1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo sự tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tác giả
Trần Văn Hiển
1
2
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
2
Viết tắt
4
MỤC LỤC
Trang
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng
như Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã xác định chức năng, nhiệm vụ cơ bản
VKSND: “VKSND THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp;VKSND có nhiệm vụ
bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp
phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.[37]
Trong điều kiện hiện nay, khi tình hình kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi,
nền kinh tế nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước thì yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trở nên
rất quan trọng. Do đó, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành
nhiều Chỉ thị, Nghị quyết nhằm nhấn mạnh đến công cuộc cải cách hệ thống các cơ
quan tư pháp trong đó có VKS, nhằm đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu cải cách tư pháp.
Công cuộc này được mở đầu bằng Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02.01.2002 của
Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp. Nghị quyết đã chỉ rõ:
“Nâng cao chất lượng hoạt động của VKS theo chức năng quy định trong Hiến
pháp, tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Việc
điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ của VKS nhân dân là một nhiệm vụ trọng tâm
trong cải cách tư pháp”[4]. Tiếp đến là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24.5.2005
của Bộ Chính trị về hoàn thiện pháp luật và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật TTHS của VKS đã bộc lộ những bất
cập của các quy định trong BLTTHS cũng như hạn chế trong việc áp dụng pháp luật
giải quyết vụ án hình sự, vẫn còn để xảy ra tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi
phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân. Việc oan, sai này xảy ra ở những giai
đoạn khác nhau của quá trình tố tụng, có thể từ khi bắt đầu các thủ tục tố tụng như
khởi tố vụ án, khởi tố bị can, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đến giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử... Về nguyên tắc, mọi tội phạm và người thực hiện hành vi
bị coi là tội phạm đều phải bị xử lí về hình sự. Nhưng việc xử lí thế nào để đảm bảo
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh việc oan, sai là điều hết sức cần thiết.
6
Trước thực trạng đó, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện, đầy
đủ về chức năng, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giải quyết các
vụ án hình sự không chỉ dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật TTHS mà
phải kết hợp với đánh giá thực tiễn hoạt động của VKS trong những năm gần đây.
Từ đó tìm ra những tồn tại, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục, góp
phần nâng cao hơn nữa địa vị pháp lý của VKS trong việc giải quyết các vụ án hình
sự đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Viện kiểm
sát trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” làm đề tài nghiên cứu của
Luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những chủ thể của TTHS có vai trò quan trọng đối với việc truy
cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh
pháp luật TTHS của quá trình giải quyết vụ án hình sự nên nghiên cứu về địa vị
pháp lý của VKS và các vấn đề có liên quan được nhiều nhà khoa học, người làm
công tác thực tiễn trong ngành Kiểm sát quan tâm nghiên cứu. Việc nghiên cứu
trong phạm vi gần hoặc trực tiếp về địa vị pháp lý của VKS trong TTHS đã được
một số sách, báo, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập như: Tội phạm
của VKS trong TTHS. Trên cơ sở phân tích cụ thể các quy định của BLTTHS về vị
trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong các giai đoạn của vụ án hình sự
cùng với thực tiễn thi hành các quy định về địa vị pháp lý của VKS trong TTHS ở
địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2010 đến năm 2014. Qua đó kiến nghị đề xuất giải
pháp để hoàn thiện về địa vị pháp lý của VKS trong TTHS ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu lý luận để khái quát và làm sáng tỏ: Khái niệm, đặc điểm, bản
chất, nội dung cơ bản về địa vị pháp lý của VKS trong TTHS;
- Phân tích thực trạng địa vị pháp lý của VKS trong hoạt động khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự tại VKSND tỉnh Hải Dương (từ năm 2010 2014), rút ra những ưu điểm, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế đó;
- Đề xuất kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp
8
khác về địa vị pháp lý của VKS trong TTHS nhằm nâng cao địa vị pháp lý của VKS
trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Một số vấn đề về lý luận, các quy định
của pháp luật về địa vị pháp lý của VKS trong TTHS ở nước ta hiện nay và thực
tiễn thực hiện hoạt động này trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Địa vị pháp lý của VKS trong THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự từ năm 2010 đến
năm 2014 trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng những phương pháp nghiên cứu
khoa học như: Thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, dựa trên các quy phạm pháp
luật hiện hành, các tài liệu, sách báo liên quan, kết hợp với đánh giá thực tiễn,….
