1
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................................................1
NỘI DUNG..........................................................................................................................................................1
1. Giải pháp hoàn thiện pháp luât tố tung hình sự.................................................................................13
2. Một số giải pháp khác.........................................................................................................................15
KẾT LUẬN..........................................................................................................................................................16
PHỤ LỤC...........................................................................................................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................................18
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề bảo đảm làm sao cho người bào chữa thực hiện được những quyền mà
pháp luật tố tụng hình sự quy định là hết sức cần thiết cho việc đảm bảo dân chủ trong
hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù, Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 đã có những quy định hết sức tiến bộ để nâng cao vị trí và vai trò và địa vị
pháp lý của người bào chữa nhưng việc áp dụng và triển khai nó trên thực tế còn nhiều
bất cập hạn chế cần phải khắc phục để người bào chữa thực sự phát huy hiệu quả của
mình trong hoạt động bào chữa. Đồng thời đảm bảo cho người bị tam giam, bị can, bị
cáo có thể thực hiền quyền được bào chữa của mình. Đó chính là lý do tôi lựa chọn
cho mình đề tài: “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và việc
hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào
chữa”
NỘI DUNG
niệm về người bào chữa ở mức độ khái quát hơn “Người bào chữa là một loại người
tham gia tố tụng, có địa vị pháp lý của NBTG, BCBC”
3
. Một trong những lý do dẫn
đến việc các tác giả trên đề xuất các khái niệm khác nhau về người bào chữa là
BLTTHS năm 2003 không đưa khái niệm cụ thể về người bào chữa. Hệ thống quy
định của BLTTHS năm 2003 chỉ tập trung quy định về chủ thể, quyền và nghĩa vụ, lựa
chọn và thay đổi người bào chữa trong TTHS. Theo đó Điều 56 BLTTHS năm 2003
quy định người bào chữa có thể là: Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tam
giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân.
2.1. Luật sư
Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham
gia TTHS theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật.
4
Theo quy định của pháp luật TTHS và theo Luật Luật sư năm 2006, một người
muốn trở thành luật sư bào chữa trong TTHS phải đủ điều kiện hành nghề theo quy
định của Luật luật sư 2006 và được NBTG, BCBC hay người đại diện hợp pháp yêu
cầu hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của NBTG, BCBC. Luật luật sư năm 2006 quy định người được hành
nghề Luật sự là người đủ tiêu chuẩn, điều kiện sau: là công dân Việt Nam, trung thành
với tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luât, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời
gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe đảm bảo hành nghề luật sư, được cáp chứng
chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập đoàn luật sư.
1
Điều 11 BLTTHS
2
Trần Văn Bảy, “Người bào chữa trong TTHS”, tạp chí khao học pháp lý số 01/2001.
3
Phạm Văn Thiệu, “Về người bào chữa trong TTHS”, tạp chí tòa án nhân sân số 06/2008.
định khác đối với NBTG, BCBC là người có quốc tịch nước ngoài, người không có
quốc tịch, hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài. Như vậy, BLTTHS năm 2003 không
quy định rõ khái niệm người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC. Trong khoa học
pháp lý hiện nay, vẫn có hai luồng ý kiến về vấn đề nay. Quan điểm thứ nhất cho rằng,
người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC là người đại diện theo pháp luật. Nhưng
theo quan điểm thứ hai, người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC có thể là người
đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.
Các luật gia có quan điểm thứ nhất cho rằng, người đại diện theo pháp luật của
NBTG, BCBC là đối tượng duy nhất được coi là “người đại diện hợp pháp của
NBTG, BCBC” để tham gia TTHS với tư cách người bào chữa.
Dựa trên các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005(BLDS) về người đại diện
theo pháp luật, theo quan điểm này, người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC là cha
mẹ hoặc người giám hộ của NBTG, BCBC chưa thành niên hoặc người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất. Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên hoặc
người giám hộ được cử.
5
Những người theo quan điểm thứ hai lại diễn giải khái niệm người đại diện hợp
pháp của NBTG, BCBC có nghĩa là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện
theo ủy quyền của NBTG, BCBC. Theo quy định của BLDS 2005, người đại diện theo
ủy quyền là người đại diện được xác lập theo quy định ủy quyền giữa người đại diện
và người đại diện và người được đại diện. Như vậy, người đại diện theo ủy quyền có
5
Phụ lục 1
1. Những quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của
người bào chữa
1.1. Quyền có mặt khi lấy lời khai của NBTG, khi hỏi cung BC và nếu ĐTV
đồng ý thì được hỏi NBTG, BC và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem
các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng
liên quan đến người mình bào chữa.
