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụn hình sự nước ta hiện nay. Vì vậy,
Nhà nước cần phải có biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bị
hại.
1.3. Ý nghĩa của chế định người bị hại trong tố tụng hình sự
Từ những vai trò trong việc xác định người bị hại nêu trên có thể thấy được sự
quan trọng của người bị hại trong vụ án hình sự, từ đó có thể khái quát được ý nghĩa
xác định người bị hại trong vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, việc xác định người bị hại thể hiện rõ sức mạnh của Nhà nước trong
việc quản lý xã hội bằng pháp luật. Thông qua Luật tố tụng hình sự, Nhà nước thực
hiện quyền lực của mình trong lĩnh vực đấu tranh phòng và chống tội phậm góp phần
giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ngăn ngừa và khắc phục những hậu
quả do hành vi phạm tội gây ra. Do người bị hại là người trực tiếp thiệt hại về thể chất,
tinh thần, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm tài sản do hành vi phạm tội gây ra
sự. Do đó để xác định đúng tội phạm để đưa ra các phán quyết đúng người, đúng tội
tránh oan sai thì việc xác định người bị hại, các thiệt hại cũng như những chứng cứ
trong vụ án là rất quan trọng, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng cần thận trọng.
2.1. Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị hại
Do tính chất, đặc điểm của người bị hại là người chịu thiệt thòi nhiều nhất trong
vụ án hình sự các thiệt hại đó là về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Đồng
thời người bị hại tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích của mình. Vì vậy, mà pháp luật quy định cho người bị hại một số
quyền và nghĩa vụ. Với quyền này người bị hại có thể yêu cầu để bảo vệ được quyền
và lợi ích chính đáng của mình trong việc giải quyết vụ án, còn riêng đối với nghĩa vụ
thì người bị hại phải thực hiện để vụ án được giải quyết một cách khách quan và chính
xác.
2.1.1. Quy định về quyền của người bị hại
Người bị hại là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm, vì vậy mà việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại là cần thiết. Do là người cần bảo vệ do đó
pháp luật đã quy định một số quyền cụ thể đó là quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu
để chứng minh sự thiệt hại; quyền được thông báo về kết quả điều tra; quyền đề nghị
thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; quyền đề nghị
mức bồi thường và biện pháp bảo đảm bồi thường; quyền được tham gia phiên toà và
tranh luận tại phiên toà; quyền kháng cáo của bản án, quyết định của Toà án và khiếu
nại các quy định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; quyền
nhờ người khác bảo vệ. Từ đây, giúp cho người bị hại biết được quyền của mình đến
đâu để từ đó có thể bảo vệ quyền và lợi ích mà mình có được khi tham gia vụ án dễ
dàng hơn.
2.1.1.1. Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và thông báo kết quả điều tra
Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật của người bị hại là quyền mà người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ được cung cấp tài liệu, đồ vật có thể là vật chứng, kết
lợi ích hợp pháp của mình người bị hại được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu có liên
quan đến vụ án.
Như vậy, để có thể bảo vệ quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người
bị hại thì điều đầu tiên là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải giải
thích cho họ biết họ có quyền được đưa ra những tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Khi đưa ra
tài liệu, đồ vật, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải kiểm
tra, xem xét và xác minh thật cẩn thận để tránh trường hợp bỏ sót những tài liệu, đồ vật
có ý nghĩa làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Tạo điều kiện cho người bị hại có thể đưa ra
tài liệu, đồ vật, yêu cầu ở những giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng như giai
đoạn điều tra hoặc trong giai đoạn xét xử tại phiên toà. Khi cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng có thể làm tốt việc bảo vệ quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
của người bị hại; Trước tiên là có thể bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Bên cạnh đó, đảm bảo vụ án có thể giải quyết đúng đắn, khách quan giữa
các bên chủ thể (người tiến hành tố tụng - người tham gia tố tụng và những người
tham gia tố tụng với nhau). Để quá trình chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng diễn ra nhanh chóng, kịp thời. Nếu làm không tốt việc
bảo vệ quyền này của người bị hại có thể không bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân; Làm cho quá trình giải quyết vụ án không được đúng đắn, khách
quan; Quá trình chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng diễn ra không đầy đủ, kịp thời.
Trong vụ án người bị hại là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến
vụ án. Các thông tin về vụ án mà các cơ quan có thẩm quyền thu được ảnh hưởng đến
quyền lợi của họ. Vì vậy mà pháp luật nước ta đã quy định ở điểm b khoản 2 Điều 51
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 “Người bị hại có quyền được thông báo về kết quả
điều tra”. Từ thông báo kết quả điều tra người bị hại có thể biết được những vấn đề
thuộc về nội dung của vụ án, trên cơ sở đó người bị hại có thể chuẩn bị tài liệu, chứng
cứ, lý lẽ để chứng minh cho thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra cho mình.