6. Điểm mới và ý nghĩa của luận văn
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, bản chất về địa vị pháp lý của Viện Kiểm sát
1.1.1. Khái niệm về địa vị pháp lý của Viện Kiểm sát
1.1.1.1. Địa vị pháp lý của Viện Kiểm sát trong phạm vi quy định của pháp
luật thực định.
Trong tiếng Việt, địa vị được hiểu là: vị trí trong quan hệ xã hội [18], vị trí
này được xem xét dưới sự tác động của các mối quan hệ xã hội và nó được quyết
định bởi khá nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, vai trò của nó trong đời sống xã
hội… Riêng đối với các chủ thể là các cơ quan nhà nước yếu tố quan trọng nhất quy
định nên địa vị của nó chính là các quy định của pháp luật. Vì pháp luật phải quy
định một cách cụ thể chức năng, phạm vi thẩm quyền..., tránh sự chồng chéo, trùng
lặp giữa chủ thể này với chủ thể khác trong quan hệ quản lý.
Còn khái niệm pháp lý được hiểu, không chỉ là các quy định của pháp luật
thực định mà nó còn bao gồm các tư tưởng, học thuyết, trường phái pháp lý, các yếu
tố khách quan như: kinh tế, chính trị, xã hội…
Chính vì vậy, người ta không gọi là địa vị pháp luật mà là địa vị pháp lý. Vậy
nó có những điểm khác biệt gì? Có thể thấy, trong các điều kiện thông thường, địa
vị pháp lý của các cơ quan, tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các quy định của pháp
luật thực định. Nhưng thực tế cho thấy, trong phạm vi hoạt động của mình, các cơ
quan nhà nước vốn được sinh ra là để phục vụ những nhu cầu của cuộc sống người
dân. Và đối với đời sống thực tế, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn là không
phụ thuộc vào các quy định của pháp luật và chính bản thân pháp luật cũng không
thể lường hết được các phạm vi hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức nên vẫn phải
quy định các phạm vi “ mở” nhất định cho mỗi cơ quan, tổ chức. Do đó, về lý
thuyết, chúng ta phải thừa nhận những phạm vi mà luật không thể quy định hết
được nên nó phải có tính mở đối với các quy định của mình. Tuy nhiên, việc quy
định phạm vi mở này phải dựa trên những nguyên tắc hay cơ sở của luật thực định
11
12
- Mối quan hệ của các quy phạm pháp luật và quy phạm xã hội trong việc
xác định địa vị của chủ thể. Từ góc độ của khoa học pháp lý có thể thấy rằng địa vị
pháp lý được quyết định chủ yếu bởi các quy định của pháp luật thực định. Điều
này có nghĩa là, không thể xác định được vị trí của bất cứ một cơ quan nhà nước
nào mà không xem xét nó dưới các quy định của luật thực định. Bởi pháp luật chính
là cơ sở quan trọng bậc nhất cho việc hình thành các chức năng, nhiệm vụ của các
cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, việc chúng ta chỉ dựa vào những đặc điểm mô tả từ
khía cạnh xã hội nó sẽ dẫn đến tình trạng thầy bói xem voi, vì khi tiếp cận chúng từ
mỗi phương diện khác nhau thì đều có những đặc trưng khác nhau. Chẳng hạn, khi
tiếp cận VKS dưới góc độ cơ quan quyền lực nhà nước thì chúng ta sẽ thấy hiện
hữu các chức năng thực hiện quyền lực như: Khởi tố vụ án, truy tố người phạm tội,
kiểm sát hoạt động xét xử… Nhưng khi tiếp cận VKS dưới góc độ là một thiết chế
tổ chức quyền lực công thì chúng ta lại thấy các đặc điểm về: tổ chức bộ máy, nhân
sự, vấn đề ngạch, bậc công chức, các vấn đề về sử dụng ngân sách nhà nước… Do
đó, các quy phạm pháp luật chính là các khuôn mẫu chính xác nhất để xác định địa
vị của bất cứ một chủ thể quyền lực Nhà nước nào thông qua hệ thống các quy
phạm của pháp luật thực định.
