Địa vị pháp lí của người bị hại trong tố tụng hình sự - Pdf 34

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………..1
NỘI DUNG
1. Khái niệm người bị hại và địa vị pháp lý của người bị hại……………………….....1
2. Quyền và nghĩa vụ của người bị hại theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
hiện hành………………………………………………………………………………….2
2.1 Quyền của người bị hại………………………………………………………………2
2.1.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;……………………………………………………2
2.1.2 Quyền được thông báo về kết quả điều tra………………………………………...……...3
2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng,người giám định, người phiên dịch.3
2.1.4 Quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường……………….4
2.1.5 Quyền tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà…………………4
2.1.6 Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng…………………………………………………………………………………….…….5
2.1.7 Quyền kháng cáo:………………………………………………………………………..……
6
2.1.8 Quyền đối với kết quả giám định……………………………………………………………6
2.1.9 Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền lợi cho
mình…………………………………………………………………………………………………...7
2.1.10 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự……………………………………………………..7
2.1.11 Quyền rút yêu cầu khởi tố………………………………………………………………….8
2.1.12 Quyền trình bày lời buộc tội……………………………………………………………….8
2.2 Nghĩa vụ của người bị hại…………………………………………………………….9
2.2.1 Nghĩa vụ có mặt tại theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án.9
2.2.2 Nghĩa vụ khai báo…………………………………………………………………………..10
II. Việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại………………11
1. Vấn đề liên quan đến đại diện hợp pháp của người bị hại:…………………………..11
2. Vấn đề liên quan đến việc quy định và thực hiện các quyền của người bị hại……...12
3. Vấn đề liên quan đến chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại……….14
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759


quyền và lợi ích của mình, đồng thời cũng là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác thì pháp luật cũng đặt ra cho người bị hại những nghĩa vụ nhất định.
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

2


Tóm lại địa vị pháp lí của người bị hại là tổng thể các quyền và nghĩa v ụ của người
bị hại khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS và được quy phạm pháp luật điều chỉnh
2. Quyền và nghĩa vụ của người bị hại theo quy định của pháp luật TTHS Việt
Nam hiện hành.
2.1 Quyền của người bị hại
BLTTHS năm 2003 đã quy định cho người bị hại một số quyền tại khoản 2 Điều 51.
“Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:
a) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Được thông báo về kết quả điều tra;
c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo
quy định của Bộ luật này;
d) Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;
đ) Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn;
e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
g) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại.”
Ngoài các quyền trên thì người bị hại có quyền đặc thù là quyền yêu cầu khởi tố vụ
án hình sự và rút yêu cầu khởi tố điều 105 BLTTHS.Trong trường hợp vụ án được khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình
bày lời buộc tội tại phiên tòa khoản 3 Điều 51 BLTTHS: “ Trong trường hợp vụ án
được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì
người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà”.

pháp luật không có hướng dẫn cụ thể.
2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch
Đây là một quyền khá phổ biến cho những người tham gia tố tụng để bảo đảm sự
công bằng và nghiêm minh của pháp luật. Quyền này được quy định tại điểm c khoản 2
điều 51 BLTTHS.
Đối với vụ án hình sự thì quyền lợi của người bị hại luôn đối lập với quyền lợi của
người phạm tội. Vì vậy, họ cần người tiến hành tố tụng phải thật sự khác quan và vô tư
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

4


mới đảm bảo được quyền lợi của họ. Khi có căn cứ cho rằng người tiến hành tố tụng,
người giám định, người phiên dịch không vô tư trong khi giải quyết vụ án thì người bị
hại có quyền đề nghị thay đổi họ. Điều 42 BLTTHS quy định về những trường hợp
người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư kí Tòa án. Điều 60 và điều 61 BLTTHS quy định về
các trường hợp người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng.
2.1.4 Quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường
Người bị hại quan tâm đến việc quyền lợi của họ được giải quyết như thế nào vì họ
là những người bị thiệt hại về tinh thần, thể chất, tài sản do hành vi phạm tội gây
ra.Việc bồi thường thiệt hại để bù đắp thiệt hại bị xâm hại của người bị hại là rất cần
thiết. Vì vậy, điểm d khoản 2 điều 51 BLTTHS đã quy định cho người bị hại hoặc đại
diện hợp pháp của họ có quyền “đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi
thường”. Tuy vậy, thiệt hại do người phạm tội gây ra cho người bị hại nhiều lúc không
thể khôi phục được hoàn toàn mà chỉ có thể khắc phục được phần nào. Do đó, pháp luật
quy định cho người bị hại có quyền đề nghị mức bồi thường để bù bắp những mất mát
của mình.
Người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại còn có quyền đề nghị các