Quyền được thông báo về kết quả điều tra của người bị hại đó là quyền được
xa thì có thể chuyển thông báo về kết quả điều tra cho Uỷ ban nhân dân xã, phường,
thị trấn nơi người bị hại cư trú để chính quyền địa phương chuyển và thu nhận chữ ký
của họ và gửi lại cho cơ quan tiến hành tố tụng.
2.1.1.2. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch
Người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch là các chủ thể góp
phần quan trọng trong hoạt động tố tụng. Với vai trò của mình người tiến hành tố tụng
tiến hành hoạt động chứng minh vụ án hình sư, để sự thật vụ án được xác định khách
quan, chính xác. Riêng đối với người giám định, người phiên dịch là người góp phần
vào việc xác định sự thật của vụ án tạo điều kiện thuận lợi vụ án xét xử nhanh, đúng sự
thật. Do đó, để vụ án được giải quyết công bằng, chính xác, khách quan không bỏ lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội đòi hỏi người tiến hành tố tụng, người phiên
dịch, người giám định phải đảm bảo sự vô tư trong khi làm nhiệm vụ của mình. Đó là
phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ
công tâm, khách quan, trong hoạt động tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
giải quyết vụ án.
Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch được hiểu là quyền được bày tỏ ý chí, nguyện vọng không chấp nhận một hoặc
một số chủ thể như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư
ký toà án hoặc người giám định, người phiên dịch tham gia vào quá trình tố tụng giải
quyết vụ án. Sự không chấp nhận những chủ thể trên có thể được thể hiện trong giai
đoạn tiến hành tố tụng khác nhau nếu người bị hại xét thấy việc tham gia giải quyết vụ
án của những chủ thể đó không có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại tham gia vào quá trình tố
tụng giải quyết vụ án, nên một khi người bị hại thấy trong quá trình giải quyết vụ án có
sự không đúng đắn, khách quan thì pháp luật tố tụng hình sự cho phép họ được quyền
đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. Quy định
được ghi nhận tại điểm c khoản 2 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003“Người
quyền đề nghị thay đổi để đảm bảo vụ án được xét xử khách quan, đảm bảo quyền lợi
của người bị hại. Vì rất có thể sự không vô tư, thiên về tình cảm, tư thù cá nhân mà
người tiến hành tố tụng gây khó khăn cho người bị hại. Bên cạnh, đó người giám định,
người phiên dịch cũng phải có thái độ công tâm khi thu thập, đánh giá chứng cứ và kết
luận các vấn đề của vụ án, phải dựa vào các quy định làm căn cứ, hướng tới công lý,
bình đẵng làm mục tiêu của toàn bộ tố tụng không vì tình riêng mà thiên vị đưa ra các
quyết định không phù hợp với thực tế khách quan và trái pháp luật.16 Quyền này có giá
trị cho vụ án được giải quyết khách quan, thể hiện sự công bằng trong pháp luật. Nếu
quyền đề nghị thay đổi này không được đảm bảo thì quyền và nghĩa vụ của người bị
hại nói riêng và các bên tham gia tố tụng nói chung sẽ không được đảm bảo vì có thể
do tình cảm, thân thích, các cơ quan tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch sẽ không vô tư khi làm nhiệm vụ của mình dẫn đến có thể vụ án sẽ xét xử không
đúng như các tình tiết của nó.
Do người bị hại là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì vậy
người tiến hành tố tụng không thể đồng thời là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người thân thích vì không thể vô tư
trong khi tiến hành tố tụng, xem xét giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của
chính ngay bản thân mình, người mà mình đại diện, hoặc người thân thích. Còn riêng
đối với việc người giám định, người phiên dịch thì người giám định là người cung cấp
những chứng cứ cần thiết cho vụ án vì lẽ đó họ không thể đồng thời là người tiến hành
tố tụng cùng một vụ án. Vì lúc đó thì người giám định vừa là người cung cấp chứng
cứ, vừa thu thập kiểm tra, đánh giá các chứng cứ đó. Vì vậy không đảm bảo khách
quan trong quá trình giải quyết vụ án. Người phiên dịch tham gia vào việc giải quyết
vụ án khi có người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt, sự giao tiếp trong quá trình
giải quyết vụ án và việc xác định sự thật của vụ án phụ thuộc một phần vào người
phiên dịch. Do vậy để đảm bảo sự khách quan trong khi làm nhiệm vụ thì người phiên
dịch cũng không đồng thời là người tiến hành tố tụng.17
Tóm lại, khi người bị hại thấy có những căn cứ trên từ người tiến hành tố tụng,
người giám định, người phiên dịch để đảm bảo quyền lợi của mình thì người bị hại có