- Phạm vi của địa vị pháp lý rộng hơn các quy định của pháp luật thực định.
Khi đánh giá về địa vị pháp lý nhiều người đã đồng nhất địa vị pháp lý của chủ thể
với các quy định về chức năng, thẩm quyền.., của chủ thể đó. Điều này thực sự là
không chính xác, thực tế khi nghiên cứu về lý luận nhà nước và pháp luật chúng ta
thấy, không thể liệt kê một cách rành mạch các thẩm quyền của quyền lập pháp,
quyền tư pháp và đặc biệt là quyền hành pháp trong một hệ thống quyền lực. Từ
cách tiếp cận như vậy, có thể thấy thực trạng VKS nước ta là một bộ phận cấu thành
quan trọng của phạm vi quyền tư pháp chính vì cũng không thể nói rằng chỉ những
quy định của các quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của VKS mới là căn cứ xác định địa vị pháp lý của VKS. Mà địa vị pháp lý của
về thẩm quyền. Mà thực tiễn cho thấy, thẩm quyền của VKS hay các cơ quan quyền
lực nhà nước không chỉ nằm trong phạm vi quy định của pháp luật thực định mà nó
còn chịu sự tác động của các quy phạm xã hội khác. Bởi các cơ quan này vốn được
sinh ra là để bảo đảm trật tự xã hội, phục vụ cuộc sống của nhân dân. Do đó, địa vị
14
pháp lý của VKS hay bất kỳ cơ quan, tổ chức quyền lực nào đều không thể đồng
nhất với phạm vi mà những nhà làm luật nghĩ ra (pháp luật) để quy định nên chúng.
Mà phạm vi đó phải rộng hơn các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm yêu cầu xã
hội, thực hiện nghĩa vụ phục vụ nhân dân, những chủ thể đã gửi gắm quyền lực của
mình vào các cơ quan đó.
1.1.1.2. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát từ trong mối quan hệ giữa quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp
Tiếp cận về địa vị pháp lý của VKS dưới góc độ của các lý thuyết về phân
chia quyền lực. Chúng ta thấy, dưới những cách nhìn nhận khác nhau thì vị trí của
VKS sẽ thuộc về mỗi nhánh quyền lực khác nhau. Cụ thể:
- Một số nước cho rằng hoạt động điều tra, truy tố người phạm tội là hoạt
động thi hành pháp luật. Cho nên, thẩm quyền công tố đương nhiên thuộc về cơ
quan hành pháp và VKS phải được tổ chức nằm trong nhánh cơ quan hành pháp.
Những nước theo quan điểm này gồm: Pháp, Mỹ, Đức,…
- Ngược lại, một số quan điểm khác lại cho rằng khởi tố, điều tra, truy tố tội
phạm, kiểm sát các hoạt động tư pháp là các thẩm quyền đặc biệt thuộc phạm vi của
quyền tư pháp. Do đó, VKS phải được bố trí thuộc về hệ thống các cơ quan tư pháp
mới hợp lý. Những nước theo quan điểm này gồm: Liên bang Nga, Bê-la-rút,
Hungary, Việt Nam…
Do đó, theo mỗi cách hiểu khác nhau dưới góc độ phân quyền, VKS có thể là
cơ quan tư pháp nhưng cũng có thể là cơ quan hành pháp. Từ quan niệm này có thể
thấy khi đánh giá về vị trí của cơ quan kiểm sát có thể thuộc về quyền hành pháp và
cũng có thể thuộc về cơ quan tư pháp nó phụ thuộc vào những lý thuyết pháp lý
Từ những phân tích trên có thể đưa ra kết luận Địa vị pháp lý của VKS trong
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là tổng hợp các quy định pháp luật xác định vị
trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong quan hệ tố tụng hình sự đó. Tuy
nhiên, Địa vị pháp lý của VKS phụ thuộc vào cách thức tổ chức Bộ máy nhà nước
của mỗi quốc gia cụ thể và được quyết định bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã
hội nhất định của mỗi quốc gia.