thủ tục quy định tại chương XXXV của BLTTHS năm 2003 quy định: khiếu nại, tố cáo
trong TTHS. Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP
ngày 10/8/2005 quy định: “Khiếu nại trong tố tụng hình sự là việc cá nhân, cơ quan ,
tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi
tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
BLTTHS 2003 cũng quy định chi tiết về quyền và nghĩa vị của người khiếu nại,
người bị khiếu nại. Đó là phương tiện pháp lý cần thiết để qua đó quyền này của người
bị hại sẽ được đảm bảo thực hiện và có hiệu quả hơn.
Thời hạn khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng mà người bị hại cho là có vi
phạm là 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc được quyết định, hành vi tố tụng đó. Trong một
số trường hợp do trở ngại khách quan mà người bị hại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không được tính vào thời điểm
khiếu nại.
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

6


2.1.7 Quyền kháng cáo:
Quyền kháng cáo là một quyền quan trọng của người bị hại. Theo quy định tại khoản
2 điều 51 BLTTHS, người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền “ Kháng cáo
bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại”. Theo hướng dẫn của Hội
đồng thẩm phán TANDTC trong nghị quyết số 05 ngày 08/12/2005 về phần những chủ
thể được quyền kháng cáo thì không chỉ người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị
hại có quyền kháng cáo mà người được người bị hại ủy quyền cũng có quyền kháng
cáo.
Khi phạm tội xảy ra thì quan hệ pháp luật hình sự xuất hiện là quan hệ giữa cơ quan
nhà nước và chủ thể của tội phạm. Mỗi quan hệ giữa bị can, bị cáo và người bị hại là
mối quan hệ dân sự trong việc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra. Dù

việc quy định cho người bị hại có quyền được biết về kết luận giám định, được trình
bày ý kiến về kết luận giám định, được yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại là
cần thiết để bảo đảm quyền lợi cho người bị hại.
2.1.9 Quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác bảo vệ quyền
lợi cho mình.
Người bị hại là người đã bị gây thiệt hại vì vậy họ tham gia tố tụng là bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật quy định cho họ có quyền tự mình bảo vệ
quyền lợi cho mình hoặc có thể nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác
nhưng phải được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận. Tuy nhiên, “ hiện nay chưa có
quy định cụ thể về bào chữa viên nhân dân và trong thực tiễn hoạt động của người bào
chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống, điều kiện trở thành
bào chữa viên nhân dân cũng không được quy định” trong khi đó luật sư khá phổ biến
và đã có cả văn bản pháp lí riêng điều chỉnh là luật sư nên người dân chủ yếu nhờ luật
sư bào chữa cho mình.
2.1.10 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Quyền yêu cầu khởi tố vụ án là quyền đăc thù của người bị hại. Khởi tố vụ án hình
sự theo yêu cầu của người bị hại là trường hợp do tính chất của vụ án và vì quyền lợi
của người bị hại nên các cơ quan có thẩm quyền không tự mình khởi tố mà việc khởi tố
chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của người bị hại.

Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

8


Khi hành vi phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội và việc giải quyết vụ án
trên thực tế có thể mang lại những hậu quả bất lợi gây tổn hại thêm cho người bị hại thì
pháp luật cho phép người bị hại quyết định có hay không có yêu cầu khởi tố vụ án.
Khoản 1 điều 105 BLTTHS 2003 quy định: “Những vụ án về các tội phạm được quy
định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của

Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội
tại phiên toà”. Quy định này thể hiện sự quan tâm tới tâm tư, tình cảm của người bị hại.
Do người bị hại là người phải chịu hậu quả hành vi phạm tội gây ra nên pháp luật để
cho người bị hại có quyền pháp quyết hành vi phạm tội. Hiện nay pháp luật quy định
cho người bị hại có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toad nhưng chưa có quy định
cụ thể về hình thức, nội dung của lời buộc tội vì vậy người bị hại chưa thực hiện tốt
quyền này.
2.2 Nghĩa vụ của người bị hại
Bên cạnh các quyền cơ bản nêu trên thì pháp luật TTHS quy định những nghĩa vụ
mà người bị hại phải thực hiện nhằm mục đích giải quyết vụ án hình sự một cách có
hiệu quả. Theo quy định tại khoản 4 điêu 51 BLTTHS 2003 thì người bị hại có nghĩa vụ
có mặt tại theo giấy triệu tập của cơ quan tố tụng và phải có nghĩa vụ khai báo.
2.2.1 Nghĩa vụ có mặt tại theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, sự có mặt của người bị hại là rất cần thiết.
Sự tham gia tố tụng của người bị hại vừa là quyền đồng thời là nghĩa vụ, không những
bảo đảm được quyền lợi của họ mà còn góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng và
chính xác. Nghĩa vụ có mặt phải của người bị hại được quy định tại khoản 4 Điều 51
BLTTHS “ người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án”. Tại cơ quan tiến hành tố tụng người bị hại sẽ được giả quyết về
quyền và nghĩa vụ của mình từ đó giúp họ thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của mình
theo pháp luật. Theo quy định của BLTTHS thì khi nhận được giấy triệu tập của cơ
quan tiến hành tố tụng thì người bị hại phải có mặt để trình bày những vấn đề liên quan
đến vụ án. Tại đây, người bị hại phải khai báo những tình tiết của vụ án mà họ biết được
để cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thêm hồ sơ vụ án. Các cơ quan tiến hành tố tụng triệu

Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

10



11


người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải phối hợp với cơ quan tiến hành
tố tụng thông qua việc khai báo.
Tại khoản 4 điều 51 BLTTHS quy định: “ nếu từ chối khai báo mà không có lí do
chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 308 của bộ
luật hình sự”. Hành vi từ chối khai báo thể hiện dưới dạng không chấp nhận yêu cầu
của cơ quan tiến hành tố tụng về việc khai báo, trốn tránh việc khai báo thông qua các
hành vi như: không đến theo giấy triệu tập hoặc đến nhưng không chịu khai báo dù
không có lí do chính đáng. Nói cách khác người bị hại được cho là từ chối khai báo khi
họ biết những thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án…nhưng họ không chịu khai mà
không có lí do chính đáng. Người bị hại là một “ nhân chứng” quan trọng của vụ án vì
vậy việc bảo đảm để người bị hại khai báo trung thực cũng là đảm bảo để họ thực hiện
quyền lợi của mình.
II. Việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại
1. Vấn đề liên quan đến đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Thứ nhất, khoản 5 Điều 51 BLTTHS quy định: “Trong trường hợp người bị hại
chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền được quy định tại điều này”.
Như vậy trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về
tâm thần, thể chất khi tham gia tố tụng thì đại diện hợp pháp của họ có được tham gia
tố tụng và có được hưởng các quyền của người bị hại không? Theo tinh thần nội dung
Điều 51 BLTTHS thì người đại diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp này
được tham gia tố tụng nhưng không được thực hiện các quyền của người bị hại. Tuy
nhiên, theo tinh thần của Điều 59 Bộ luật tố BLTTHS thì người bảo vệ quyền lợi cho
người bị hại được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại. Nội
dung các quyền của người này không khác nhiều so với nội dung các quyền quy định
cho người bị hại (Điều 51). Để khắc phục bất cập này, các nhà làm luật cần thiết phải
bổ sung nội dung này vào Điều 51 BLTTHS.