Đây là quy định mở rộng sự tham gia của người bào chữa trong các hoạt động
điều tra. Việc tham gia này của người bào chữa trong hoạt động hỏi cung có ý nghĩa
trợ giúp ban đầu đối với NBTG, BCBC. Sự có mặt của người bào chữa khi lấy lời
khai, khi hỏi cung giúp cho NBTG, BCBC được ổn định về mặt tâm lý hơn khi trả lời
những câu hỏi của ĐTV. Điều này sẽ giúp hạn chế tình trạng do quá sợ hãi hoặc thiếu
hiểu biết, NBTG, BCBC khai không đúng với thực tế vụ án. Ngoài ra, với sự am hiểu
pháp luật của mình người bào chữa còn có thể giúp NBTG, BCBC nhìn ra những điểm
6
Phụ lục 2
1
2
sơ hở, thiếu chặt chẽ trong biên bản ghi lời khai, giúp NBTG, BCBC khai lại, giải
thích lại đúng với sự thật vụ án. Sự tham gia của người bào chữa ngay trong hoạt động
lấy lời khai, hỏi cung còn bảo đảm cho những hoạt động này được tiến hành đầy đủ,
tuân thủ pháp luật hơn. Bởi lẽ, sự có mặt, tham gia của người bào chữa, những người
tiến hành tố tụng sẽ thận trọng và làm việc đúng pháp luật hơn. Trên thực tế, đã có
những trường hợp khi không có sự tham gia của người bào chữa, ĐTV rất dễ duy ý
tin về địa điểm và thời gian hỏi cung bị can để có sự chủ động cần thiết. Đây là thông
tin mà người bào chữa cần được cung cấp từ phía cơ quan điều tra, giúp họ có thể kịp
thời chuẩn bị và sắp xếp để thực hiện quyền có mặt trong các hoạt động điều tra theo
quy định của pháp luật TTHS, BLTTHS năm 2003 đã khắc phục thiếu sót của
1
2
BLTTHS 1988 khi quy định thêm quyền được đề nghị cơ quan điều tra báo trước về
thời gian và địa điểm hỏi cung bị can của người bào chữa. Đây cũng là điểm mới tiến
bộ và hợp lý của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988.
1.3. Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch
Với mục đích đảm bảo sự công bằng khách quan của quá trình giải quyết vụ án
BLTTHS năm 2003 quy định những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến
hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng khác nếu có dấu hiệu cho thấy họ không thể
vô tư khách quan. Một trong những chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành
tố tụng và tham gia tố tụng khác là người bào chữa. Người bào chữa nếu xét thấy việc
tham gia của người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch có thể không
khách quan vô tư, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình, có thể
dựa vào những căn cứ luật định đề nghị thay đổi những người này.Đối với người tiến
hành tố tụng, những căn cứ này được quy định tại Điều 42 BLTTHS năm 2003
7
. Đối
với người giám định, họ phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một
1
2
Những tài liệu, đồ vật này thường là theo hướng có lợi cho NBTG, BCBC.
Người bào chữa có thể đưa ra những yêu cầu trong các giai đoạn tố tụng khác nhau
như: yêu cầu cơ quan điều tả bổ sung chứng cứ, yêu cầu triệu tập thêm người làm
chứng, yêu cầu giám định hoặc giám định lại nếu có căn cứ cho rằng kết quả giám
định trước đó không đúng sự thật, yêu cầu hoãn phiên tòa,… Người bào chữa phải
xem xét tính hợp lý và quan trọng là phải có lợi đối với việc bào chữa cho NBTG,
BCBC để đưa ra những đồ vật, tài liệu, yêu cầu của người bào chữa. Sự bảo đảm này
được luật hóa tại Điều 122 BLTTHS năm 2003:
“Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên quan đến vụ án
thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết
yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả. Trong trường hợp không chấp nhận yêu
cầu thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do.
Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm
sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại…”
1.6. Quyền gặp người bị tam giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam
Người bào chữa muốn thực hiện tốt chức năng của mình cần phải tiếp xúc trực
tiến với NBTG, BCBC chứ không chỉ tìm hiểu vụ án qua các chứng cứ, tài liệu được
cơ quan điều tra cung cấp. Việc gặp gỡ thường xuyên, trao đổi với NBTG, BCBC giúp
cho người bào chữa biết rõ tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân cũng như diễn
biến tâm lý của người được bào chữa và những tâm tư, nguyện vọng của họ. Người
bào chữa cũng tìm hiểu được nguyên nhân, động cơ, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội
nếu NBTG, BCBC thực sự có phạm tội. Từ đó, người bào chữa có thể xác minh lại