1.1.2. Bản chất về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát
Thực tế cho thấy rằng, địa vị pháp lý của VKS bắt nguồn từ khả năng của
mỗi cá nhân trong xã hội, mọi người thấy rằng mỗi cá nhân khó có cơ hội tự bảo vệ
16
mình trước những sự xâm hại trong mối quan hệ của pháp luật hình sự. Bởi sự hạn
chế về năng lực, các điều kiện sức khỏe, trình độ, nhận thức, nghiệp vụ và phương
tiện kỹ thuật…, đã không cho phép mỗi cá nhân có thể tự mình thu thập chứng cứ
để khởi kiện một người khác khi họ bị xâm hại trong mọi quan hệ pháp luật. Đặc
biệt là trong quan hệ pháp luật hình sự và trường hợp bị coi là bất khả thi nếu người
bị hại mà đã bị người phạm tội giết thì chắc chắn rằng họ hoàn toàn không có cơ hội
tự bảo vệ mình bằng con đường pháp luật. Do đó, việc bảo vệ các cá nhân và xã hội
trong quan hệ pháp luật hình sự cần phải được Nhà nước đứng ra đảm nhận. Tuy
nhiên, Nhà nước với rất nhiều công việc nên cũng phải cần có một cơ quan chuyên
trách thay mặt họ làm công việc này và với bộ máy được biên chế và có nghiệp vụ VKS ở mỗi quốc gia được thay mặt Nhà nước làm nhiệm vụ khởi tố vụ án và truy tố
người phạm tội, đồng thời thay mặt Nhà nước giữ quyền công tố tại Tòa án. Đó là
những chức năng chủ yếu và nguyên thủy của các VKS trên thế giới.
Tuy nhiên, với hoàn cảnh thực tế của mỗi quốc gia khác nhau thì việc quy
định chức năng, địa vị pháp lý của VKS ở mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau,
nghĩa là không phải mọi quốc gia đều áp dụng chung những thẩm quyền của VKS
giống nhau. Có những nước thì VKS có thêm thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tư
pháp (như nước ta hiện nay và một số nước Đông Âu) hay ở các nước thừa nhận
phạm vi thẩm quyền hẹp thì VKS có những phạm vi thẩm quyền hẹp hơn và địa vị
trách nhiệm của Công tố trong hoạt động điều tra. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi
của thực tế hiện nay, khi chúng ta đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1992, việc chuyển
đổi VKS thành Viện Công tố đã không thể thực hiện được. Điều 107 quy định về
chức năng, nhiệm vụ của VKS trong Hiến pháp (2013) đã được mở rộng hơn so với
lần sửa đổi năm 2001 trước đó. Do đó, thẩm quyền của VKS hiện nay không hề
giảm đi mà còn được tăng lên. Cụ thể, trong Hiến pháp hiện hành đã ghi nhận:
“1. VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
2. VKSND gồm VKSNDTC và các VKS khác do luật định.
3. VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân;
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; góp
phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.”[36]
18
Từ những vấn đề cấp thiết trên, yêu cầu đặt ra là: Cần đánh giá xem địa vị
pháp lý của VKS trong hoạt động TTHS ở nước ta hiện nay được xác định trên cơ
sở có phù hợp với các yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN. Chính vì vậy, việc
đánh giá địa vị pháp lý của VKS như hiện nay là phù hợp và đáp ứng các yêu cầu
của khoa học và thực tiễn cũng là những yêu cầu không kém phần quan trọng.
Xét về mặt khoa học việc xác định địa vị pháp lý của VKS trong hoạt động
TTHS ở nước ta hiện cũng đang gặp nhiều tranh cãi. Cụ thể, từ thực tiễn theo các
quy định của pháp luật nước ta thời gian qua. Thẩm quyền thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong TTHS của VKS nước ta trong nhiều thời
điểm, theo mỗi văn bản khác nhau là khác nhau và thiếu thống nhất. Điều này
chứng tỏ rằng nó chưa có những cơ sở khoa học vững chắc để luận giải một cách
thống nhất về địa vị pháp lý của VKS trong hoạt động này. Có nhiều quan điểm cho
rằng nên mạnh dạn chuyển đổi mô hình VKS nước ta hiện nay thành mô hình Viện
Công tố. Nghĩa là, thu hẹp phạm vi các chức năng kiểm sát và tập trung chủ yếu vào
chức năng công tố. Trong trường hợp này, VKS được hiểu là cơ quan có thẩm
quyền hẹp (như đã trình bày ở trên)…
trước đây thì thừa nhận thẩm quyền rộng của VKS, nghĩa là ngoài chức năng: “truy
tố người phạm tội hình sự, giữ quyền công tố tại Tòa án, giám sát chế độ giam giữ
tại các trại giam” thì còn có thêm: chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật và
chỉ đạo hoạt động điều tra. Lý giải việc hình thành nên sự khác biệt này, có quan
điểm cho rằng đó là: Do nước ta cũng như nước Nga và các nước Đông Âu trước
đây “Văn hóa pháp lý không phát triển, ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật thấp,
tình trạng coi thường pháp luật vẫn phổ biến, xã hội dân sự không phát triển... Vì
vậy, nhà nước vẫn cần có một cơ chế giám sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm
pháp chế được tôn trọng“[57].