và quyết định của Tòa án thì người bị hại không có quyền kháng cáo. Trong khi đó tại
Điều 231 Bộ luật TTHS lại quy định: “ Người bị hại và người đại diện hợp pháp của
họ có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Tòa án” Như vậy theo quy định này
thì người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Điều luật
không thể hiện bất cứ sự giới hạn nào như tinh thần của Điều 51 Bộ luật TTHS. Như
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

13


vậy phải chăng nội dung hai điều luật lại mâu thuẫn với nhau và khi gặp trường hợp
trên Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Cho đến nay chưa có văn bản nào của cơ quan có
thẩm quyền hướng dẫn áp dụng hai điều luật trên, vì vậy mỗi nơi áp theo cách hiểu
riêng của mình. Để khắc phục sự mâu thuẫn, đảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp
dụng, cũng như để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người bị hại theo chúng tôi cần
thiết phải sửa lại nội dung Điều 51 Bộ luật TTHS theo hướng cho phép người bị hại
hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết
định của tòa án cấp sơ thẩm.
Thứ hai, nghiên cứu các quy định trong Bộ luật TTHS hiện hành cho thấy pháp luật
TTHS chưa khẳng định người bị hại là một bên trong tranh tụng, thực hiện chức năng
buộc tội. Theo chúng tôi có lẽ đây cũng là một khiếm khuyết của các quy định pháp
luật, thực chất cùng với các chủ thể khác như kiểm sát viên, nguyên đơn dân
sự..., người bị hại cũng là một bên trong tranh tụng, hành vi tố tụng của người bị hại
góp phần quan trọng trong tiến trình đi tìm sự thật của vụ án, công lý và sự công bằng
của pháp luật, đặc biệt là trong những vụ án mà việc khởi tố phải do người bị hại yêu
cầu. Do vậy, để khẳng định vị trí, vai trò và đảm bảo có hiệu quả các quyền của người
bị hại chúng tôi đề nghị:
+ Sửa lại Điều 191 Bộ luật TTHS theo hướng khẳng định: trường hợp tại phiên
tòa người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa,
trừ trường hợp những người này yêu cầu hoặc đồng ý để Tòa án xét xử vắng mặt họ. Sự

Nên chăng chúng ta triển khai nghiên cứu cơ chế để tìm kiếm khả năng tiếp thu và vận
dụng cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta.
3. Vấn đề liên quan đến chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại.
Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại là chế định thể hiện tính dân chủ, sự tôn
trọng và cảm thông trước sự thiệt hại, mất mát, đau đớn của người bị hại. Quá trình áp
dụng cho thấy chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đã phát huy hiệu
quả, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên so với
yêu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, chế định này cũng đã bộc
lộ một số bất cập cần hoàn thiện theo hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu để mở rộng hơn nữa phạm vi các tội mà cơ quan có thẩm
quyền chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Theo chúng tôi nên mở rộng
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

15


đối với các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm và chỉ áp dụng
đối với các tội ít nghiêm trọng.
Thứ hai, nghiên cứu để bổ sung các quyền của người bị hại trong giai đoạn trước xét
xử, theo hướng cho phép người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền
thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án nếu không thuộc bí mật nhà nước
để phục vụ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
Thứ ba, cần quy định cụ thể thủ tục tố tụng riêng cho trường hợp khởi tố theo yêu
cầu của người bị hại. Theo thủ tục này nên quy định theo hướng chỉ có người bị hại mới
có quyền đưa một người ra xét xử tại phiên tòa, và tất nhiên ở đây quyền công tố không
còn nữa. Sự tham gia phiên tòa của viện kiểm sát lúc này chỉ thực hiện chức năng giám
sát việc tuân theo pháp luật chứ không thực hiện chức năng buộc tội. Tòa án đưa vụ án
ra xét xử trên cơ sở đề nghị của người bị hại. Tại phiên tòa kiểm sát viên không đọc bản
cáo trạng mà người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời cáo buộc
của mình trước khi tiến hành xét hỏi. Kiểm sát viên cũng không trình bày lời luận tội

7) Bộ luật dân sự 2005
8) Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP ngày
10/8/2005
9) Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BTC-BQP ngày 07/09/2005
10) Nghị quyết số 05/2005 NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của HĐTP TANDTC
11) Website:

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS 2003: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV: 351759

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status