Từ những phân tích trên có thể đưa đến một số kết luận cơ bản về bản chất địa
vị pháp lý của VKS là: “VKS là cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước, thay mặt
Nhà nước, thực hiện hoạt động truy tố người phạm tội hình sự, giữ quyền công tố tại
Tòa án, giám sát chế độ giam giữ tại các trại giam”, ngoài ra tùy theo quy định của
pháp luật của từng quốc gia mà VKS có thể có thêm thẩm quyền: “giám sát việc tuân
theo pháp luật và chỉ đạo hoạt động điều tra” hay một số ngoại lệ khác.
20
1.2. Những nội dung cơ bản về tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay
1.2.1. Khái niệm tố tụng hình sự
Trong Hán Việt từ điển, học giả Đào Duy Anh có giải thích: "tố tụng" là việc
thưa kiện (procès) ra tòa. Thời Pháp thuộc, người ta bắt đầu dùng hai chữ "tố tụng"
để dịch chữ "procédure" (chữ Pháp procédure hay chữ Anh procedure đều bắt
nguồn từ chữ La tinh processus nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục) [29].
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tố tụng” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Nghĩa thứ nhất: tố tụng là việc thưa kiện hoặc luật về thủ tục; nghĩa thứ hai: thuật
ngữ “tố tụng” được dùng để chỉ ngành luật về thủ tục hay bản thân thủ tục giải
quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật thường là ở Tòa án [28].
Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ tố tụng được ghép với tên một ngành luật
cụ thể, tạo thành các thuật ngữ pháp lý như TTHS, tố tụng dân sự, tố tụng hành
đoạn xét xử và thi hành bản án hình sự.
Luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu giai đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra,
giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử vụ án hình sự
1.2.2.1. Khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn TTHS đầu tiên mà trong đó cơ quan tư
pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành
việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm
cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc
không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó.
Vai trò và ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện trên các bình diện chủ yếu
như sau: Một mặt, khởi tố vụ án hình sự là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà
nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một
cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội, đồng thời
không chỉ là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự mà còn là
phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong
thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm; Mặt khác, khởi tố vụ án
hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong hoạt động tư pháp hình sự,
ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố vụ án hình sự một cách thiếu
cân nhắc kỹ, vội vàng và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo
22
trong việc truy cứu TTHS ở các giai đoạn TTHS tiếp theo sau (như: Điều tra không
có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặc nói
chung là không diễn ra trong thực tế khách quan, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội,
xét xử một cách vô căn cứ và trái pháp luật, làm oan những người vô tội);
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS cơ bản và quan trọng để tăng
cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và
áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn
TTHS khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
đoạn độc lập, giai đoạn truy tố có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật
định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà
CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của VKS được
chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng
người và đúng pháp luật.
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi VKS nhận được các tài liệu
của vụ án hình sự (kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển
đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can
trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ
sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng.
1.2.2.4. Giai đoạn xét xử vụ án hình sự
Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư, là giai đoạn trung tâm và quan trọng
nhất của hoạt động TTHS, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các
quy định của pháp luật TTHS tiến hành:
1) Áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử;
2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất
vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên
(buộc tội và bào chữa) phán xét về tính chất của hành vi tội phạm, bị cáo có tội hay
không có tội; hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định
sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng
nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu
lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định
đó bị kháng nghị; và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực
24
pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng
pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục.
Xét xử là một giai đoạn TTHS để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và
tự do của công dân của Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp hình sự của